Di tích lịch sử

Việt Nam
Đền thờ Sát Hải Đại Vương Hoàng Tá Thốn

Đền thờ Sát Hải Đại Vương Hoàng Tá Thốn

Đền thờ Sát Hải Đại Vương Hoàng Tá Thốn tọa lạc tại xóm Vạn Tràng, xã Hợp Minh, tỉnh Nghệ An. Đây là di tích lịch sử - văn hóa tiêu biểu, thờ Sát Hải Đại Vương Hoàng Tá Thốn (1254 – 1339), vị danh tướng triều Trần có nhiều công lao trong cuộc kháng chiến chống quân Nguyên – Mông, đặc biệt là chiến thắng Bạch Đằng năm 1288. Sau đại thắng, ông được giao thống lĩnh thủy binh, trấn giữ các cửa biển, bảo vệ vùng duyên hải và góp phần giữ vững bờ cõi Đại Việt. Ngôi đền được xây dựng trên vùng đất gắn với cuộc đời và sự nghiệp của ông. Trải qua nhiều thế kỷ, di tích vẫn lưu giữ được kiến trúc truyền thống với các hạng mục như cổng đền, bái đường, thượng điện cùng nhiều hiện vật, đồ thờ và hệ thống chạm khắc gỗ có giá trị, phản ánh nghệ thuật kiến trúc và tín ngưỡng đặc sắc của vùng đất xứ Nghệ. Đây không chỉ là nơi sinh hoạt tín ngưỡng của nhân dân mà còn là địa chỉ giáo dục truyền thống yêu nước và đạo lý "Uống nước nhớ nguồn". Hằng năm, từ ngày 11 đến 16 tháng 6 âm lịch, tại đền diễn ra Lễ hội Đền Hoàng Tá Thốn với các nghi lễ truyền thống như khai quang, yết cáo, rước kiệu, dâng hương và tế lễ, cùng nhiều hoạt động văn hóa, văn nghệ, thể thao dân gian. Lễ hội là dịp tưởng nhớ công lao của vị danh tướng, đồng thời góp phần gìn giữ, phát huy các giá trị văn hóa truyền thống và thu hút đông đảo nhân dân, du khách thập phương về tham dự. Nguồn: Theo Cổng Thông tin điện tử xã Hợp Minh, Nghệ An

Nghệ An

10 lượt xem

Xếp hạng : Di tích cấp quốc gia

Mở

Đình Hoành Sơn

Đình Hoành Sơn

Đình Hoành Sơn – Kiệt tác kiến trúc gỗ bên dòng Lam Giang. Tọa lạc tại xã Nam Đàn, tỉnh Nghệ An (trước đây thuộc xã Khánh Sơn, huyện Nam Đàn), đình Hoành Sơn là một trong những ngôi đình cổ tiêu biểu của xứ Nghệ, nổi tiếng với nghệ thuật kiến trúc và điêu khắc gỗ đặc sắc. Đình được xây dựng vào năm 1763 dưới thời vua Lê Hiển Tông và hoàn thành vào năm 1764. Đây là nơi thờ Uy Minh Vương Lý Nhật Quang – con trai thứ tám của vua Lý Thái Tổ, vị danh thần có nhiều công lao trong việc phát triển vùng Nghệ An. Đình Hoành Sơn được xây dựng trên khuôn viên rộng khoảng 2.500 m², bên hữu ngạn sông Lam. Công trình gồm 7 gian, 8 vì, với 32 cột gỗ lim lớn, kết cấu theo lối chồng diêm truyền thống, mái lợp ngói âm dương. Trải qua hơn 260 năm, ngôi đình vẫn giữ được dáng vẻ uy nghiêm cùng hệ thống khung gỗ bền vững, thể hiện trình độ kỹ thuật xây dựng tài hoa của các nghệ nhân xưa. Điểm nổi bật nhất của đình Hoành Sơn là nghệ thuật chạm khắc gỗ đạt đến trình độ tinh xảo. Hàng trăm mảng chạm trên kèo, cột, con rường và ván dong khắc họa sinh động các đề tài tứ linh, tứ quý, lưỡng long chầu nguyệt, trúc điểu, mai điểu, cùng nhiều hoạt cảnh đời sống như cày cấy, đánh cá, chèo thuyền, lễ hội và các điển tích dân gian. Những mảng chạm được thể hiện bằng kỹ thuật chạm bong kênh, chạm lộng mềm mại, vừa mang giá trị nghệ thuật, vừa phản ánh đời sống văn hóa của cư dân vùng sông Lam thế kỷ XVIII. Với giá trị nổi bật về lịch sử, kiến trúc và nghệ thuật điêu khắc, đình Hoành Sơn được xếp hạng Di tích quốc gia đặc biệt. Theo : Báo và Phát thanh, Truyền hình Nghệ An

Nghệ An

50 lượt xem

Xếp hạng : Di tích cấp quốc gia đặc biệt

Mở

Đền Hào Kiệt

Đền Hào Kiệt

Đền Hào Kiệt – Di tích lịch sử gắn với danh tướng Phan Công Tích Đền Hào Kiệt tọa lạc tại xã Hợp Minh, tỉnh Nghệ An, là một di tích lịch sử có giá trị, gắn liền với đời sống văn hóa, tín ngưỡng của người dân địa phương. Ngôi đền được xây dựng để thờ Thái úy Lai Quốc công Phan Công Tích, vị danh tướng có nhiều công lao trong sự nghiệp trung hưng nhà Lê. Ngoài ra, đền còn phối thờ Kế Quận công Phan Công Ngạn, Cao Sơn Cao Các và một số nhân vật được nhân dân tôn kính. Theo các tư liệu lịch sử và gia phả dòng họ Phan, Phan Công Tích (còn gọi là Phan Hoằng Tích) sinh ra trong một gia đình nhiều đời làm quan ở vùng Yên Thành. Trong thời kỳ Nam – Bắc triều, ông sớm hưởng ứng phong trào phò Lê chống nhà Mạc, góp công đưa vua Lê Trang Tông trở lại ngôi vị, trở thành một trong những vị tướng trụ cột của triều Lê Trung Hưng. Ông trực tiếp chỉ huy nhiều trận đánh quan trọng tại Thanh Hóa, Nghệ An và được giao kinh lý vùng Thuận Hóa nhằm ổn định tình hình biên cương. Với những đóng góp lớn lao, ông được phong tước Lai Quốc công, giữ chức Thái úy và nhiều lần được các triều Lê, Nguyễn ban sắc phong. Sau khi Thái úy Phan Công Tích qua đời, triều đình ban đất để nhân dân lập đền thờ tưởng niệm. Trải qua nhiều thế kỷ, Đền Hào Kiệt không chỉ là nơi thờ phụng vị anh hùng có công với đất nước mà còn là trung tâm sinh hoạt văn hóa, tín ngưỡng của cộng đồng. Trong tâm thức người dân, ông là vị thần linh thiêng luôn che chở, phù hộ cho cuộc sống bình yên, mùa màng thuận lợi và quốc thái dân an. Năm 2023, Đền Hào Kiệt được Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch xếp hạng Di tích lịch sử cấp Quốc gia, ghi nhận những giá trị tiêu biểu về lịch sử, văn hóa và tín ngưỡng của di tích. Hằng năm, từ ngày 8 đến 12 tháng Hai âm lịch, địa phương tổ chức Lễ hội Đền Hào Kiệt để tưởng nhớ công lao của Thái úy Phan Công Tích. Phần lễ diễn ra trang nghiêm với các nghi thức rước kiệu, dâng hương và tế lễ truyền thống, cầu cho quốc thái dân an, mưa thuận gió hòa. Phần hội sôi nổi với nhiều hoạt động văn hóa, thể thao và trò chơi dân gian như bóng chuyền, kéo co, đẩy gậy, nhảy bao bố..., góp phần bảo tồn bản sắc văn hóa và tăng cường tinh thần đoàn kết cộng đồng. Theo: Cổng Thông tin điện tử xã Hợp Minh, tỉnh Nghệ An.

Nghệ An

68 lượt xem

Xếp hạng : Di tích cấp quốc gia

Mở

Nghĩa trang Liệt sĩ Quốc tế Việt – Lào

Nghĩa trang Liệt sĩ Quốc tế Việt – Lào

Nghĩa trang Liệt sĩ Quốc tế Việt – Lào Nghĩa trang Liệt sĩ Quốc tế Việt – Lào nằm tại xã Anh Sơn, tỉnh Nghệ An, bên Quốc lộ 7 dẫn lên cửa khẩu Nậm Cắn. Đây là nghĩa trang duy nhất của Việt Nam mang tên hai quốc gia, là biểu tượng của tình đoàn kết đặc biệt và liên minh chiến đấu Việt Nam – Lào. Công trình được xây dựng năm 1976. Đến năm 1982, Đảng và Nhà nước quyết định quy tập hài cốt quân tình nguyện và chuyên gia quân sự Việt Nam hy sinh trên đất Lào về an táng tại đây. Nghĩa trang có diện tích gần 7 ha và hiện là nơi yên nghỉ của gần 11.000 liệt sĩ, trong đó còn hàng nghìn phần mộ chưa xác định được danh tính. Nghĩa trang gồm hai khu A và B với các dãy mộ được quy hoạch trang nghiêm. Trung tâm là tượng đài tưởng niệm, nhà hành lễ và bia đá khắc bài phú bằng hai ngôn ngữ Việt – Lào, ca ngợi tình đoàn kết, sự hy sinh cao cả của quân và dân hai nước trong các cuộc kháng chiến. Đây không chỉ là nơi tưởng niệm các anh hùng liệt sĩ quân tình nguyện và chuyên gia quân sự Việt Nam đã làm nhiệm vụ quốc tế tại Lào, mà còn là địa chỉ đỏ giáo dục truyền thống yêu nước, lòng biết ơn và tình hữu nghị đặc biệt giữa hai dân tộc. Hằng năm, nghĩa trang đón hàng vạn lượt thân nhân, cựu chiến binh và du khách đến dâng hương, tri ân các anh hùng liệt sĩ. Nguồn: Ban Quản lý Nghĩa trang Liệt sĩ Quốc tế Việt – Lào

Nghệ An

93 lượt xem

Xếp hạng : Di tích cấp quốc gia

Mở

Đền thờ Mai Hắc Đế

Đền thờ Mai Hắc Đế

Đền thờ Mai Hắc Đế Đền thờ Mai Hắc Đế thuộc xã Nam Thái, huyện Nam Đàn (nay là Xã Vạn An), tỉnh Nghệ An là quần thể di tích lịch sử tiêu biểu gắn với cuộc đời và sự nghiệp của Anh hùng dân tộc Mai Thúc Loan. Di tích gồm hai khu vực chính là Đền thờ và Miếu – Lăng mộ, tạo thành một quần thể thống nhất trong không gian sơn thủy hài hòa. Theo Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch Nghệ An, Mai Thúc Loan là người khởi xướng cuộc khởi nghĩa Hoan Châu vào năm 713, lãnh đạo nhân dân chống lại ách đô hộ của nhà Đường. Sau khi giành được nhiều thắng lợi, ông lên ngôi Hoàng đế, lấy hiệu Mai Hắc Đế, đặt quốc hiệu Vạn An và xây dựng chính quyền độc lập. Năm 722, trước cuộc tấn công quy mô lớn của quân Đường, cuộc khởi nghĩa thất bại và Mai Hắc Đế qua đời tại vùng núi Hùng Sơn. Để tưởng nhớ công lao của vị anh hùng dân tộc, nhân dân đã lập đền thờ tại vùng đất Vạn An xưa. Đền được xây dựng từ thời Hậu Lê và được đại trùng tu vào năm Minh Mệnh thứ 2 (1821). Công trình tọa lạc trên khu đất cao, phía trước hướng ra sông Lam, gồm các hạng mục như cổng, sân, hạ điện, trung điện, thượng điện cùng tả vu, hữu vu, nổi bật với nghệ thuật chạm khắc truyền thống mang các đề tài tứ linh, tứ quý. Cách đền khoảng 200 m về phía tây là khu Miếu – Lăng mộ Mai Hắc Đế. Di tích được xây dựng theo bố cục "tiền miếu hậu mộ", lăng mộ bằng đá xanh nguyên khối, phía trước nhìn ra sông Lam, phía sau tựa núi Đụn, tạo nên thế "tọa sơn vọng thủy" đặc trưng. Hiện nay, di tích còn lưu giữ nhiều hiện vật có giá trị như tượng thờ, hoành phi, câu đối, hương án và nhiều sắc phong của các triều đại phong kiến dành cho Mai Hắc Đế và Mai Thiếu Đế. Hằng năm, lễ hội Đền Vua Mai được tổ chức từ ngày 13 đến 15 tháng Giêng âm lịch với các nghi lễ truyền thống như rước thủy, rước bộ, dâng hương cùng nhiều hoạt động văn hóa dân gian, nổi bật là hội vật Vua Mai. Nguồn: Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch Nghệ An

Nghệ An

375 lượt xem

Xếp hạng : Di tích cấp quốc gia đặc biệt

Mở

Di tích hang Hỏa Tiễn

Di tích hang Hỏa Tiễn

Hang Hỏa Tiễn là di tích lịch sử quốc gia nằm tại phường Hoàng Mai, tỉnh Nghệ An, ghi dấu sự hy sinh anh dũng của 33 thanh niên xung phong Tổ 4, đơn vị C271, Đội 27 trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước. Đây là một "địa chỉ đỏ" thiêng liêng, nhắc nhớ về tinh thần quả cảm và sự cống hiến của những người trẻ đã ngã xuống vì độc lập, tự do của Tổ quốc. Ngày 28/4/1966, khi đang làm nhiệm vụ khai thác đá, san lấp và bảo vệ tuyến đường sắt Bắc – Nam tại khu vực ga Hoàng Mai, các chiến sĩ bất ngờ gặp trận không kích ác liệt của máy bay Mỹ. Trong lúc trú ẩn tại một hang đá, hai quả tên lửa (rocket) bắn trúng cửa hang, khiến khối lượng lớn đất đá sụp xuống, chôn vùi các chiến sĩ bên trong. Sau nhiều giờ cứu hộ, 33 thanh niên xung phong đã anh dũng hy sinh, phần lớn khi tuổi đời mới mười sáu, mười bảy, đôi mươi. Từ sự kiện bi tráng ấy, hang đá được nhân dân gọi bằng cái tên đầy xúc động Hang Hỏa Tiễn. Trong những năm tháng chiến tranh, khu vực Hoàng Mai là cửa ngõ giao thông chiến lược của miền Bắc với hệ thống đường bộ, đường sắt và đường thủy quan trọng phục vụ chi viện cho chiến trường miền Nam. Các địa danh như ga Hoàng Mai, cầu Hoàng Mai, cầu Rí hay mỏ đá Hoàng Mai thường xuyên trở thành mục tiêu đánh phá ác liệt của không quân Mỹ. Dù phải đối mặt với bom đạn, thiếu thốn và hiểm nguy, những thanh niên xung phong vẫn kiên cường bám trụ với tinh thần "Sống bám cầu, bám đường; chết kiên cường dũng cảm", quyết tâm giữ vững huyết mạch giao thông. Sự hy sinh của 33 thanh niên xung phong đã trở thành biểu tượng sáng ngời của chủ nghĩa anh hùng cách mạng và tinh thần cống hiến của tuổi trẻ Việt Nam. Năm 2003, các anh, chị được Nhà nước truy tặng danh hiệu Liệt sĩ và cấp Bằng Tổ quốc ghi công. Đến năm 2011, Cụm di tích Hang Hỏa Tiễn và Nghĩa trang Liệt sĩ Đường sắt được xếp hạng Di tích lịch sử quốc gia, trở thành nơi tri ân các anh hùng liệt sĩ và giáo dục truyền thống yêu nước cho các thế hệ hôm nay. Ngày nay, Hang Hỏa Tiễn là điểm đến mang ý nghĩa lịch sử và nhân văn sâu sắc. Đến đây, du khách không chỉ được tìm hiểu về một giai đoạn hào hùng của dân tộc mà còn cảm nhận rõ hơn giá trị của hòa bình, độc lập và sự hy sinh to lớn của những thế hệ đi trước vì tương lai của đất nước. Theo báo nhân dân điện tử

Nghệ An

950 lượt xem

Xếp hạng : Di tích cấp quốc gia

Mở

Đền Diên Cờ

Đền Diên Cờ

Đền Diên Cờ tọa lạc trên một vùng đất rộng hơn 2500m2 thuộc làng Đông Chữ, xã Nghi Trường, huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An. Đền Diên Cờ được lập nên để thờ thần Cao Sơn Cao Các và các vị hậu thần. Theo sự tích thì thần Cao Sơn vốn người Trung Quốc, họ Cao, tên Hiển, đậu Tiến sĩ Triều Minh, được cử sang nước ta làm quan Sát sứ. Ngài là người chính trực, tiễu bình được giặc Mán, giữ được hòa hiếu hai nước, giúp đỡ nhân dân làm ăn, phát triển sản xuất nên sau khi mất, được lập đền thờ. Khi có thiên tai như hạn hán, làm lễ cầu đảo xin Ngài đều rất có hiệu nghiệm. Vì vậy các triều đều có sắc phong thần và liệt vào quốc tế. Thần Cao Các người làng Cao Xá, huyện Thọ Xuân, phủ Thanh Đô, sinh ngày 6 tháng Giêng năm 938. Từ nhỏ đã là người thông minh và có sức khỏe phi thường. Thần sinh ra gặp thời loạn lạc bởi 12 sứ quân. Ngài đã theo Đinh Bộ Lĩnh và có công sáng lập Nhà Đinh. Năm 968, Đinh Bộ Lĩnh kéo quân về Hoa Lư xây dựng Kinh đô và lên ngôi Hoàng đế, lập ra Vương triều Đinh, lấy tên nước là Đại Cồ Việt. Vua Đinh đã ban thực ấp cho Ngài vùng đất huyện An Ninh. Ngài thấy đây là nơi phong cảnh hữu tình, dân cư ôn hòa, bèn lập quân cơ, cùng quân sĩ luyện tập võ nghệ. Ngài là người nhân hậu, thường hướng dẫn dân trồng trọt, chăn nuôi và giúp dân chữa bệnh… Sau đó gặp lúc Vua Chiêm Thành là Sạ Đẩu đem quân uy hiếp nước ta, Ngài được Vua Đinh trao ấn kiếm cùng 5 vạn binh kéo đi đánh dẹp. Với tài thao lược, Ngài chỉ huy dũng mãnh, giết được nhiều giặc, lập được công đánh bại quân Chiêm ở Nghệ An, Thanh Hóa, đuổi giặc ra khỏi bờ cõi. Vua Đinh muốn lưu giữ Ngài ở lại lo việc triều chính, nhưng Ngài một mực xin lui về vùng An Ninh để sống cùng dân chúng quê hương. Sau khi Ngài qua đời, Triều Đinh đã cho lập miếu thờ. Nhân dân nhiều nơi lập miếu thờ tôn là thần. Những khi lụt lội to, ruộng đồng bị ngâm nước lâu ngày sinh sâu keo, mùa màng thất bát. Dân làng dâng lễ cầu thần xin phù hộ, quả nhiên linh ứng, sâu keo chết hết, từ đó nhân dân càng tin vào sự âm phù của thần. Đến nay chưa tìm thấy tài liệu nào ghi cụ thể niên đại xây dựng đền Diên Cờ, nhưng theo niên đại các sắc phong đang lưu tại đây và theo các cụ cao niên trong vùng kể lại thì đền được xây dựng từ trước thế kỷ thứ XVIII, gồm có 3 toà: thượng điện, trung điện và hạ điện. Đền nổi tiếng linh thiêng; từng được các triều vua ban sắc phong. Trải qua bao biến cố, thăng trầm của lịch sử, ngôi đền bị phá dỡ để thực hiện chức năng khác, chỉ còn lại dấu tích của nền đền và một số đạo sắc (sắc đời Vua Cảnh Hưng thứ 44 (1783), sắc phong đời Vua Khải Định năm thứ 9 (1924)). Với ý thức hướng về cội nguồn, để đáp ứng nhu cầu tâm linh và góp phần giáo dục truyền thống cho thế hệ trẻ, thể theo nguyện vọng của nhân dân, UBND xã Nghi Trường đã tổ chức phục dựng, tôn tạo lại đền Diên Cờ trên nền đền cũ bằng nguồn kinh phí xã hội hóa. Sau hơn một năm khẩn trương triển khai thi công, 3 tòa thượng điện, trung điện và hạ điện, nghi môn của đền Diên Cờ đã được tôn tạo, phục dựng với qui mô to đẹp, khang trang hơn xưa, các cung được bài trí đồ thờ trang nghiêm, sơn son thếp vàng lộng lẫy. Theo phong tục cổ truyền, cứ 2 năm một lần, nhân dân địa phương lại tưng bừng tổ chức lễ hội vào các ngày 20 và 21 tháng Giêng Âm lịch. Vào những ngày đó, dân các làng trong vùng làm mâm cỗ đội đến cúng tại Đền. Trong mâm cỗ không thể thiếu 2 thứ bánh truyền thống là bánh dày và bánh dì. Lễ hội đền Diên Cờ mang giá trị văn hóa, giá trị tâm linh trong tâm thức của cư dân Nghi Trường, thu hút sự tham gia của đông đảo nhân dân địa phương và dân chúng trong vùng. Lễ hội bắt đầu từ chiều ngày 20 và kết thúc vào tối ngày 21 tháng Giêng (Âm lịch), bao gồm 2 phần: Phần lễ và phần hội. Phần lễ bao gồm: lễ yết cáo, lễ tế, lễ rước và lễ tạ. Phần hội với nhiều hoạt động văn hóa, thể thao sôi động, thi đánh cờ người, các trò chơi dân gian như: thi chọi gà, kéo co, đánh đáo, đánh đu, đánh cù, múa lân, tổ chức hát tuồng (vở Trưng Trắc Trưng Nhị).... Nguồn: Thế giới di sản

Nghệ An

6379 lượt xem

Xếp hạng : Di tích cấp quốc gia

Mở

Đền Đức Hoàng

Đền Đức Hoàng

Đền Đức Hoàng tọa lạc tại xã Phúc Thành (Yên Thành, Nghệ An). Tương truyền vào đời vua Trần Nhân Tông năm Thiện Bảo, 1285 nước ta bị giặc Nguyên - Mông xâm lược. Hoàng Tá Thốn quê ở làng Vạn Phần, (xã Diễn Vạn, huyện Diễn Châu ngày nay), nghe theo lời gọi cứu nước của triều đình lên đường đánh giặc. Do tư chất thông minh, mưu trí và có tài bơi lội nên ngài được một tướng chỉ huy tiến cử lên Hưng Đạo Vương và được vào thủy quân thiện chiến của nhà Trần. Sau thời gian luyện tập, thấy Hoàng Tá Thốn có tài, đức và dung mạo khác thường đúng như lời truyền tụng nên Trần Hưng Đạo đã đưa ông về làm nội gia đồng tử và huấn luyện thêm về binh thư, binh pháp. Ông có nhiều công lao lớn trong đánh giặc ngoại xâm, lừng lẫy nhất là cuộc chiến trên sông Bạch Đằng năm Mậu Tý 1288. Sau khi đất nước sạch bóng quân thù Hoàng Tá Thốn vẫn thường xuyên luyện tập cho binh sỹ và nhiều lần thân chinh đi kiểm tra, tổ chức hệ thống đồn lũy ở ven biển các vùng: Hải Phòng, Thanh Hóa, Nghệ An để trấn áp bọn cướp biển. Cũng trong thời gian này, Hoàng Tá Thốn về thăm lại quê hương, thấy cảnh xóm làng tan hoang, nhân dân vất vả, đói khổ vì giặc dã, bão tố, ông rất thương cảm. Trước tình cảnh ấy ông bỏ tiền của giao cho người con trai cả tìm đất mới dễ làm ăn để đưa dân làng đến lập làng mới. Rồi trong một lần đi tuần, ngài bị bệnh từ trần đột ngột tại cửa Trào, huyện Hoằng Hóa (Thanh Hóa). Triều đình nghe tin vô cùng thương tiếc đã cho thuyền rồng đến chở linh cữu ngài về mai táng tại quê nhà, cho lập đền thờ và phong là Sát Hải Chàng Lại đại tướng quân, thiên bồng nguyên soái chi thần, còn gọi là Sát Hải Đại vương Hoàng Tá Thốn. Đền Đức Hoàng được khởi dựng từ thời nhà Trần trên một địa thế cao, thoáng, râm mát, cửa đền trông ra hồ Diệu Ốc. Ban đầu chỉ là ngôi miếu nhỏ đơn sơ, đến năm 1505 mới được xây tường, lợp ngói tòa thượng điện. Hơn 300 năm sau, vào năm 1882 mới xây tòa trung điện và đến năm 1936 xây thêm nhà hạ điện. Qua nhiều thăng trầm của lịch sử, đền đã được nhiều lần tu bổ, sửa sang, đến nay, cảnh quan cũ của đền có nhiều thay đổi nhưng vẫn giữ được kiến trúc ban đầu. Đặc biệt là nghệ thuật trang trí, đắp phù điêu, tạc tượng ở đền đã đạt đến trình độ cao trong sáng tác nghệ thuật thần sắc, phong thái, trang phục của các hình tượng được lột tả, thể hiện một cách cụ thể, sinh động, màu sắc trang nhã, hình dáng thanh thoát, tạo nên cho ngôi đền vẻ đẹp linh thiêng. Nhất là tượng voi, ngựa trước sân đền, các mảng trang trí tam sơn, con giống ở trước hạ điện và chồng diêm, tượng quan võ ở trước hậu cung là những công trình nghệ thuật công phu. Ngoài thờ Hoàng Tá Thốn, đền Đức Hoàng còn thờ Bạch Y công chúa, là con gái của vua Hồ Quý Ly; thờ Phật Thích ca, công chúa Liễu Hạnh và thờ thần rắn. Sự thờ phụng trong đền giữa các bậc tiền nhân có công giữ nước với Phật, Thánh Mẫu tạo nên "tam giáo đồng nguyên”, như một sự giao hòa giữa trời, đất, núi sông, giữa tâm linh và trần thế. Điểm nhấn của đền Đức Hoàng đó chính là hồ sen Diệu Ốc, một trong 8 cảnh đẹp nức tiếng của xứ Đông Thành xưa kia. Chớm hạ du khách đến thưởng lãm đền Đức Hoàng gặp mùa sen nở, hương sen thơm ngát, sắc hồng của hoa, sắc xanh của lá dệt nên một tấm thảm sen khổng lồ uốn quanh theo làng mạc rất nên thơ. Sau lưng đền Đức Hoàng là rừng cây nguyên sinh với nhiều chủng loại gỗ quý, vì vậy mà không khí nơi đây quanh năm mát mẻ, rộn tiếng chim ca, sóc nhảy. Lễ hội đền Đức Hoàng hàng năm được diễn ra trong 3 ngày, bắt đầu từ 29 tháng Giêng và mồng 1, mồng 2 tháng 2 Âm lịch. Được chia làm 2 phần chính: Phần lễ và phần hội. Phần lễ trang nghiêm thành kính, bảo tồn nét đẹp trong lễ tế. Phần hội với các hoạt động văn hóa thể thao phong phú như, bóng chuyền, đấu vật truyền thống, đẩy gậy, kéo co, thi trống tế giữa các dòng họ, thi đua thuyền, chọi gà, đấu vật, đấu cờ người, đu tiên, bắt cá, bắt vịt, nhảy dây, nấu cơm, đi cầu kiều... Với phong trào văn nghệ quần chúng phục vụ lễ hội, nơi đây cũng nổi lên nhiều giọng ca ví dặm được nhiều nơi chiêu mộ và đào tạo thành tài. Nguồn: Du Lịch Nghệ An

Nghệ An

7590 lượt xem

Xếp hạng : Di tích cấp quốc gia

Mở

Khu tưởng niệm Phan Bội Châu

Khu tưởng niệm Phan Bội Châu

Khu di tích lưu niệm Phan Bội Châu tại Nam Đàn gồm hai địa điểm, cách nhau khoảng 1,5km: quê nội thuộc xóm 2, xã Xuân Hòa, huyện Nam Đàn và quê ngoại thuộc thị trấn Nam Đàn, huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An. Phan Bội Châu tên húy là Phan Văn San, hiệu Sào Nam, sinh ngày 26/12/1867 trong một gia đình hàn nho, thuộc làng Sa Nam, huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An; là nhà văn hóa lớn và là người tiêu biểu cho phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc Việt Nam những năm đầu thế kỷ XX. Trong đêm trường nô lệ đen tối, trên hành trình đi tìm đường cứu nước với gần ba mươi năm hoạt động gian lao vất vả, bước chân Phan Bội Châu đã trải qua nhiều địa danh: khi tỉnh Quảng, lúc Hoan Đồn, khi Tuyên Quang, Đông Kinh, Thần Hộ, Thượng Hải, Quế Việt, khi ở Nhật Bản, khi ở Trung Quốc, lúc lại về Thái Lan… Các phong trào yêu nước do Cụ Phan phát động như Duy Tân hội, Đông Du, Việt Nam Quang phục hội, Việt Nam Quốc dân đảng... luôn được các tầng lớp nhân dân tham gia hưởng ứng. Đặc biệt là tầng lớp thanh niên, họ xem Phan Bội Châu như thần tượng, lý tưởng để phấn đấu vì sự nghiệp giải phóng dân tộc. Ngày 30/6/1925, Phan Bội Châu bị Thực dân Pháp bắt cóc ở Thượng Hải (Trung Quốc) giải về nước, đem xử ở tòa Đề hình Hà Nội, rồi đưa về an trí ở Huế. Sáng ngày 29/10/1940 (tức ngày 29 tháng Chín năm Canh Thìn), Cụ trút hơi thở cuối cùng tại căn nhà tranh ở dốc Bến Ngự (Huế). Khu di tích lưu niệm Phan Bội Châu tại Nam Đàn là nơi gắn bó với cuộc đời Phan Bội Châu từ khi cất tiếng khóc chào đời, cho đến lúc ra đi hoạt động tìm đường cứu nước. Nhà Cụ Phan Bội Châu từng là nơi hội tụ “anh hùng bốn phương” - là những văn thân, sĩ phu yêu nước, dư đảng Cần Vương, khách lục lâm vong mạng nghĩa hiệp... ở khắp mọi nơi cùng nhau luận bàn việc nước. Trong số đó có Cụ Phó bảng Nguyễn Sinh Sắc - thân sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh. Những ngày còn thơ ấu theo cha đến thăm Cụ Phan, được nghe các bậc cha chú luận bàn việc nước, đã góp phần hình thành tư tưởng cứu nước, thương dân trong con người Hồ Chí Minh. Những năm hoạt động ở trong và ngoài nước cho đến khi bị bắt và đưa về giam lỏng ở Huế, Cụ Phan đã mấy lần về thăm quê hương và gia đình. Lần cuối cùng Cụ về thăm nhà là xuân năm Bính Dần - 1926. Khu di tích lưu niệm Phan Bội Châu là nơi giáo dục truyền thống cách mạng cho thế hệ trẻ, thể hiện đạo lý uống nước nhớ nguồn của dân tộc. Các công trình được bố trí hài hòa, kiến trúc phù hợp, tạo thành một thể thống nhất vừa làm tốt chức năng lưu niệm, tri ân danh nhân, đồng thời toát lên sự thanh tao, nho nhã như cốt cách của cụ Phan. 1. Quê nội: nhà Cụ Phan tại quê nội nằm ở phía ngoài đê Tả Lam, nhìn ra xa là dãy Đại Huệ hùng vĩ, phía sau là dòng sông Lam. Phía Tây Bắc là rú Đụn uy nghi, từng là đại bản doanh của Mai Hắc Đế năm xưa. Hiện nay, khuôn viên di tích rộng 754m2, bao gồm các hạng mục: cổng, tường bao, nhà bia tưởng niệm, sân vườn... 2. Quê ngoại: là nơi chào đời và gắn liền với tuổi thơ ấu của Phan Bội Châu, tổng khuôn viên di tích là 4878m2, gồm 2 khu vực chính là: khu lưu niệm gồm ngôi nhà tranh và mảnh vườn của gia đình Cụ Phan Bội Châu; khu tưởng niệm gồm nhà trưng bày hiện vật liên quan đến cuộc đời và sự nghiệp cách mạng của Cụ Phan và các công trình phụ trợ. Hiện nay, tại di tích còn lưu giữ được 134 tài liệu, hiện vật (51 cổ vật, 83 di vật), bao gồm các chất liệu giấy, gỗ, đá, đồng, tre,... là những kỷ vật thiêng liêng gắn bó với cuộc đời và quá trình hoạt động cách mạng của Phan Bội Châu. Hàng năm, tại di tích diễn ra hai kỳ lễ trọng, đó là lễ kỷ niệm ngày mất của Phan Bội Châu ngày 29 tháng Chín Âm lịch và lễ kỷ niệm này sinh của cụ Phan Bội Châu vào ngày 26/12 dương lịch, thu hút đông đảo cán bộ, nhân dân địa phương, các cấp, các ngành tham dự. Ngoài ra những ngày lễ tiết, theo truyền thống địa phương như Tết Nguyên đán, Thượng nguyên, Trung nguyên... và ngày sóc vọng hàng tháng nhân dân địa phương đến dâng hương tưởng niệm rất đông. Với giá trị đặc biệt tiêu biểu, di tích lịch sử Khu lưu niệm Phan Bội Châu tại Nam Đàn được Thủ tướng Chính phủ xếp hạng là Di tích quốc gia đặc biệt ngày 22/12/2016). Nguồn: Cục di sản văn hoá

Nghệ An

10191 lượt xem

Xếp hạng : Di tích quốc gia đặc biệt

Mở

Đền thờ Hoàng đế Quang Trung

Đền thờ Hoàng đế Quang Trung

Đền thờ Hoàng đế Quang Trung tọa lạc trên Núi Dũng Quyết - nơi được ví như viên ngọc xanh mà thiên nhiên đã ban tặng cho Nghệ An và thành phố Vinh. Núi Dũng Quyết có 4 chi: Long Thủ (đầu rồng), Phượng Dực (cánh Phượng), Quy Bôi (cồn Rùa) và Kỳ Lân. Người xưa gọi địa thế nơi đây là đất tứ linh, bởi có đủ Long, Ly, Quy Phượng. Đây được xem là vị trí yết hầu trong suốt quá trình dựng nước và giữ nước trên con đường thiên lý xuyên việt. Sau khi tham vấn La Sơn Phu Tử Nguyễn Thiếp, Nguyễn Huệ đã chọn vùng núi Dũng Quyết là nơi đắc địa, có khí tượng tươi sáng, hình thế rộng rãi để định đô tính kế lâu dài. Ngày 3 tháng 9 năm Mậu Thân (1/10/1788) Nguyễn Huệ Quang Trung đã xuống chiếu giao cho Trần Thủ Thận và La Sơn phu tử Nguyễn Thiếp tổ chức xây dựng Phượng Hoàng Trung Đô ở vùng đất giữa núi Dũng Quyết và núi Kỳ Lân. Do đó, ngày 1/10/1788 được chọn là ngày kỷ niệm Phượng Hoàng Trung Đô. Để tuởng nhớ đến công lao to lớn của vị anh hùng áo vải, lưu giữ mối gắn bó keo sơn giữa Hoàng đế Quang Trung với quê cha đất tổ Nghệ An, ngày 15/8/2005 UBND tỉnh Nghệ An đã tiến hành khởi công xây dựng đền thờ Hoàng đế Quang Trung. Sau hơn 1000 ngày thi công, đền được khánh thành vào ngày 7/5/2008. Đền gồm có các công trình: Nghi môn tứ trụ được thiết kế theo kiến trúc hai tầng tám mái. Tiếp theo là các công trình phụ trợ: Nhà tả vu và hữu vu nơi đón tiếp đại biểu và nhà trưng bày hiện vật. Trung tâm toàn bộ kiến trúc ngôi đền là nhà tiền đường gồm có 3 gian nhà: hạ điện, trung điện, thượng điện, được thiết kế theo hình chữ Tam cao dần lên. Cả ba nhà được làm bằng gỗ lim, chạm khắc họa tiết theo phong cách thời Nguyễn. Nhà Hạ điện có khung thờ được bố trí theo tín ngưỡng thờ phụng của người Việt – Tiền phật hậu thánh. Nhà Trung điện gồm có ba gian thờ: Ở giữa bàn thờ Công đồng- thờ chung các quan lại tướng sỹ thời Tây Sơn; hai bên tả hữu thờ các quan văn và quan võ triều Tây Sơn. Nhà Thượng điện là nơi thờ Hoàng đế Quang Trung và thân phụ của Người - ông Hồ Phi Phúc và thân mẫu là bà Nguyễn Thị Đồng. Hàng năm, Thượng điện được mở vào hai dịp lễ lớn: Ngày 29 tháng 7 âm lịch - ngày giỗ của Hoàng đế Quang Trung và ngày 5 tháng 1- ngày kỷ niệm chiến thắng Ngọc Hồi - Đống Đa. Đền thờ Hoàng đế Quang Trung và di tích Phượng Hoàng Trung Đô được UBND tỉnh Nghệ An công nhận là điểm du lịch ngày 21/12/2017. Nguồn: Cổng thông tin điện tử sở du lịch tỉnh Nghệ An

Nghệ An

10322 lượt xem

Xếp hạng : Di tích cấp quốc gia

Mở