Di tích lịch sử

Việt Nam
Đình Châu Phú

Đình Châu Phú

Đình Châu Phú – Dấu ấn lịch sử bên dòng sông Hậu. Tọa lạc tại phường Châu Đốc, tỉnh An Giang, bên dòng sông Hậu, Đình Châu Phú là một trong những công trình tín ngưỡng tiêu biểu của vùng đất Châu Đốc. Tiền thân của đình là Lễ Công Từ đường, được dựng vào khoảng đầu thế kỷ XIX để thờ Lễ Thành hầu Nguyễn Hữu Cảnh, người có công lớn trong quá trình khai phá, mở mang vùng đất Nam Bộ. Sau đó, công trình được di dời và xây dựng lại; ngôi đình hiện nay hoàn thành vào năm 1926. Đình có quy mô bề thế, mang đậm phong cách kiến trúc đình làng Nam Bộ. Công trình được bố trí theo kiểu chữ Tam, với hệ thống cột gỗ lớn, mái ngói và nhiều mảng chạm khắc tinh xảo. Trên mái và các cấu kiện kiến trúc nổi bật những đề tài truyền thống như lưỡng long tranh châu, lưỡng long chầu nguyệt, cá hóa rồng, phượng, sư tử. Bên trong còn lưu giữ nhiều hoành phi, liễn đối, đồ thờ tự và hiện vật có giá trị. Ngoài Nguyễn Hữu Cảnh, đình còn thờ Thoại Ngọc Hầu Nguyễn Văn Thoại cùng một số nhân vật có công với vùng đất Châu Đốc. Hằng năm, đình tổ chức lễ Kỳ yên vào ngày 10 và 11 tháng 5 âm lịch, thu hút đông đảo người dân đến dâng hương, tưởng niệm. Với những giá trị đặc sắc về lịch sử, văn hóa và kiến trúc nghệ thuật, Đình Châu Phú là một điểm đến góp phần làm nên diện mạo văn hóa tâm linh đặc trưng của Châu Đốc và vùng Tây Nam Bộ. Nguồn: Báo Tuổi Trẻ

An Giang

64 lượt xem

Xếp hạng : Di tích cấp quốc gia

Mở

Đình Vĩnh Ngươn

Đình Vĩnh Ngươn

Đình Vĩnh Ngươn tọa lạc tại khu vực đầu kênh Vĩnh Tế, nơi giao nhau với sông Hậu, thuộc phường Châu Đốc, tỉnh An Giang. Đình được hình thành từ quá trình cư dân đến khai phá, lập làng ở vùng đất Châu Đốc. Đây là nơi thờ Thành hoàng và các vị được phối thờ, trong đó có Nguyễn Hữu Lễ, đồng thời là không gian sinh hoạt tín ngưỡng của cộng đồng cư dân địa phương. Năm 2011, đình được công nhận là di tích kiến trúc nghệ thuật cấp quốc gia. Về kiến trúc, đình mang đặc trưng của đình làng Nam Bộ với hệ thống mái ngói, các mảng trang trí rồng, phượng và những cột gỗ được chạm khắc các hình tượng Long – Lân – Quy – Phụng. Không gian đình kết hợp hài hòa giữa giá trị kiến trúc truyền thống và cảnh quan sông nước đặc trưng của vùng Châu Đốc. Hằng năm, đình tổ chức các nghi lễ truyền thống, trong đó có lễ cúng Thần hoàng Nguyễn Hữu Lễ vào ngày 16/4 âm lịch, cầu mong quốc thái dân an, mưa thuận gió hòa, cuộc sống bình an, no đủ. Những nghi lễ này góp phần duy trì đời sống tín ngưỡng và phong tục truyền thống của cộng đồng cư dân địa phương, góp phần giới thiệu những nét đặc sắc trong đời sống văn hóa của cư dân vùng sông nước Tây Nam Bộ. Nguồn: Báo An Giang

An Giang

134 lượt xem

Xếp hạng : Di tích cấp quốc gia

Mở

Đình thần Nguyễn Trung Trực

Đình thần Nguyễn Trung Trực

Đình thần Nguyễn Trung Trực, tọa lạc tại số 8 đường Nguyễn Công Trứ, phường Rạch Giá, tỉnh An Giang, là một trong những nơi thờ Nguyễn Trung Trực sớm và quy mô lớn ở Nam Bộ. Sau khi ông hy sinh năm 1868, người dân địa phương bí mật lập nơi thờ phụng để tưởng nhớ vị anh hùng đã lãnh đạo nghĩa quân chống thực dân Pháp. Đình hiện nay có kiến trúc chữ Tam, gồm chánh điện, Đông lang và Tây lang. Cổng tam quan, mái đình, hoành phi, câu đối và các họa tiết rồng, hoa lá được trang trí công phu. Trong chánh điện, trung tâm là ngai thờ Nguyễn Trung Trực, bên cạnh thờ các nghĩa quân, các vị tiền hiền, hậu hiền và Nam Hải Đại tướng quân. Trong khuôn viên còn có mộ Nguyễn Trung Trực và phòng trưng bày các hiện vật liên quan đến cuộc khởi nghĩa. Hằng năm, từ ngày 26 đến 28 tháng 8 âm lịch, lễ hội tưởng niệm ngày hy sinh của Nguyễn Trung Trực được tổ chức trang trọng, thu hút đông đảo người dân và du khách. Lễ hội kết hợp các nghi thức truyền thống với nhiều hoạt động văn hóa, nghệ thuật và trò chơi dân gian, thể hiện lòng tôn kính đối với vị anh hùng dân tộc. Năm 1988, đền và mộ Nguyễn Trung Trực được công nhận là di tích lịch sử – văn hóa cấp quốc gia, trở thành một địa chỉ văn hóa tâm linh tiêu biểu của vùng đất Rạch Giá và Nam Bộ. Nguồn: Wikipedia

An Giang

316 lượt xem

Xếp hạng : Di tích cấp quốc gia

Mở

Khu di tích lịch sử Tức Dụp

Khu di tích lịch sử Tức Dụp

Khu di tích lịch sử Tức Dụp thuộc huyện Tri Tôn, tỉnh An Giang, là một căn cứ địa quan trọng của quân và dân An Giang trong cuộc kháng chiến chống Mỹ. Tức Dụp theo tiếng Khmer có nghĩa là “nước đêm”, nằm ở độ cao khoảng 300m, với hệ thống hang động, khe đá chằng chịt như một “tổ ong” khổng lồ. Từ những năm 1940, Tức Dụp đã là nơi che chở cho các chiến sĩ cách mạng. Đến năm 1960, nơi đây trở thành căn cứ của Huyện ủy Tri Tôn và Tỉnh ủy An Giang. Dựa vào địa hình hiểm trở và hệ thống hang động liên hoàn, quân và dân ta đã kiên cường bám trụ, chiến đấu và chống lại nhiều cuộc càn quét, bom đạn ác liệt của quân địch. Vì thế, Tức Dụp còn được biết đến với tên gọi “ngọn đồi thép”. Ngày nay, những hang động từng là nơi làm việc của Ban Chỉ huy Quân sự, Ban Tuyên huấn, Hội Phụ nữ, Dân y và hội trường C6 vẫn được bảo tồn. Du khách có thể khám phá hệ thống hang đá độc đáo, tìm hiểu những câu chuyện về cuộc sống và chiến đấu của quân dân ta trong chiến tranh, đồng thời chiêm ngưỡng vẻ đẹp hoang sơ của núi rừng Thất Sơn. Tức Dụp hôm nay không chỉ là điểm du lịch hấp dẫn mà còn là “địa chỉ đỏ” giáo dục truyền thống, nhắc nhớ về một thời kỳ chiến đấu kiên cường và những hy sinh to lớn của quân dân An Giang. Nguồn: Cục Du lịch Quốc gia Việt Nam

An Giang

732 lượt xem

Xếp hạng : Di tích cấp quốc gia

Mở

Căn cứ Ô Tà Sóc

Căn cứ Ô Tà Sóc

Căn cứ Ô Tà Sóc, xã Lương Phi, huyện Tri Tôn, tỉnh An Giang, là di tích lịch sử cách mạng cấp quốc gia. Ô Tà Sóc, theo tiếng Khmer có nghĩa là “Suối Ông Sóc”, nằm trên núi Dài, nổi bật với địa hình núi đá hiểm trở, nhiều hang động, gộp đá và dòng suối quanh năm nước chảy. Từ cuối năm 1962, Ô Tà Sóc trở thành căn cứ quan trọng của Tỉnh ủy An Giang và các cơ quan cách mạng. Dựa vào địa hình rừng núi hiểm trở, quân và dân ta xây dựng hệ thống phòng thủ, bố trí chông mìn, hầm trú ẩn và tổ chức nhiều trận đánh, kiên cường chống lại các cuộc càn quét của quân địch. Từ đây, Tỉnh ủy An Giang chỉ đạo phong trào cách mạng, đấu tranh phá ấp chiến lược, bảo vệ nhân dân và tổ chức lực lượng chiến đấu trên toàn tỉnh. Trong những năm 1965–1967, địch nhiều lần mở các cuộc hành quân quy mô lớn nhằm đánh phá căn cứ, nhưng đều gặp sự chống trả quyết liệt của lực lượng cách mạng. Các chiến sĩ đã tận dụng từng hốc đá, triền dốc và địa hình hiểm trở để đánh địch, bảo vệ an toàn cho cơ quan Tỉnh ủy. Đến cuối năm 1967, Tỉnh ủy chuyển căn cứ về núi Tô – Tức Dụp, nhưng Ô Tà Sóc vẫn tiếp tục là địa điểm hoạt động và phối hợp chiến đấu của các lực lượng cách mạng. Ngày nay, căn cứ Ô Tà Sóc không chỉ mang vẻ đẹp hoang sơ của núi rừng mà còn là địa chỉ đỏ giáo dục truyền thống cách mạng, giúp thế hệ hôm nay hiểu hơn về tinh thần kiên cường, mưu trí và sự hy sinh của quân dân An Giang trong cuộc kháng chiến chống Mỹ. Nguồn: Ban Quản lý Di tích và Danh thắng tỉnh An Giang

An Giang

780 lượt xem

Xếp hạng : Di tích cấp quốc gia

Mở

Phù Dung cổ tự

Phù Dung cổ tự

Chùa Phù Dung còn có một tên gọi khác là chùa Phù Cừ, nằm dưới chân núi Bình San, phường Bình San, thành phố Hà Tiên, Kiên Giang. Là một trong những danh lam cổ tự của miền đất Hà Tiên hiền hòa thơ mộng, chùa Phù Dung không chỉ điểm tô cho non nước cõi biên thùy nét uy nghiêm trầm mặc của một ngôi già lam mà còn làm say lòng du khách bởi phát tích câu chuyện tình diễm lệ của ngài Tổng trấn và “nàng Ái cơ trong chậu úp”. Chùa Phù Dung gắn liền với sự tích của người nằm trong ngôi mộ cổ đó là bà Phù Dung, mà sau này người đời còn đặt cho một cái tên khác nữa là bà Dì Tự, vị sư nữ đầu tiên trụ trì ở chùa. Thực ra giai thoại trên là do dân gian kể theo tiểu thuyết lịch sử Nàng Ái Cơ trong chậu úp của bà Mộng Tuyết. Câu chuyện tóm lược như sau: Mạc Lịnh công tức Tổng binh Đại đô đốc Mạc Thiên Tích có một người vợ thứ tên là Dì Tự “sắc nước hương trời và văn hay chữ tốt”. Mạc Lịnh Công, vì mê sắc đẹp, yêu tài thơ, đã từ chỗ sủng ái mà ra thiên ái. Hóa cho nên, khiến bà chính thất Nguyễn phu nhân ghen giận, lập mưu hãm hại bà thứ cơ. Một hôm, nhân Mạc Lịnh công bận đi duyệt binh, ở nhà, Nguyễn phu nhân đem nhốt bà thứ vào trong một cái chậu, úp lại cho ngộp mà chết. Bất thình lình, vừa lúc đó trời bỗng đổ mưa to và Mạc Lịnh công cũng vừa về đến. Thấy trời đang mưa mà sao chậu to không ngửa lên hứng nước, ông bèn truyền lệnh giở chậu ra thì phát hiện nàng Dì Tự đang thoi thóp, nhưng may mắn hãy còn cứu kịp. Tuy thoát chết, nhưng Dì Tự trở nên chán chường sự thế, bèn xin Mạc Lịnh công cho phép đi tu. Trước sự tình ngang trái đó, ngài Tổng binh không còn cách nào khác, đành chiều ý, cất một ngôi am tự cho “Ái cơ” của mình tu hành. Bên am tự, ngài cho đào ao, trồng hoa sen trắng, để kỷ niệm mối tình xưa. Đến khi bà qua đời, Mạc Lịnh công cho xây ngôi mộ kiên cố, cấu trúc theo hình cái chậu để tỏ lòng tưởng nhớ đến giai nhân đã vì ông mà phải chịu oan ức, khổ ải… Ngôi am tự đó về sau trở thành Phù Dung Tự. Dù còn có những ý kiến khác nhau, thậm chí còn có ý kiến cho rằng, chuyện tình của Mạc Tổng trấn và nàng Ái Cơ Phù Cừ chỉ là hư cấu của những văn sĩ, nhưng hầu hết người dân Hà Tiên đều thuộc lòng và tin rằng đó là chuyện tình đẹp, có thật, gắn liền với công cuộc khai mở đất Hà Tiên. Câu chuyện tình lịch sử thấm đẫm văn chương và nước mắt giữa Mạc Tổng trấn và Ái Cơ Phù Cừ từ đó trở đi là nguồn cảm hứng cho nhiều tác phẩm truyện, tuồng và thơ. Năm 1959, nhà văn, nhà thơ Kiên Giang Hà Huy Hà viết vở cải lương “Áo cưới trước cổng chùa” theo tác phẩm “Nàng Ái Cơ trong chậu úp” của nữ sĩ Mộng Tuyết. Vở cải lương đã thu hút không biết bao nhiêu con tim của khán thính giả thời bấy giờ. Trước sân chùa là một đài cao trên có pho tượng Phật Quan Thế Âm cao chừng 4 m bằng xi măng, sơn trắng. Kế đến là chính điện được bài trí trang nghiêm: chính giữa là tượng Thích ca Mâu ni, hai bên là hai đại đệ tử Anan và Ca diếp. Ở đây còn có 4 bức phù điêu lớn (mỗi tấm cao 1,3 m, ngang 2,3 m) minh họa 4 cảnh đức Phật đản sanh, xuất gia, thuyết pháp và nhập niết bàn. Sau lưng ngôi chính điện, qua một khoảng sân nhỏ, du khách sẽ gặp một tòa lầu gác cao hai tầng có tên gọi “Ngọc Hoàng bửu điện”, nơi đây thờ Ngọc Hoàng thượng đế cùng hai vị Nam Tào và Bắc Đẩu. Phía bên trái chùa Phù Dung có một lối nhỏ men theo triền núi. Đi khoảng 20 m sẽ gặp một ngôi mộ cổ nằm tựa lưng vào vách núi giữa rừng cây cao vút, mát mẻ, u tịch. Trên bia mộ có nhiều dòng chữ Hán. Bên cạnh mộ, có một tấm bia đá khắc chữ Việt ghi: Lăng bà Phù Dung – Từ Thành Thục Nhơn – Nguyễn Thị Xuân (1720-1761) – viên tịch rằm tháng 2 Âm lịch – Hiệu Phù Cừ. Nguồn: Du lịch Kiên Giang

An Giang

7765 lượt xem

Xếp hạng : Di tích cấp tỉnh

Mở

Gò Tháp An Lợi

Gò Tháp An Lợi

Di tích khảo cổ cấp quốc gia gò tháp An Lợi (xã Châu Lăng, huyện Tri Tôn, tỉnh An Giang) là công trình kiến trúc tôn giáo tín ngưỡng thuộc thời kỳ hậu văn hóa Óc Eo, niên đại từ thế kỷ 8 - 9 với quy mô lớn và còn khá nguyên vẹn. Di tích góp phần hé mở nhiều cứ liệu khoa học về nguồn gốc, nội dung, tính chất của nền văn hóa cổ Óc Eo. Văn hóa Óc Eo là một trong 3 nền văn hóa cổ ở Việt Nam, gồm: Đông Sơn, Sa Huỳnh và Óc Eo. Theo các chuyên gia, những di vật, phế tích và các giá trị của văn hóa Óc Eo thuộc Vương quốc Phù Nam cổ. Tiêu biểu, có di tích kiến trúc gò tháp An Lợi (di tích nằm trên nền gò cao nên người dân nơi đây quen gọi là “gò tháp”). Năm 1999, di tích gò tháp An Lợi được Bảo tàng tỉnh phát hiện trong 1 lần khảo sát tại vùng núi ở huyện Tri Tôn. Đến năm 2002, Bảo tàng tỉnh phối hợp Trung tâm Nghiên cứu khảo cổ học thuộc Viện Khoa học xã hội vùng Nam Bộ tiến hành khảo sát lại di tích khảo cổ gò tháp An Lợi. Di tích khảo cổ gò tháp An Lợi có dạng hình chữ nhật, diện tích rộng trên 300m2. Đỉnh gò bằng phẳng, có độ cao 2,5m so bề mặt chung quanh. Mặt gò xuất lộ nhiều viên gạch, nhiều vỉa gạch chạy thẳng hàng theo hướng đông tây cùng vài khối đá, tấm đá kiến trúc nằm lộ thiên giữa gò hoặc cạnh các gốc cây. Trong đó có 1 “bàn đá” hình tròn đặt kê trên những viên gạch nguyên và vỡ ở giữa gò. Sườn gò ở phía nam và bắc là các vách tường gạch xây vẫn còn thẳng đứng, ở phía đông và tây do bị đào phá để lấy gạch nên để lại trên sườn gò chỗ gạch, chỗ đá lởm chởm… Đó là dấu hiệu cho thấy kiến trúc này được xây bằng gạch và đá hỗn hợp thuộc phong cách truyền thống của cư dân văn hóa Óc Eo - Phù Nam xưa. Kết quả cho thấy, mặc dù có bị đào bới nhưng nền kiến trúc vẫn còn khá nguyên vẹn với độ cao của vách tường tháp từ 1,5 - 2,5m. Kết quả khai quật cho thấy, di tích gò tháp An Lợi có bình đồ kiến trúc hình chữ nhật xây bằng gạch - đá khá lớn được bẻ góc nhiều lần với chiều dài 19,2m theo hướng đông tây, rộng 11,6m theo hướng bắc nam, cao 2,5m tính từ chân gờ cột giả hoặc 3,6m tính từ chân móng gạch cuối cùng - sát lớp đá móng lên đến đỉnh. Bố cục kiến trúc gồm 2 phần: Phần tiền sảnh ở phía đông nối liền với bậc lên xuống, phần hậu sảnh ở phía tây. Bên trong kiến trúc phần hậu sảnh có một hố thờ dạng hình giếng vuông, các cạnh rộng 1,2m theo hướng đông tây và 1,1m theo hướng bắc nam. Hố đã bị đào khá sâu, trong hố có chứa nhiều gạch nguyên, đá và cát màu xám. Ngoài ra, trong hố còn phát hiện 1 hũ sành lớn bị vỡ nhiều mảnh, hũ có miệng không cao, thân phình rộng, đáy bằng, bên ngoài có lớp men màu nâu đen rất bóng. Các di vật thu được chất liệu chủ yếu là đồ đá với loại hình, như: Mảnh vỡ Linga đá, máng nước thiêng Somasutra, bàn đá; những tấm đá nhiều hình dáng, như: Đá hình bán nguyệt, đá hình cánh quạt, đá hình khối chữ nhật và một vài mảnh gốm cổ và vòi bình số lượng không đáng kể. Qua nghiên cứu, gò tháp An Lợi thuộc loại kiến trúc nặng xây bằng gạch và đá hỗn hợp thuộc thời kỳ hậu Óc Eo. Việc tìm thấy nhiều Linga và Somasutra cho rằng, kiến trúc gò tháp An Lợi là một đền thờ thuộc tín ngưỡng Siva nơi thực hiện các nghi thức cầu phúc của các cộng đồng cư dân cổ thuộc thời kỳ hậu Óc Eo. Niên đại đoán định của kiến trúc khoảng thế kỷ 8 - 9 sau Công nguyên. Gò tháp An Lợi có giá trị cao về mặt nghiên cứu khoa học, nguồn gốc lịch sử hình thành vùng đất và nền văn hóa dân tộc đã hơn 1.000 năm. Với ý nghĩa lịch sử văn hóa quan trọng, giá trị khoa học cao, gò tháp An Lợi được Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch xếp hạng Di tích lịch sử văn hoá, khảo cổ cấp quốc gia, ngày 26/02/2008. Nguồn: Báo An Giang Online

An Giang

7586 lượt xem

Xếp hạng : Di tích cấp quốc gia

Mở

Chùa Cù Là

Chùa Cù Là

Chùa Cù Là Mới tọa lạc tại khu phố Minh Lạc, thị trấn Minh Lương, huyện Châu Thành, tỉnh Kiên Giang là một ngôi chùa Phật giáo hệ phái Nam tông Khmer. Chùa Cù Là được công nhận di tích lịch sửu văn hoá cấp quốc gia ngày 28 tháng 9 năm 1990. Sau cuộc tấn công và nổi dậy tết Mậu Thân 1968 và mùa hè 1972, quân dân Miền Nam nổi dậy khắp nơi. Trong khi đó quân ngụy Sài Gòn liên tiếp thất bại. Từ đó chính quyền Sài Gòn liên tiếp mở nhiều cuộc bao vây các chùa Khmer, chặn đường, xét, bắt sư sãi và con em đồng bào dân tộc đi lính. Trước tình hình trên, được sự chỉ đạo của Tỉnh Ủy và Ban Khmer vận, vào lúc 5 giờ 30 phút ngày 10/06/1974 sư sãi cùng đồng bào dân tộc khmer, kinh, hoa đổ ra đường lộ 12 (nay là quốc lộ 61) để biểu tình đòi trả tự do cho các vị sư bị bắt đi quân dịch. Đồng thời đoàn biểu tình còn giương cao các khẩu hiệu như: “Chấm dứt bắn phá chùa chiền, giết hại sư sãi và đồng bào vô tội”; “Tôn trọng tự do tín ngưỡng”; “Lập lại hòa bình, chống chiến tranh phi nghĩa”… Bốn vị sư đã hy sinh, sau khi bắn chết các vị sư, chúng đã chở các thi hài về bệnh viện tỉnh lột áo cà sa của các vị sư ra, mặc áo đen vào rồi đặt trên mình các vị sư mỗi vị một khẩu súng A-K, rồi vu khống là việt cộng. Trước cuộc đấu tranh mạnh mẽ của sư sãi và đồng bào buộc chúng phải cử người xuống xin lỗi sư sãi, đồng bào và trả lại thi hài 4 sư đã hy sinh, đồng thời đưa các vị sư, đồng bào bị thương đi chữa trị. Đến 16 giờ 30 phút, ngày 10/6/1974 chính quyền địch đã cho xe chở thi thể 4 sư về chùa tháp Cù Là để làm lễ táng. Sau ngày Miền Nam hoàn toàn giải phóng, để ghi công và tưởng nhớ tấm gương anh dũng hy sinh của 4 vị sư và đồng bào sư sãi, Nhà nước đã công nhận và cấp bằng Tổ quốc ghi công cho 4 sư: Đến ngày 20/9/1990 tháp 4 sư liệt sĩ được công nhận di tích Văn Hóa – Lịch Sử cấp quốc gia. Chùa Cù Là được chọn xây dựng trên một khu đất rộng, bao bọc bởi những hàng cây dầu, cây thốt nốt, rừng tràm xanh tươi. Tổng thể chùa gồm: cổng chùa, tường rào, ngôi chính điện, tháp đựng cốt, tăng xá, nhà hội, an xá,… Trong đó, nổi bật và quan trọng nhất là ngôi chính điện được xây dựng ở trung tâm của ngôi chùa. Bên ngoài của chính điện có các công trình phụ trợ, các trang trí phù điêu đắp nổi, thể hiện các hình tượng tiên nữ xinh đẹp, chim thần Krud nâng đỡ mái chùa, chằn Yeak hung dữ, đầu thần Bayon bốn mặt... được lấy từ văn hóa tín ngưỡng dân gian của người Khmer, ngoài ra có các dãy hành lang tạo không gian thoáng mát, trang trí các hình tượng những thế lực tà ác đã bị đức Phật quy phục. Trong không gian trong chính điện bài trí nhiều họa tiết tinh tế với một bệ thờ theo hình một tòa sen chia thành nhiều cấp và trang trí trau chuốt, cẩn thận để thờ đức Phật bên trên. Tượng Phật Thích Ca được chạm khắc hài hòa với không gian chính điện và có thể tạo dáng ở nhiều tư thế đứng, nằm, ngồi, thể hiện sự đa dạng, phong phú về ý nghĩa đạo đức và vẻ đẹp của Đức Phật. Nguồn: Trang Thông tin điện tử Sở Nội vụ tỉnh Kiên Giang

An Giang

8203 lượt xem

Xếp hạng : Di tích cấp quốc gia

Mở

Chùa Sóc Xoài

Chùa Sóc Xoài

Tọa lạc tại Khu phố Sơn Tiến, thị trấn Sóc Sơn huyện Hòn Đất, Chùa Sóc Xoài là ngôi chùa có kiến trúc điển hình của Phật giáo Nam tông Khmer tại tỉnh Kiên Giang. Chùa được công nhận Di tích lịch sử văn hóa cấp Quốc gia năm 1989. Được thành lập vào những năm cuối thế kỷ 18 do Hòa thượng Danh Phiêch sáng lập. Trải qua 19 đời trụ trì, chùa Sóc Xoài không chỉ là trung tâm sinh hoạt tôn giáo, tín ngưỡng, văn hóa cho chư tăng và đồng bào Khmer mà còn là nơi nuôi chứa cán bộ cách mạng trong cuộc đấu tranh chống Pháp, chống Mỹ cứu nước. Bên cạnh đó, chùa Sóc Xoài vừa là trường học dạy chữ viết, là trung tâm giáo dục cho đồng bào Khmer tại địa phương. Theo Đại đức Danh Hữu Giang, Phó trụ trì chùa Sóc Xoài cho biết, ngôi chùa Sóc Xoài được coi là một địa điểm che chở, quây quần bà con Khmer tại địa phương, là điểm kết nối văn hóa, tình đoàn kết dân tộc, là nhân tố làm đẹp thêm truyền thống dân tộc, tôn giáo của nhân dân Hòn Đất nói riêng và tỉnh kiên Giang nói chung. Theo Đại đức Danh Hữu Giang, Phó trụ trì chùa Sóc Xoài nói: Chùa Sóc Xoài có truyền thống đấu tranh trong cuộc đấu tranh giành độc lập dân tộc, thống nhất đất nước và ngày nay luôn thể hiện vai trò hướng dẫn đồng bào Khmer tu tập theo giáo lý Phật, thực hành văn hóa theo truyền thống dân tộc. Ngoài ra, chùa Sóc Xoài còn tái hiện một số dụng cụ dùng để đánh bắt cá, làm ruộng nương được làm bằng tre như: nôm, sniên, trúm, giỏ đựng cá,… và nhiều vật dụng sinh hoạt như: nọc cấy, gàu sòng, bừa.. đồng bào Khmer xưa. Theo sự phát triển của xã hội thì các công cụ lao động sản xuất cũng như các vật dụng phục vụ đời sống sinh hoạt của đồng bào Khmer xưa không còn phù hợp với thời đại. Các vật dụng này, theo thời gian sẽ dần đi vào quên lãng và hư hỏng nếu không được bảo quản và giữ gìn. Vì thế các vật dụng này được tái tạo lại với mục đích cho con cháu sau này biết đến các hoạt động sản xuất và nét đẹp văn hóa của ông cha từ thời xa xưa. Về trường học, ở chùa Sóc Xoài thì có dạy tiếng Bali, tiếng săncrít và kinh luận giới. Trong đó, có ngôn ngữ Khmer, giới luật của đức Phật. Bên cạnh đó, còn phối hợp để mở lớp trung cấp Luật. Lớp này là để cho Chư tăng và phật tử hiểu được cái cốt lõi là chính sách, là đường lối pháp luật của nhà nước mình để cho nắm rõ, nhất là luật về tôn giáo, khi mình hiểu rõ mình sẽ dễ hoạt động trong cộng đồng mình và trong chùa mình muốn xây dựng hoặc muốn gì đó cũng không vi phạm pháp luật. Bên cạnh việc dạy chữ, đào tạo kiến thức về văn hóa, về pháp luật cho chư tăng, phật tử, chùa Sóc Xoài còn bảo tồn, lưu giữ bản sắc văn hóa dân tộc thông qua việc tổ chức chương trình văn nghệ, thi diễn thời trang. Thông qua các lễ hội được tổ chức đúng truyền thống văn hóa, giúp giới trẻ người Khmer tại địa phương hiểu biết, tôn quý giá trị văn hóa truyền thống, từ đó hiểu đúng ý nghĩa của lễ hội, bảo tồn giá trị văn hóa dân tộc, nâng cao vai trò của người Khmer trong xây dựng cộng đồng, xây dựng và bảo vệ đất nước. Nguồn: Cổng thông tin điện tử Sở Văn hóa và Thể thao Kiên Giang

An Giang

11517 lượt xem

Xếp hạng : Di tích cấp quốc gia

Mở

Di tích lịch sử và Thắng cảnh MoSo

Di tích lịch sử và Thắng cảnh MoSo

Di tích lịch sử và thắng cảnh Mo So thuộc ấp Ba Núi, xã Bình An, huyện Kiên Lương (Kiên Giang). Mo So tiếng Khmer nghĩa là núi vôi, hay đá trắng. Ngọn núi này có diện tích 23,5ha. Mo So được Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch xếp hạng Di tích lịch sử và thắng cảnh cấp quốc gia ngày 13/2/1995. Thời chống Pháp, Mo So là nơi đóng quân của Công binh xưởng Quân khu 9, Công binh xưởng 18 chế tạo, sửa chữa vũ khí, cung cấp cho quân ta ở chiến trường Tây Nam Bộ. Những năm 1950, địch mở nhiều cuộc càn quét vào hậu cứ vùng giải phóng, trong đó có Mo So nhằm cắt nguồn hậu cần, làm suy yếu sức mạnh tiến công của quân, dân ta. Sáng ngày 4/3/1951, địch đánh Mo So. Pháo từ biển bắn vào tới tấp, binh khí hỏa lực từ máy bay trút xuống. Mo So rền vang trong cơn mưa đạn, không gian bao trùm một màu ảm đạm. Lực lượng ta chỉ có 60 đồng chí, chiến đấu anh dũng. Trưa cùng ngày, đồng đội nghiêng mình vĩnh biệt anh Thạch Xiêm, người Khmer đã anh dũng hy sinh để bảo vệ đồng đội và Công binh xưởng 18. Thời kháng chiến chống Mỹ, Mo So tiếp tục là căn cứ vững chắc của Huyện ủy Hà Tiên. Đây cũng là điểm chốt quan trọng trên tuyến đường 1C chi viện vũ khí từ bắc vào nam, thông qua tỉnh Kampốt (Vương quốc Campuchia) về vùng U Minh Thượng. Giữa tháng 7/1969, các cơ quan của Hà Tiên chuyển về Mo So. Tháng 7/1970, địch bao vây miệng núi Mo So. Chúng rải chất hóa học, Mo So từ một mầu xanh của núi rừng chỉ còn trơ đá. Nhiều chiến sĩ hy sinh phải mang ra chân núi Mo So chôn cất. Không lùi bước trước quân thù, ý chí của lực lượng ta khi ấy như ngọn núi Mo So, sừng sững, hiên ngang. Từ tháng 7/1969 đến tháng 4/1970, tại chiến trường Mo So, quân ta tiêu diệt hơn 4.000 tên địch, phá hủy 80 xe tăng, bắn rơi 10 máy bay. Chiến thắng Mo So góp phần cùng thắng lợi của quân và dân ta trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước. Theo các nhà khảo cổ học Việt Nam, núi Mo So có hơn 20 hang lớn nhỏ, có những hang rất lớn chứa hàng nghìn người. Theo tư liệu khảo cổ học Việt Nam, Mo So và nhiều núi đá vôi khác ở huyện Kiên Lương được hình thành vào khoảng 240 triệu năm trước. Phần chân núi còn để lại dấu ngấm nước biển lõm sâu vào vách đá, là dấu tích khoảng 4.000 đến 5.000 năm trước Công nguyên. Mo So tuyệt đẹp và thơ mộng. Bảo vệ, tôn tạo và phát triển du lịch Di tích lịch sử và thắng cảnh Mo So không chỉ là bảo vệ cảnh sắc thiên nhiên, sự phát triển bền vững của một hệ sinh thái núi đá vôi, hang động, mà còn là bảo vệ chiến tích của cha anh. Nơi đây đã từng bao bọc, che chở những người con anh dũng đã góp phần làm nên lịch sử. Nguồn: Du lịch Kiên Giang

An Giang

8252 lượt xem

Xếp hạng : Di tích cấp quốc gia

Mở