Di tích lịch sử
Việt NamHiệp Thiên Cung
Hiệp Thiên Cung nằm tại quận Cái Răng, thành phố Cần Thơ, là một công trình tín ngưỡng lâu đời của cộng đồng người Hoa. Được hình thành từ thế kỷ XIX, đến năm 1856, ngôi miếu được tu sửa, mở rộng và mang tên Quan Đế Miếu. Do thờ Quan Thánh Đế Quân, Phúc Đức Chính Thần và Thiên Hậu Thánh Mẫu, nơi đây về sau được gọi là Hiệp Thiên Cung. Trải qua hơn 160 năm, Hiệp Thiên Cung vẫn giữ được vẻ cổ kính với kiến trúc hình chữ “Quốc”, gồm bốn dãy nhà khép kín và khoảng giếng trời ở trung tâm. Nóc cung nổi bật với hình lưỡng long tranh châu, mái lợp ngói âm dương, nhiều cấu kiện gỗ, đá được chạm khắc tinh xảo. Bên trong còn lưu giữ hệ thống hoành phi, liễn đối và nhiều tác phẩm trang trí mang đậm phong cách nghệ thuật truyền thống. Không chỉ có giá trị về kiến trúc, Hiệp Thiên Cung còn là nơi sinh hoạt tín ngưỡng, văn hóa cộng đồng. Hằng năm, nơi đây diễn ra nhiều lễ hội như Nguyên Tiêu, Vu Lan, Vía Bà Thiên Hậu và Vía Ông Quan Thánh Đế Quân. Với những giá trị đặc sắc, Hiệp Thiên Cung được xếp hạng Di tích cấp quốc gia, trở thành một điểm nhấn văn hóa góp phần gìn giữ bản sắc của cộng đồng người Hoa và di sản văn hóa Cần Thơ. Nguồn: Báo Cần Thơ
Cần Thơ
560 lượt xem
Xếp hạng : Di tích cấp quốc gia
Đền thờ Chủ tịch Hồ Chí Minh
Đền thờ Chủ tịch Hồ Chí Minh tọa lạc tại khóm Vĩnh Hội, phường Long Đức, tỉnh Vĩnh Long, là di tích lịch sử văn hóa cấp quốc gia, đồng thời là biểu tượng cho lòng kính yêu Bác Hồ và tinh thần cách mạng kiên cường của nhân dân miền Nam. Đền được khởi công ngày 10/3/1970, giữa những năm tháng chiến tranh ác liệt. Công trình được xây dựng trên một giồng cát cao, diện tích ban đầu hơn 1.223m². Để tránh sự phát hiện và pháo kích của địch, người dân phải bí mật thi công vào ban đêm. Sau nhiều tháng gian khó, đền được khánh thành vào ngày 26/1/1971. Lời thề “Quyết tâm đánh bại kẻ thù để làm quà dâng Bác” đã thể hiện tình cảm sâu sắc và quyết tâm của quân dân Nam Bộ. Trong chiến tranh, đền nhiều lần bị địch càn quét, đốt phá và bắn phá. Tuy nhiên, người dân địa phương vẫn kiên trì bảo vệ, từng bước xây dựng lại đền kiên cố hơn. Dù bom đạn tàn phá, công trình vẫn được gìn giữ, trở thành biểu tượng cho ý chí bất khuất và lòng son sắt của nhân dân miền Nam đối với Bác Hồ. Ngày nay, khu di tích có diện tích khoảng 5,4 ha, được xây dựng và tôn tạo qua nhiều giai đoạn. Nổi bật là Nhà sàn Bác Hồ, được phục dựng năm 2012 theo mô hình nhà sàn của Bác tại Hà Nội. Khu di tích còn có không gian cây xanh, nhà trưng bày cùng nhiều hình ảnh, hiện vật giới thiệu về quá trình xây dựng và bảo vệ đền trong những năm kháng chiến. Hơn nửa thế kỷ qua, Đền thờ Bác Hồ ở Vĩnh Long không chỉ là nơi người dân dâng hương tưởng nhớ Chủ tịch Hồ Chí Minh mà còn là “địa chỉ đỏ” giáo dục truyền thống yêu nước, cách mạng cho các thế hệ. Di tích là minh chứng cho tình cảm sâu nặng của đồng bào miền Nam đối với Bác, đồng thời góp phần nhắc nhớ về tinh thần đoàn kết, ý chí đấu tranh vì độc lập, tự do của dân tộc. Nguồn: Thời báo VTV
Vĩnh Long
511 lượt xem
Xếp hạng : Di tích cấp quốc gia
Đình làng Sét
Đình làng Sét nằm ở thôn Sét, xã Định Tân, tỉnh Thanh Hóa, vùng đất được hình thành từ khoảng thế kỷ XIV–XV. Theo lịch sử làng, ông Trương Cảnh Tường, người quê Yên Vực, Hoằng Hóa, là người đầu tiên đến khai hoang, lập ấp tại núi Quy Sơn. Từ vùng đất ban đầu mang tên Ấp Sát, cư dân dần mở rộng xuống đồng bằng, hình thành làng Sát, nay là làng Sét. Nổi bật trong không gian văn hóa của làng là Đình làng Sét, được xây dựng vào năm 1595, dưới thời vua Lê Thế Tông. Trải qua hơn 400 năm với nhiều biến động lịch sử và những lần trùng tu, tôn tạo, ngôi đình vẫn lưu giữ được nhiều nét kiến trúc cổ kính. Cổng đình nổi bật với hai cột cao gần 10m cùng đôi câu đối, tạo nên vẻ uy nghiêm cho di tích. Đình làng Sét là nơi thờ Đô đốc quận công Thượng tướng quân Trương Cảnh Phúc, Trương Đình Lễ và Ngọc Nữ thần nương Trương Thị Phương – những nhân vật được nhân dân địa phương tôn kính. Không chỉ là nơi sinh hoạt tín ngưỡng, đình còn gắn bó với đời sống cộng đồng và lịch sử phát triển của làng Sét. Hằng năm, từ ngày 10 đến 12 tháng 3 âm lịch, người dân địa phương tổ chức lễ hội Kỳ phúc, cầu mong mưa thuận gió hòa, cuộc sống bình an, no ấm. Nguồn: Báo phát thanh và truyền hình Thanh Hóa
Thanh Hóa
556 lượt xem
Xếp hạng : Di tích cấp quốc gia
Đình Phú Đa
Đình Phú Đa là một ngôi đình cổ thuộc xã Bình Phú, thành phố Hà Nội, được Bộ Văn hóa và Thông tin xếp hạng Di tích kiến trúc nghệ thuật năm 1993. Đây cũng là nơi gắn với truyền thống múa rối nước nổi tiếng của làng Gia, tên Nôm của thôn Phú Đa, từng thường xuyên biểu diễn rối nước tại chùa Thầy. Đình có kiến trúc một tòa nhà ngang gồm 5 gian 2 chái, bốn mái đao cong và hệ thống 7 bộ vì theo kiểu thượng rường, hạ bẩy. Các cấu kiện gỗ trong đình còn lưu giữ nhiều dấu tích kiến trúc cổ. Đặc biệt, những mảng chạm khắc rồng, hình người cưỡi ngựa, thiếu nữ ca hát thể hiện trình độ nghệ thuật tinh tế, tiêu biểu cho mỹ thuật thế kỷ XVIII. Hình tượng rồng với mắt lồi, mũi lớn, tai dơi, bờm lưỡi mác, thân uốn cong sinh động mang đậm phong cách nghệ thuật thời Hậu Lê. Đình Phú Đa thờ Đào Khang, một vị tướng thời Hai Bà Trưng. Theo truyền thuyết, ông có công giúp Hai Bà Trưng đánh giặc Tô Định, đồng thời lập trang trại tại vùng Phú Đa, dạy dân canh tác, khơi mương, đào ngòi, góp phần xây dựng cuộc sống của cư dân địa phương và được tôn làm phúc thần. Bên cạnh giá trị lịch sử và kiến trúc, đình còn lưu giữ nhiều đồ thờ có giá trị nghệ thuật thời Lê và thời Nguyễn, đặc biệt là bộ tượng rối nước cổ từng được sử dụng trong các buổi biểu diễn. Bàn thờ tổ nghề múa hát, tục gọi là Đức Thánh Nhà Trò, cũng là minh chứng cho truyền thống nghệ thuật dân gian lâu đời của làng. Hằng năm, hội làng được tổ chức vào mùng 3 tháng 4 âm lịch, với các nghi lễ tưởng niệm Đào Khang cùng các hoạt động múa gậy và múa rối nước tại ao trước đình. Nguồn: Hà Nội Danh thắng và Di tích
Hà Nội
587 lượt xem
Xếp hạng : Di tích cấp quốc gia
Đình Phú Điền
Đình Phú Điền là một công trình kiến trúc cổ tiêu biểu nằm trong Quần thể Di tích quốc gia đặc biệt Bà Triệu, mang đậm dấu ấn văn hóa làng xã truyền thống của xứ Thanh. Di tích gắn liền với việc thờ Triệu Thị Trinh – Bà Triệu, người nữ anh hùng dân tộc đã đứng lên chống quân Ngô vào thế kỷ III. Theo truyền thuyết, sau khi Bà Triệu hy sinh trên núi Tùng, người dân Phú Điền đã lập đình thờ bà và tôn làm Thành hoàng làng. Đến thế kỷ XVIII, đình được xây dựng theo phong cách kiến trúc đình làng truyền thống. Trải qua nhiều thế kỷ, công trình vẫn được nhân dân gìn giữ tương đối nguyên vẹn và trở thành nơi sinh hoạt văn hóa, tín ngưỡng của cộng đồng. Đình Phú Điền gồm các hạng mục chính như Nghinh môn, Đại đình, tiền đường và hậu cung. Điểm nổi bật của di tích là nghệ thuật chạm khắc gỗ tinh xảo với nhiều hình tượng tứ linh: long, ly, quy, phượng, cùng các họa tiết cây cỏ, hoa lá và hình ảnh voi, ngựa, hươu, gà… Những mảng chạm khắc không chỉ tạo nên vẻ đẹp nghệ thuật mà còn thể hiện ước vọng của người dân về cuộc sống bình yên, no đủ. Đặc biệt, đình hiện còn lưu giữ 64 sắc phong cổ qua các triều đại phong kiến, được xem là những tư liệu quý phản ánh lịch sử và tín ngưỡng của cộng đồng địa phương. Hằng năm vào tháng 2 âm lịch, lễ hội truyền thống được tổ chức tại Phú Điền để tưởng nhớ công lao của Bà Triệu, với các nghi lễ tế, rước kiệu cùng nhiều hoạt động văn hóa, trò chơi dân gian. Nguồn: Báo phát thanh và truyền hình Thanh Hóa
Thanh Hóa
562 lượt xem
Xếp hạng : Di tích cấp quốc gia đặc biệt
Bích Câu Đạo Quán
Bích Câu Đạo Quán, nằm trên phố Cát Linh, Hà Nội, là một di tích văn hóa – lịch sử gắn với những huyền tích về Trần Tú Uyên, nơi được ví như một “bồng lai tiên cảnh” giữa kinh thành Thăng Long xưa. Theo truyền thuyết, xưa kia Trần Tú Uyên là một chàng thư sinh dựng quán đọc sách trên gò cao đầu phố Bích Câu. Trong một lần đi dự hội, chàng gặp một cô gái xinh đẹp rồi đem lòng tương tư. Sau đó, chàng mua một bức tranh tố nữ giống người con gái ấy về nhà. Kỳ lạ thay, từ trong tranh bước ra một tiên nữ tên Giáng Kiều. Hai người nên duyên, cùng nhau bốc thuốc cứu người, tu tiên học đạo và làm nhiều việc thiện. Sau khi đắc đạo, Trần Tú Uyên được vua Lê Thánh Tông truy phong là “An Quốc chân nhân”. Từ cuối thế kỷ XV, đầu thế kỷ XVI, nơi đây được phát triển thành một đạo quán mang đậm dấu ấn Đạo giáo. Bích Câu Đạo Quán từng là nơi các đạo sĩ tu luyện, đồng thời cũng là chốn tao nhân mặc khách, quan lại và nho sinh tìm đến thưởng cảnh, ngâm vịnh thơ ca. Trải qua nhiều biến động, di tích từng xuống cấp và bị tàn phá, nhưng sau đó được nhân dân nhiều lần tu bổ. Ngày nay, Bích Câu Đạo Quán có kiến trúc gồm Nghi môn, tiền tế, hậu cung, nhà Mẫu và nhà khách, đồng thời lưu giữ nhiều tượng thờ, bia đá và hiện vật có giá trị. Nguồn: Báo Dân Việt
Hà Nội
575 lượt xem
Xếp hạng : Di tích cấp quốc gia
Hang Xóm Trại và Mái đá Làng Vành
Hang Xóm Trại và Mái đá Làng Vành là hai di tích khảo cổ đặc biệt tiêu biểu cho Văn hóa Hòa Bình, phân bố trên địa bàn tỉnh Phú Thọ theo đơn vị hành chính hiện nay. Hai di tích có giá trị đặc biệt trong việc nghiên cứu quá trình cư trú, sinh hoạt và phát triển của cư dân tiền sử ở Việt Nam và Đông Nam Á. Hang Xóm Trại nằm bên bờ suối Lạn, thuộc khu vực xóm Trại Sào. Tại đây, các nhà khảo cổ đã phát hiện tầng văn hóa dày, chứa nhiều dấu tích cư trú của người tiền sử như bếp lửa, mộ táng, công cụ đá, công cụ xương, xương động vật, vỏ ốc và hạt quả. Đặc biệt, hàng loạt công cụ đá mang đặc trưng Văn hóa Hòa Bình cho thấy nơi đây từng là không gian cư trú, chế tác công cụ và sinh hoạt lâu dài của con người từ khoảng 21.000 đến 2.500 năm cách ngày nay. Di tích còn được xem là kho mẫu hạt quả nguyên thủy đặc biệt, có giá trị nghiên cứu về môi trường và đời sống cư dân tiền sử. Cách đó không xa, Mái đá Làng Vành là một mái đá rộng, thoáng với tầng văn hóa dày khoảng 3,7m. Các cuộc khai quật đã phát hiện nhiều bếp lửa, công cụ đá, công cụ xương – sừng, bàn kê bằng đá, xương động vật và vỏ nhuyễn thể. Những phát hiện này phản ánh sinh động hoạt động kiếm sống, chế biến thức ăn, chế tác công cụ và đời sống tinh thần của cư dân Văn hóa Hòa Bình. Với tầng văn hóa dày, hệ thống di vật phong phú và những bằng chứng khảo cổ quan trọng, Hang Xóm Trại và Mái đá Làng Vành được đánh giá là những địa điểm gốc và trung tâm của Văn hóa Hòa Bình ở Việt Nam, góp phần làm sáng tỏ lịch sử phát triển của cư dân tiền sử tại Việt Nam và Đông Nam Á. Theo: Cục Di sản văn hóa
Phú Thọ
197 lượt xem
Xếp hạng : Di tích cấp quốc gia đặc biệt
Lăng mộ và Đền thờ Nguyễn Xí
Lăng mộ và Đền thờ Nguyễn Xí là di tích lịch sử, kiến trúc nghệ thuật tiêu biểu của xứ Nghệ, gắn với cuộc đời và sự nghiệp của Cương Quốc công Nguyễn Xí – một danh tướng, nhà chính trị lỗi lạc dưới triều Hậu Lê. Nguyễn Xí sinh năm 1397 tại Thượng Xá, nay thuộc xã Đông Lộc, tỉnh Nghệ An. Ông tham gia khởi nghĩa Lam Sơn từ những ngày đầu và cùng nghĩa quân lập nhiều chiến công lớn như Bồ Đằng, Trà Lân, Tốt Động – Chúc Động, Xương Giang và Đông Quan. Sau khi đất nước giành độc lập, ông tiếp tục phò tá qua bốn triều vua Lê, có nhiều đóng góp trong xây dựng và bảo vệ quốc gia Đại Việt. Không chỉ có công lao trên chính trường và trận mạc, Nguyễn Xí còn chú trọng khai hoang, lập làng, phát triển giao thông, chợ búa và đời sống nhân dân, đặc biệt tại vùng Cửa Lò – Cửa Hội. Những đóng góp ấy đã để lại dấu ấn sâu đậm trong lịch sử hình thành và phát triển của vùng đất Nghệ An. Nguyễn Xí mất năm 1465, hưởng thọ 69 tuổi và được an táng tại quê nhà. Hai năm sau, vua Lê Thánh Tông cho xây dựng đền thờ ông. Ngày nay, khu lăng mộ và đền thờ cách nhau khoảng 300 mét, nằm giữa không gian làng quê thanh bình. Đền có kiến trúc “nội công, ngoại quốc”, nổi bật với hồ bán nguyệt, hệ thống nghi môn, các công trình gỗ được chạm khắc tinh xảo cùng nhiều đề tài tứ linh, tứ quý và hoa lá truyền thống. Đây là địa chỉ văn hóa – lịch sử quan trọng, góp phần giáo dục truyền thống yêu nước, đạo lý trung nghĩa và niềm tự hào về quê hương xứ Nghệ. Nguồn: Cục Di sản văn hóa
Nghệ An
516 lượt xem
Xếp hạng : Di tích cấp quốc gia đặc biệt
Đình An Vĩnh
Đình An Vĩnh là một trong những ngôi đình cổ tiêu biểu trên đảo Lý Sơn, mang giá trị đặc biệt về lịch sử, văn hóa và chủ quyền biển đảo của Việt Nam. Đình được xây dựng từ khoảng thế kỷ XVIII, trải qua nhiều biến động của thời gian, chiến tranh và thiên tai nhưng vẫn được các thế hệ người dân gìn giữ, trùng tu và bảo tồn. Đình tọa lạc gần cảng biển Lý Sơn, có khuôn viên khoảng 2.000m², mặt đình hướng về đất liền. Công trình mang phong cách kiến trúc thời Nguyễn, có kết cấu hình chữ Tam với đình hạ, đình trung và đình thượng liên kết với nhau. Các họa tiết tứ linh, ngũ phúc được thể hiện trên mái và các cấu kiện kiến trúc, gửi gắm ước vọng về cuộc sống bình an, no đủ của cộng đồng cư dân biển đảo. Đình An Vĩnh còn là nơi thờ các vị tiền hiền và là trung tâm sinh hoạt cộng đồng của 13 dòng họ trên đảo Lý Sơn. Đặc biệt, đây là một trong những địa điểm quan trọng diễn ra Lễ Khao lề thế lính Hoàng Sa vào tháng 3 âm lịch hằng năm. Nghi lễ tưởng nhớ những người lính năm xưa đã vâng mệnh triều đình vượt biển ra Hoàng Sa, Trường Sa thực thi nhiệm vụ, góp phần bảo vệ và khẳng định chủ quyền biển đảo của Việt Nam. Cùng với giá trị kiến trúc và các sinh hoạt văn hóa truyền thống, Đình An Vĩnh là nơi lưu giữ những ký ức lịch sử của cộng đồng cư dân Lý Sơn, thể hiện đạo lý “uống nước nhớ nguồn”, lòng yêu nước và ý thức gìn giữ chủ quyền biển đảo. Đình An Vĩnh đã được xếp hạng Di tích quốc gia, trong khi Lễ Khao lề thế lính Hoàng Sa được công nhận là Di sản văn hóa phi vật thể quốc gia. Ngày nay, di tích là điểm đến giàu ý nghĩa đối với du khách khi đến Lý Sơn, góp phần giới thiệu những giá trị văn hóa đặc sắc và truyền thống bảo vệ chủ quyền biển đảo của dân tộc Việt Nam. Nguồn: Báo và Phát thanh, Truyền hình Quảng Ngãi
Quảng Ngãi
574 lượt xem
Xếp hạng : Di tích cấp quốc gia
Lẫm Phú Lâm
Lẫm Phú Lâm là một di tích đặc sắc của vùng đất Phú Yên, mang giá trị nổi bật về lịch sử, văn hóa và kiến trúc nghệ thuật. Di tích tọa lạc tại phường Phú Yên, tỉnh Đắk Lắk, trong khuôn viên rộng khoảng 4.000m². Lẫm được hình thành từ xa xưa, ban đầu là nơi chứa nông sản của thôn Phú Lâm, đồng thời là nơi thờ tiền hiền Huỳnh Đức Chiếu – người có công khai phá, tạo dựng vùng đất này. Đây cũng từng là nơi làm việc của bộ máy quản lý thôn và hội họp bàn việc chung của cộng đồng. Điểm đặc biệt nhất của Lẫm Phú Lâm là kiến trúc nhà lá mái, một kiểu kiến trúc truyền thống mang tính đặc thù của Phú Yên và Nam Trung Bộ. Lẫm gồm 3 gian chính và 2 gian phụ, có hệ thống khung gỗ vững chắc với 26 cột. Đặc biệt, công trình có hai lớp mái: lớp mái dưới đắp đất nện trên nền nan tre và lớp mái trên lợp lá tranh, vừa tạo sự bền chắc, vừa thích nghi với khí hậu khắc nghiệt của miền Trung. Bên trong lẫm còn lưu giữ nhiều mảng chạm khắc gỗ tinh xảo với các đề tài truyền thống như long, phượng, tùng, mai, trúc, cúc, chữ thọ, tùng lộc, thể hiện trình độ mỹ thuật và kỹ thuật của nghệ nhân xưa. Trong khuôn viên di tích còn có các công trình tín ngưỡng, cùng hệ thống sắc phong cổ có giá trị về lịch sử và văn hóa. Là một trong những công trình nhà gỗ truyền thống còn tương đối nguyên vẹn, Lẫm Phú Lâm có ý nghĩa đặc biệt trong việc nghiên cứu lịch sử khai phá, đời sống cộng đồng và kiến trúc dân gian vùng Nam Trung Bộ. Nguồn: Báo Đắk Lắk điện tử.
Đắk Lắk
574 lượt xem
Xếp hạng : Di tích cấp quốc gia









