Di tích lịch sử

Việt Nam

Dinh thự Đèo Văn Long

Dinh thự Đèo Văn Long nằm trên địa phận xã Lê Lợi, huyện Sìn Hồ, Tỉnh Lai Châu. Theo kết quả khảo sát năm 1983 của Sở Văn hoá - Thông tin tỉnh Lai Châu thì công trình này được bắt đầu xây dựng từ năm 1916. Các tư liệu để lại về dinh thự và gia tộc họ Đèo tuy còn rất sơ khai, nhưng đều cho rằng tất cả các công việc chọn hướng, chọn vị trí đặt cổng chính, miếu thờ, nhà Đẳm (nhà thờ tổ tiên) đều được gia tộc họ Đèo thuê thầy địa lí xem xét cẩn thận. Hai kiến trúc sư một người Pháp, một người Trung Quốc được mời về để thiết kế và giám sát, vật liệu được đưa lên từ các tỉnh miền xuôi. Vì vậy, kiến trúc khu dinh thự mang đường nét phương Tây hòa quyện dáng dấp phương Đông, đồng thời là đặc trưng của nghệ thuật xây dựng và phong thuỷ của người Thái. Dinh thự có diện tích chừng hơn 1ha, do nhu cầu phòng thủ, đón tiếp các quan chức Chính phủ Đông Dương và để thoả mãn lối sống xa hoa của mình, họ Đèo đã tập trung dân phu, binh lực, thợ thuyền cho việc xây dựng quần thể dinh thự, đặt tại một vị trí hiểm yếu, nằm ở ngã ba nơi gặp nhau của con sông Đà, sông Nậm Na và suối Nậm Lay. Còn sau lưng dinh thự là núi cao, trước mặt là ngã ba sông (sông Đà, sông Nậm Na và suối Nậm Lay) có thể khống chế được con đường lên Phong Thổ, Mường Tè và xuôi về Hòa Bình, Sơn La, cũng như qua ngả Điện Biên sang Lào, địa thế hợp cho việc phòng thủ và chống lại quân địch, nếu thất bại có thể rút lui an toàn. Năm 1918, khu dinh thự đã hoàn thành với 8 đơn nguyên chính là: Cổng chính, nhà Đẳm, nhà ăn, nhà xoè, tháp nước, hầm nhốt phạm nhân, miếu thờ ma rừng và một nhà nữa có mặt hình chữ L (chưa rõ mục đích sử dụng). Ngoài ra, còn một số công trình bổ trợ khác như tường bao, cổng phụ, đường xe dẫn lên cổng chính, bậc thềm dài và hẹp dẫn xuống hầm nhốt phạm nhân, kho thóc, bến thuyền, nghĩa địa. Khu nhà chính được xây hai tầng bằng gạch đỏ, sàn gỗ, mái lợp ngói được tách ra từ những phiến đá, thường được gọi là đá đen (lúc mới tách đá mềm có thể dùng dao cắt được, nhưng khi gặp nắng đá sẽ cứng như sành). Xung quanh lâu đài là bức tường thành cao trên 3m, được xây bằng đá phiến dày 40 đến 50cm, rất vững chãi, trên tường có nhiều lỗ châu mai quan sát phía bên ngoài. Trước khu nhà chính có khoảng sân rộng để múa xoè khi Đèo Văn Long tổ chức tiệc tùng, tiếp khách. Có thể nói quần thể dinh thự là một “pháo đài bất khả xâm phạm” của vua Thái. Nói đến Đèo Văn Long là con thứ của Đèo Văn Trị và là một lãnh chúa của Khu tự trị Thái ở Liên bang Đông Dương. Gia đình họ Đèo vốn xuất thân từ một dòng dõi quý tộc tại Vân Nam (Trung Quốc), họ không phải những người phản động mà đã cùng nhau chung sống hòa thuận trên mảnh đất Lai Châu từ rất lâu. Những năm cuối thế kỉ XIX, hưởng ứng phong trào Cần Vương, dòng họ Đèo đã sát cánh cùng nghĩa quân Cờ Đen trấn giữ Sơn Tây và lập được nhiều chiến công. Thế nhưng sau những tổn thất khá lớn ở trận quyết chiến cùng sự nghi kị, thiếu thống nhất trong nội bộ, Đèo Văn Trị đã kí vào bản hiệp ước ngừng bắn vĩnh viễn với quân Pháp. Được Chính phủ Pháp bảo hộ, hậu thuẫn về tiền bạc và vũ khí, Pháp khôi phục cho Đèo Văn Trị cai quản vùng đất Sipsong Chuthai (12 xứ thái). Năm 1908, Đèo Văn Trị mất, trao lại quyền binh cho con là Đèo Văn Kháng, sau đó Kháng chết, Đèo Văn Long thay anh trai lên nắm quyền. Từ đây, với bản chất là kẻ tàn bạo, Đèo Văn Long gieo rắc bao nỗi khiếp sợ cho Nhân dân trong vùng. Ngoài việc cho quân lính đi cướp bóc vơ vét của cải của Nhân dân trong vùng, vua Thái còn đóng những chiếc thuyền lớn, lấy sông Đà làm trục giao thông chính chở lâm thổ sản mà hắn đã cướp được của Nhân dân địa phương mang xuống miền xuôi bán như: thuốc phiện, da hổ, da báo, mật gấu,… sau đó chở hàng hóa lên bán cho người dân địa phương. Sau giải phóng thị trấn Lai Châu (1952), Đèo Văn Long chạy sang Pháp lưu vong, dinh thự bị người dân phá hủy. Đến nay toàn bộ khu dinh thự đã trở thành phế tích, nhiều công trình bị mất hoàn toàn không thể xác định được hình dáng kiến trúc ban đầu. Năm 1980, dinh thự Đèo Văn Long được UBND tỉnh Lai Châu ra quyết định xếp hạng di tích cấp tỉnh và nằm trong kế hoạch phục dựng. Tuy nhiên từ năm 2010, công trình thủy điện Sơn La tích nước, một phần khu dinh thự của Đèo Văn Long bị chìm vĩnh viễn xuống lòng sông chỉ còn lại một ít phế tích. Nguồn: Báo Lai Châu

Lai Châu 6040 lượt xem

Xếp hạng : Di tích cấp tỉnh Mở cửa

Ngã ba Đông Dương

Ngã ba Đông Dương không chỉ nổi tiếng trong kháng chiến chống Mỹ mà nơi này ngày nay đang trở nên rất hấp dẫn du khách trên hành trình thăm Kon Tum - cực bắc Tây Nguyên Việt Nam. Địa danh ngã ba Đông Dương trên dãy Trường Sơn hùng vỹ luôn nằm trong ký ức lớp bộ đội, thanh niên xung phong trên đường vào chiến trường miền Nam, chiến trường C (Lào), chiến trường K (Campuchia) trong những năm tháng chiến tranh không thể nào quên. Đây là vùng đất được mệnh danh là một tiếng gà gáy cả ba nước cùng nghe. Nay vùng đất này đang trở thành một trong những điểm du lịch hấp dẫn du khách trong và ngoài nước. Nơi các địa danh đã đi vào lịch sử như ngã ba Đông Dương (nơi đường Trường Sơn Tây gặp đường Trường Sơn Đông thời kháng chiến ), di tích lịch sử chiến thắng Đắc Tô - Tân Cảnh tháng 4/1972; cột mốc biên giới do ba nước anh em Việt Nam - Lào - Campuchia cùng thống nhất xây dựng trên đỉnh núi cao hơn 1.000m so với mặt nước biển, cách thị trấn Playku khoảng 30 km. Cột mốc này do tỉnh Kon Tum tổ chức thi công xây dựng tháng 12/2007 dưới sự giám sát của chuyên gia ba nước có chung đường biên giới. Đại diện Bộ Ngoại giao ba nước cùng làm lễ khánh thành trọng thể vào ngày 18/1/2008. Cột mốc đặc biệt nặng 900 kg , làm bằng đá hoa cương hình trụ tam giác, cao 2 mét, trên mỗi mặt cột mốc quay về mỗi nước được gắn quốc huy, năm cắm mốc và tên quốc gia đó bằng chữ màu đỏ của chính nước đó. Đây là cột mốc thứ hai cùng ghi danh cả ba quốc gia được cắm trên mảnh đất Việt Nam. Cột mốc thứ nhất là của ba nước Việt Nam - Lào - Trung Quốc thống nhất xây dựng ở A Pa Chải (Điện Biên). Từ cột mốc ngã ba biên giới, du khách có cơ hội ngắm nhìn toàn cảnh vùng đất ngã ba Đông Dương. Cũng tại đây, du khách muốn thăm hai nước Lào và Campuchia có thể làm thủ tục xuất cảnh tại đồn biên phòng Việt Nam ở cửa khẩu quốc tế Bờ Y. Nguồn: Du lịch Kon Tum

Quảng Ngãi 5459 lượt xem

Xếp hạng : Di tích cấp quốc gia Mở cửa

Vườn quốc gia Chư Mom Ray

Vườn quốc gia Chư Mom Ray nằm trên địa phận hai huyện Sa Thầy và Ngọc Hồi (tỉnh Kon Tum). Ngay cạnh Vườn quốc gia Chư Mom Ray là Vườn quốc gia Virachey của Campuchia và Khu bảo tồn Đông Nam Ghong của Lào. Hệ thực vật rừng quốc gia Chư Mom Ray phong phú, đa dạng về số loài và trạng thái. Nơi đây có khoảng 1.534 loài thực vật, trong đó có 113 loài quý hiếm thuộc họ phong lan, ngành hạt trần, các loài họ dầu, lớp tuế, kim giao, thông tre, trắc, cẩm lai… Hệ động vật Vườn quốc gia Chư Mom Ray ghi nhận 718 loài, gồm 115 loài động vật có vú, 275 loài chim, 41 loài bò sát, lưỡng cư, 108 loài cá nước ngọt, 179 loài côn trùng. Trong đó có 124 loài quý hiếm có tên trong sách Đỏ Việt Nam và thế giới, điển hình như: vượn đen má hung, mang Trường Sơn, bò tót, hổ Đông Dương, voi, gấu ngựa, beo lửa…, thằn lằn giả 4 vạch mới, rắn sài mép trắng, rắn trán cúc…, chim hồng hoàng, công, đại bàng đất… Nơi đây từng ghi dấu ấn nhiều trận chiến ác liệt thời kỳ “xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước”. Một số nơi trong rừng vẫn còn dấu tích các hầm hào, hố bom... Tổng diện tích rừng Chư Mom Ray đặc dụng vào khoảng 54.583,59 ha; rừng sản xuất 1.665,64 ha; vùng đệm 188.749 ha. Gồm các xã Bờ Y, Sa Loong (huyện Ngọc Hồi); Rờ Kơi, Sa Nhơn, Sa Sơn, Mô Rai, Ya Xiêr, thị trấn Sa Thầy (huyện Sa Thầy. Đây là nơi sinh sống của cộng đồng các dân tộc thiểu số, nổi bật là người Gia Rai và người Rơ Măm. Điểm đáng tự hào của Vườn quốc gia là có tới 114 loài trong sách đỏ Việt Nam và thế giới. Đặc biệt, cánh đồng cỏ (thung lũng Ja Book) rộng vào loại lớn nhất Việt Nam (hơn 9.000ha) đã thu hút nhiều loài thú móng guốc và thú ăn thịt quan trọng sinh sống như mang Trường Sơn, trâu rừng, hổ, bò tót, bò rừng, voi, gấu ngựa, beo lửa… và hàng trăm loài bò sát, lưỡng cư. Ngoài ra, trên các đỉnh núi cao như Ngọc Linh, Ngọc Tu Ba, đỉnh Chư Mom Ray… là nơi sinh sống của nhiều loài linh trưởng và các loài thú sinh sống trên cây như vượn, vọc, các loài chim quý như hồng hoàng, đại bàng đất, công… Đây là một trong 94 khu rừng đặc dụng của Việt Nam, có diện tích rừng nguyên sinh lớn nhất và chứa nguồn gene quý hiếm. Năm 2004, Vườn quốc gia Chư Mom Ray đã được Hiệp hội các nước Đông Nam Á công nhận là Di sản ASEAN. Nguồn: Cục du lịch quốc gia Việt Nam

Quảng Ngãi 5296 lượt xem

Xếp hạng : Di tích cấp quốc gia Mở cửa

Di tích lịch sử và danh thắng Măng Đen

Khu du lịch sinh thái Măng Đen nằm ở thị trấn Măng Đen, huyện Kon Plông, tỉnh Kon Tum. Măng Đen là cụm cứ điểm của địch, án ngữ trên đường 5 từ Kon Tum đi Quảng Ngãi, nay là quốc lộ 24, cách thành phố Kon Tum khoảng 55 km về phía Đông Bắc. Đây là cụm cứ điểm của địch nằm sâu trong vùng giải phóng của ta. Bao quanh cứ điểm là hệ thống các vật cản phức tạp dày đặc với 10 lớp kẽm gai và 2 lớp rào. Xen kẽ các lớp hàng rào là mìn chống bộ binh, xe tăng và tuyến hào hình lòng máng rộng 4m, sâu 2,5m, cắm chông dày đặc. Bên trong xây dựng hàng trăm lô cốt bằng bê tông cốt thép, gỗ đất, có đường hầm nối liền các công sự và ba góc có ba lô cốt mẹ bằng bê tông cốt thép kiên cố. Vào giữa năm 1974, Tỉnh ủy Kon Tum và Bộ Tư lệnh B3 đã chủ trương tấn công tiêu diệt các cứ điểm của địch nhằm mở rộng vùng giải phóng, tạo đà tiến về vùng tạm chiếm Kon Tum. Sau thời gian chuẩn bị, đúng 5 giờ 30 phút sáng ngày 3 tháng 10 năm 1974, Trung đoàn trưởng Trung đoàn Bộ binh 28, Sư đoàn 10, Quân đoàn 3 ra lệnh nổ súng tấn công sở chỉ huy địch. 7 giờ 55 phút hoả lực của ta đồng loạt bắn vào các mục tiêu. Sau thời gian ngắn phát triển tấn công, lúc 10h45′ ta làm chủ hoàn toàn chốt điểm M12. Trước sức mạnh tấn công của lực lượng H16, H29, cùng bộ đội chủ lực Trung đoàn Bộ binh 28 và một số binh chủng kỹ thuật của ta, ngày 12 tháng 10 năm 1974, cứ điểm cuối cùng của địch nằm sâu trong vùng giải phóng phía Đông Bắc Kon Tum đã bị xoá sổ hoàn toàn. Chiến thắng Măng Đen tháng 10 năm 1974, quân ta đã đập tan cứ điểm cuối cùng của địch nằm sâu trong vùng giải phóng của ta, phá vỡ tuyến hành lang an toàn của địch ở phía Bắc thị xã Kon Tum, làm cho quân địch ở chiến trường Bắc Tây Nguyên bị uy hiếp mạnh. Chiến thắng này đã giải phóng hàng ngàn người dân với một vùng đất rộng lớn là một niềm cổ vũ lớn lao thúc đẩy hành động cách mạng của nhân dân, nhất là đồng bào các dân tộc ít người; đồng thời, củng cố xây dựng chính quyền và lực lượng vũ trang địa phương phát triển vững mạnh. Trên đà thắng lợi, lực lượng vũ trang đã bao vây quận lỵ Măng Bút, giải phóng toàn bộ nhân dân trong vùng. Cùng với thắng lợi tại các cứ điểm Đăk Pét, Măng Bút, chiến thắng Măng Đen đã góp phần mở rộng vùng giải phóng đến sát thị xã Kon Tum, tạo thế và lực mới cho chiến dịch Tây Nguyên, mở đường giải phóng Sài Gòn, kết thúc thắng lợi chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, thống nhất đất nước. Khu di tích lịch sử, danh lam thắng cảnh Măng Đen đã được công nhận là Di tích Lịch sử – Danh thắng cấp quốc gia vào ngày 13 tháng 4 năm 2002. Nguồn:Du lịch Kon Tum

Quảng Ngãi 7616 lượt xem

Xếp hạng : Di tích cấp quốc gia Mở cửa

Khu chứng tích Kon Hrinh

Khu chứng tích Nhà thờ Kon Hơ ring thuộc làng Kon Hơ ring, xã Diên Bình, huyện Đăk Tô, tỉnh Kon Tum là nơi ghi dấu tội ác của đế quốc Mỹ và ngụy quyền Sài Gòn. Tại đây, vào đêm 25/5/1972, đế quốc Mỹ và ngụy quyền Sài Gòn đã dùng máy bay ném bom, oanh tạc nhà thờ, tu viện Kon Hơ ring, giết chết 500 người dân vô tội, làm hàng trăm người khác bị thương. Cách đây hơn 10 năm, để tưởng nhớ đồng bào đã thiệt mạng bởi tội ác của đế quốc Mỹ và ngụy quyền Sài Gòn, tỉnh Kon Tum đầu tư xây dựng Khu chứng tích Nhà thờ Kon Hơ ring. Công trình được xây dựng kiên cố, với nhiều hạng mục chính như: Bia tưởng niệm với nội dung phản ánh tội ác của kẻ thù, khuôn viên cây xanh, hàng rào... Sau khi hoàn thành, Khu chứng tích Nhà thờ Kon Hơ ring trở thành điểm đến của người dân địa phương cũng như du khách trong và ngoài tỉnh. Nhà Thờ Kon Hơ ring là một công trình kiến trúc tôn giáo nổi bật tại Xã Diên Bình, Huyện Đắk Tô, Tỉnh Kon Tum. Được xây dựng vào năm 1959, nhà thờ này là nơi tụ điểm của cộng đồng người dân K'ho, một dân tộc thiểu số sinh sống chủ yếu tại địa phận Kon Tum. Nhà Thờ Kon Hơ ring nổi bật với kiến trúc độc đáo, lấy cảm hứng từ nền văn hóa truyền thống của dân tộc K'ho. Các mái chùa được làm từ tre và lá dừa, tạo nên vẻ đẹp hoang sơ, mộc mạc mà không kém phần ấn tượng. Bên trong nhà thờ, các bức tranh và tượng thánh được chạm trên gỗ, tạo nên không khí linh thiêng và trang nghiêm. Nhà Thờ Kon Hơ ring không chỉ là nơi tụ điểm của các nghi lễ tôn giáo mà còn là địa điểm thu hút du khách và những người yêu thích văn hóa, kiến trúc. Du khách đến đây sẽ được tham quan, tìm hiểu về văn hóa, lịch sử của dân tộc K'ho và cũng có cơ hội trải nghiệm cuộc sống của họ. Ngoài ra, Nhà Thờ Kon Hơ ring còn là nơi bạn có thể tìm hiểu về cuộc sống tâm linh của người dân địa phương, cũng như tham gia các hoạt động tôn giáo như lễ hội, hội thảo, học tập về đạo đức và lối sống của dân tộc. Với vẻ đẹp và giá trị lịch sử, văn hóa đặc biệt, Nhà Thờ Kon Hơ ring đã trở thành điểm du lịch không thể bỏ qua khi bạn đến với Kon Tum. Hãy dành thời gian để khám phá và trải nghiệm cảm giác thanh bình, tĩnh lặng tại địa điểm này. Chắc chắn bạn sẽ có những trải nghiệm đáng nhớ và ý nghĩa khi đặt chân đến Nhà Thờ Kon Hơ ring. Nguồn: Cổng thông tin tỉnh Kon Tum

Quảng Ngãi 5326 lượt xem

Xếp hạng : Di tích cấp tỉnh Mở cửa

Chùa Bác Ái

Chùa Tổ đình Bác Ái tọa lạc trên đường Mạc Đĩnh Chi, phường Quyết Thắng, thành phố Kon Tum. Chùa được xây dựng vào năm Bảo Đại thứ 8 (tức năm 1932 đến 1933). nằm trên một khu đất cao, mặt chùa quay về hướng Nam, theo lối kiến trúc Huế, hình chữ Môn, gồm có Chánh điện, Đông Lang, Tây Lang và Cổng tam quan. Quản đạo Võ Chuẩn, đã thiết kế và đốc thúc cả người kinh lẫn đồng bào dân tộc thiểu số khai phá ngọn đồi rừng già để xây chùa, thiết kế theo kiểu chữ “Môn”. Năm Tân Mùi 1931, các tỉnh miền Trung bộ bị hạn hán mất mùa liên tiếp, dân tình đói khổ. Vì vậy, cuối những năm 1931 và 1932, cuộc di dân từ các tỉnh Huế, Đà Nẵng, Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định đổ xô vào vùng đất cao nguyên và Kon Tum. Trong cuộc di dân này 70% đã bị chết đói dọc đường, 30% còn lại đến được miền đất hứa. Họ phá rừng làm nương rẫy, nhưng tại nơi này họ đã gặp bao điều không lường trước đó là thú dữ, nạn rắn hổ mang hoành hành cắn chết vô số người, dân tình hoang mang hoảng sợ, đêm đêm tại vùng đất này xảy ra nhiều hiện tượng rùng rợn. Năm 1932, Quản đạo Võ Chuẩn đã cho thỉnh ngài Hoằng Thông, thủ tọa chùa Bạch Sa, Quy Nhơn cùng chư tăng lên Kon Tum làm chay 3 ngày để cầu siêu cho những oan hồn uổng tử. Sau trai đàn chẩn tế, Ông Võ Chuẩn đã cung thỉnh ngài Hoằng Thông chứng minh khai tự hiệu Bác Ái. Bác Ái là lòng thương bao la, không phân biệt tôn giáo, người Kinh, kẻ Thượng. Chùa đã được vua Bảo Đại ban tấm biển “Sắc tứ Bác Ái Tự” vào năm 1933. Năm 1990, chùa được trùng tu với sự tổ chức của Thượng tọa trụ trì Thích Chánh Quang Nhìn tổng thể kiến trúc, chùa Tổ đình Bác Ái xây dựng theo hướng Bắc Nam, kiểu chữ Môn, mở đầu cho hướng đó là cổng tam quan án ngự, đến nhà Chánh điện ở trung tâm và 2 bên tả hữu là Đông Lang và Tây Lang. Chánh điện gồm 3 gian 2 chái. Cổ lầu chia làm 3 gian tiền đường, trung điện, và thượng điện. Mái lợp ngói, tường gạch quét vôi, trần đóng la phông. Các vì, kèo, cột đều dùng các loại gỗ quý như sao tía, trắc, cà chít, được các nghệ nhân người Huế chạm trổ trau chuốt, công phu. Gian này thờ Tam Thế Phật, Di Đà Tam Tôn, Hoa Nghiêm Tam Thánh… Đặc biệt thờ một tấm bia ghi công đức của ngài Đại uý Pháp Quenin và trụ gỗ biểu tượng 7 đầu lâu của sĩ quan Nhật tự vẫn tại sân chùa vào cuối Thế chiến thứ 2. Bên ngoài chánh điện là Hoa Viên, nơi tập trung các bia mộ, tháp, miếu thờ Thần hoàng Bổn cảnh, Sơn thần, Đoàn quán và nhà trù. Qua nhiều lần trùng tu, Chùa Tổ đình Bác Ái nét kiến trúc ban đầu đã bị thay đổi, một số điểm điêu khắc độc đáo như rồng chầu, dây cuốn, đã không còn. Hệ thống tượng thờ được phủ lớp đồng sáng, không giữ được nét đẹp nguyên sơ. Tuy nhiên, một số hiện vật quý giá mang giá trị nghệ thuật tạo hình như Tượng Tam tòa Thánh Mẫu, tượng Quan Âm bằng gốm men rạn, Hoành phi, Câu đối, hộp Sắc phong, Bửu ấn…vẫn còn được trung bày, phảng phất vết tích thời gian. Hiện, Chùa Tổ Đình Bác Ái là một trong 3 ngôi đình (Đình Võ Lâm, Đình Trung Lương, Chùa Tổ đình bác Ái) đã được Ủy ban nhân dân tỉnh Kon Tum ra quyết định công nhận là di tích lịch sử - văn hoá cấp tỉnh Nguồn:Du lịch Kon Tum

Quảng Ngãi 5639 lượt xem

Xếp hạng : Di tích cấp tỉnh Mở cửa

Chiến thắng Plei Kần

Plei Kần nằm ở huyện Ngọc Hồi, tỉnh Kon Tum. Nó nằm ở phía Bắc tỉnh Kon Tum, trên sườn đông của dãy Trường Sơn. Điểm đặc biệt của Plei Kần là nó nằm ở ngã ba giới của ba nước: Việt Nam, Lào và Campuchia. Plei Kần có một lịch sử quan trọng trong cuộc chiến tranh Việt Nam. Trước năm 1965, Plei Kần là một ngôi làng lớn của người dân tộc Xê Đăng và các dân tộc khác như Brâu, HLăng, Kdong. Vị trí địa lý chiến lược của nó đã được nhận ra vào cuối năm 1964 khi Mỹ quyết định xây dựng cụm cứ điểm án ngữ ở đây. Plei Kần theo tiếng của đồng bào Xê Đăng là “làng lớn”. Trước năm 1965, đây là nơi chung sống thuận hòa của bà con đồng bào Xê Đăng và đồng bào Brâu trong một ngôi làng yên bình ở khu vực ngã ba biên giới ba nước Việt Nam - Lào - Campuchia. Cuối năm 1964, nhận thấy vị trí chiến lược quan trọng khu vực ngã ba biên giới Đông Dương, Mỹ ngụy thực hiện chính sách dồn dân lập ấp để cách ly đồng bào với lực lượng cách mạng, dồn dân về làng Đăk Rnăng (Tân Cảnh, Đăk Tô) lập ấp chiến lược. Năm 1966, Mỹ tiến hành xây dựng Plei Kần thành căn cứ quân sự nằm án ngữ khu vực ngã ba Đông Dương (ta thường gọi là Căn cứ Plei Kần) nhằm chặn sự tiến công của bộ đội chủ lực của ta từ Bắc vào và từ Lào, Campuchia sang. Toàn căn cứ có các khu A, B, C, D, E, được bố trí liên hoàn trên 5 quả đồi cách nhau từ 600 - 1.000 mét. Trong đó, khu A là khu trung tâm. Tại đây có 1 phân đội xe tăng, sân bay quân sự, sân bay dã chiến, trận địa pháo 155 ly, 105 ly, hệ thống hầm ngầm, lô cốt, bệnh viện, kho tàng… Căn cứ được bao bọc bởi 8 đến 12 lớp kẽm gai. Từ năm 1969, tại đây, thường xuyên có từ 450 - 500 lính biệt động biên phòng (Tiểu đoàn 95 Biệt động biên phòng) và 2 đại đội pháo binh của E 42 (Sư đoàn 22) của Ngụy. Đầu tháng 10/1972, Bộ Tư lệnh Mặt trận Tây Nguyên giao cho Sư đoàn 10 nhiệm vụ tiêu diệt Căn cứ Plei Kần. Trung đoàn 66, Tiểu đoàn 37 đặc công và hầu hết lực lượng pháo binh Sư đoàn được lệnh tiến công. 10h sáng 12/10/1972, từ các trận địa pháo xung quanh pháo binh ta dồn dập nã đạn. Tất cả các loại pháo D74, 105 ly, 155 ly DKZ, B72, cối 106 ly… đồng loạt bắn phá các mục tiêu trong căn cứ. Dưới sự yểm trợ của bộ binh, pháo binh và bộ đội đặc công cắt rào mở cửa. Đến 11h trưa, với sự yểm trợ đắc lực của pháo binh, xe tăng và bộ binh ta đã anh dũng xông lên đánh chiếm các mục tiêu. Cuộc chiến đấu trong căn cứ diễn ra vô cùng ác liệt. Ta và địch giành nhau từng lô cốt, hầm ngầm, công sự… Với tinh thần quả cảm, ngoan cường, sau gần 1 ngày đêm chiến đấu, đến rạng sáng 13/10/1972, ta đã hoàn toàn làm chủ Căn cứ Plei Kần. Kết quả, ta đã diệt 404 tên địch, bắt sống 65 tên, bắn rơi và phá hủy 6 máy bay, thu 6 pháo 105 ly, 2 pháo 155 ly, 4 xe tăng và toàn bộ kho tàng đạn dược. Với chiến thắng Căn cứ Plei Kần, chúng ta đã hoàn chỉnh vùng giải phóng phía bắc Kon Tum, khai thông tuyến hành lang biên giới Đông Dương, con đường vận tải chiến lược của ta từ hậu phương lớn miền Bắc chi viện cho chiến trường miền Nam bằng đường Hồ Chí Minh trở thành một hệ thống liên hoàn vững chắc và giải phóng hàng chục ngàn dân. Ngày nay, khu di tích chiến thắng Plei Kần nằm trên trục đường Hồ Chí Minh, thuộc địa phận xã Đăk Xú (huyện Ngọc Hồi). Di tích lịch sử Chiến thắng Plei Kần được xếp hạng cấp Quốc gia ngày 15/5/2024. Nguồn: Cổng thông tin điện tử tỉnh Kon Tum

Quảng Ngãi 5838 lượt xem

Xếp hạng : Di tích cấp quốc gia Mở cửa

Khu di tích Căn cứ Tỉnh ủy Kon Tum

Khu di tích lịch sử cách mạng Căn cứ Tỉnh ủy Kon Tum nằm về phía Đông Bắc xã Măng Ri, huyện Tu Mơ Rông, tỉnh Kon Tum. Là một trong những khu căn cứ có vị trí, vai trò chiến lượt hết sức quan trọng trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước của Tỉnh Kon Tum nói riêng và của Tây Nguyên nói chung. Căn cứ được xây dựng, củng cố và phát triển trên một địa bàn hết sức thuận lợi. nằm trong lòng cách mạng của dân cư dân tộc Xơ Đăng. Nơi đây có một địa hình chia cắt rất phức tạp, với một hệ thống đồi núi liên hoàn nằm trong quần thể núi Ngọc Linh, có thế núi cao và suối sâu vô cùng hiểm trở làm cho địch rất khó khăn trong việc phát hiện, tấn công ta. Nhưng ngược lại, đây là địa bàn rất thuận lợi cho ta về hệ thống liên lạc, nằm về cực Bắc Tây Nguyên, là cửa ngõ nối liền ra Miền Bắc XHCN, nơi tiếp giáp các khu căn cứ và các vùng cơ sở của ta từ các hướng trong tỉnh. Trên cơ sở đó tạo điều kiện thuận lợi cho ta trong quá trình di chuyển cũng như trong quá trình tấn công hoặc lui về phòng ngự. Chính những điều kiện thuận lợi như vậy, cơ quan Tỉnh uỷ đã đứng chân hoạt động và chỉ đạo đấu tranh trong suốt thời gian từ 1960 đến năm 1972. Đầu năm 1955 Ban cán sự tỉnh Kon Tum dời lên Kon Pơ Oai và Kon Pơ Ê (xã Pờ Ê), sau đó chuyển về Đăk Sơ Lò rồi lại chuyển về Nước Chè (hiện nay thuộc xã Ngọc Tem, huyện Kon Plong), ổn định việc tổ chức chỉ đạo, xúc tiến khẩn trương việc chuyển hướng tư tưởng và tổ chức cho phù hợp với tình hình mới. Cuối năm1959, Ban cán sự Tỉnh ủy Kon Tum chuyển cơ quan lên H80 (nay là huyện Tu Mơ Rông) đóng tại làng Mô Gia, xã Măng Ri để kịp thời chỉ đạo phong trào đấu tranh trong giai đoạn tới. Vì địa hình H29 (Kon Plông) xa xôi, hướng chỉ đạo không sao xát, kịp thời. Nên Ban cán sự tỉnh Kon Tum đã chọn địa điểm tại suối Đăk Y Hai thuộc xã Măng Ri làm căn cứ đứng chân, vì đây là địa bàn mang tính chiến lược về quân sự cũng như về chính trị, sau lưng án ngữ bởi dãy núi Ngọc Linh hùng vĩ với độ cao 2598m nằm về phía bắc, phía đông là căn cứ khu ủy khu 5. Địa bàn này tạo cho ta một hành lang giao thông liên hoàn thuận lợi trong các tuyến đường từ đông sang tây. Ngoài ra đây còn là địa bàn chiến lược về phát triển kinh tế nông nghiệp trồng lúa nước dọc theo hai dòng suối Đăk Mỹ (H30) và Đăk Pơ sy (H80), ở đây còn có một thung lũng khá bằng phẳng, đất tốt cung cấp nguồn lương thực, thực phẩm cho ban cán sự Tỉnh ủy hoạt động lâu dài. Hơn nữa quần chúng nơi đây rất tốt, trên 70 làng là dân tộc Xơ Đăng, là cơ sở cách mạng của ta không có Ngụy lui tới. Để ổn định cho công tác hoạt động, chỉ đạo lâu dài, ngay thời gian ban đầu Ban cán sự Tỉnh ủy đã tiến hành xây dựng các phòng ban làm việc bằng những vật liệu thô sơ như tranh tre, gỗ... với diện tích của mỗi phòng rộng 25m đến 30m vuông. Ngoài ra để đảm bảo an toàn đề phòng tránh bom đạn khi địch phát hiện, Ban cán sự còn trang bị hệ thống giao thông hào, hầm trú ẩn bao bọc xung quanh khu làm việc của đồng chí Bí thư, Phó Bí thư của Văn phòng Tỉnh ủy, hậu cần, ban cơ yếu...Và được bố trí khá bài bản theo một hệ thống liên hoàn, khép kín trải dài từ bắc xuống nam dọc theo triền đồi ở độ cao 1922,6m nằm trong lòng hai dòng suối Đăk Y Hai lớn và Đăk Y Hai nhỏ. Tại đây, Tỉnh ủy đã chỉ đạo thành công 4 kỳ Đại hội Tỉnh đảng bộ (từ Đại hội 1, ngày 09-3-1960 đến Đại hội 4, ngày 26-10-1971), đề ra những quyết sách quan trọng, chỉ đạo quân và dân các dân tộc tỉnh Kon Tum kháng chiến chống Mỹ, cứu nước như: Quyết định lệnh đồng khởi giành quyền làm chủ nông thôn ; Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân (năm 1968); Chiến dịch Đăk Tô – Tân Cảnh , tiến đến giải phóng tỉnh Kon Tum … Ngoài ra, Đảng bộ tỉnh đã phát động được sức mạnh của các dân tộc, các tầng lớp nhân dân, vận động được quần chúng, thực hiện tốt các nội dung cốt lõi lấy dân làm gốc. Trên cơ sở đó mà trong suốt cuộc đấu tranh chống Mỹ, nhân dân các dân tộc trong vùng căn cứ như xã Ngọc Lây, Tê Xăng, Măng Ri… đã tham gia tích cực trong mọi hoạt động. Trong đó, đặc biệt là nhân dân xã Măng Ri đã đóng góp 4000 ngày công, tham gia dân công hoả tuyến, gùi gạo, đạn dược. Cán bộ nhân dân và lực lượng vũ trang dân quân du kích của xã đã tham gia trực tiếp 17 trận đánh lớn nhỏ, tiêu diệt và làm tan rã 2 tiểu đoàn Mỹ, Ngụy, phá huỷ nhiều phương tiện chiến tranh của địch. Đưa đón và bảo vệ hàng trăm lượt cán bộ của trên đi về an toàn, tiếp nhận và nuôi dưỡng nhiều đơn vị chủ lực của Tỉnh, quân khu trong thời gian tập kết tại địa bàn xã. Vót 5 triệu cây chông và bố phòng hàng trăm hố chông, chế ra các loại vũ khí tự tạo để đánh địch, đóng góp cho cách mạng mỗi năm 600 gùi lúa, 5000 gốc mỳ hàng trăm con trâu, bò, heo, gà và nhiều tấn thực phẩm khác… Di tích Căn cứ Tỉnh ủy mãi là địa chỉ đỏ, là biểu tượng lòng kiên trung cách mạng của quân và dân tỉnh Kon Tum. Với ý nghĩa lịch sử đó, Di tích Căn cứ Tỉnh ủy Kon Tum (giai đoạn 1960-1972) tại xã Măng Ri, huyện Tu Mơ Rông đã được UBND tỉnh Kon Tum xếp hạng di tích lịch sử cấp tỉnh ngày 02/8/2007. Nguồn: Cổng thông tin điện tử tỉnh Kon Tum

Quảng Ngãi 5568 lượt xem

Xếp hạng : Di tích cấp tỉnh Mở cửa

Ngục Dak Glei

Ngục Đăk Glei thuộc xã Đăk Choong, huyện Đăk Glei tỉnh Kon Tum. Cụm di tích lịch sử Ngục Đăk Glei gồm ba công trình nhỏ: Khu đồn canh gác, khu Căng an trí và khu nhà Ngục. Toàn bộ khu di tích nằm trên đồi, xung quanh núi cao, suối, thung lũng bao bọc. Ngục Đắk Glei được thực dân Pháp xây dựng vào năm 1932, đây là nơi giam giữ các chiến sĩ cách mạng Việt Nam trong những năm 1932 – 1954. Đồng thời, bọn thực dân còn cách ly những nhà hoạt động cách mạng có tầm ảnh hưởng với âm mưu kiểm soát toàn bộ Tây Nguyên. Ban đầu, ngục Đắk Glei chỉ giam những người dân không phục tùng chính sách cai trị của thực dân Pháp và tay sai. Nhưng kể từ cuối năm 1939, thực dân Pháp đã biến nơi đây thành nơi giam cầm các chiến sĩ cộng sản sau khi tăng cường đàn áp phong trào cách mạng. Không chỉ là nơi giam cầm nhà thơ cách mạng nổi tiếng như Tố Hữu, đây còn là nơi nhiều nhân vật chủ chốt của Đảng bị bắt giữ như Nguyễn Duy Trinh, Chu Huy Mân, Huỳnh Ngọc Huệ, Lê Văn Hiến, Trần Văn Trà, Lê Bá Từ, Hà Phú Hương và Nguyễn Tất Thắng. Ngục Đắk Glei là công trình kiến trúc có hình chữ nhật, gồm một tầng, diện tích khoảng 200m2, rộng 19,85m, sâu 10,2m, bao gồm 4 phòng. Nằm đối diện với ngục Đắk Glei qua một khoảng sân rộng chừng 20m là một ngôi nhà một tầng có 2 gian nhỏ, cũng được xây dựng bằng đá, gian bên ngoài là trạm gác, gian còn lại là nhà bếp. Từ ngục Đắk Glei đi xuống dưới sườn đồi khoảng 150m là nhà “ngục biệt giam” rộng khoảng 12m2, được xây dựng vào khoảng từ tháng 2 đén tháng 6/1942 ngay sau cuộc vượt ngục của hai nhà cách mạng yêu nước là Tố Hữu và Huỳnh Ngọc Huệ. Tại nhà giam này, không gian vừa ngột ngạt, vừa u ám với đầy xiềng xích, gông cùm... Nằm ở khoảng giữa nhà ngục với khu đồn là căng an trí với các dãy nhà giam được xây dựng bằng tre và gỗ. Mỗi nhà giam có một sạp nằm cho tù nhân, đầu quay vào giữa, chân cùm phía ngoài, mỗi sạp chứa khoảng 20 tù binh. Vào buổi tối lính canh thường đếm chân để kiểm tra số lượng tù nhân. Vì chỉ được xây dựng bằng tre và gỗ không kiên cố nên khu vực căng an trí hiện không còn dấu tích công trình do có sự khác nhau giữa các tư liệu ghi chép, chưa thể thống kê được số lượng chính xác là 2 hay 3 cái. Ngục Đắk Glei còn được người dân Kon Tum gọi với tên thân thuộc khác là ngục Tố Hữu bởi trong thời kỳ chống Pháp, đây là nơi giam cầm nhà cách mạng, nhà thơ nổi tiếng Tố Hữu. Nơi đây được gắn liền với câu chuyện vượt ngục ngoạn mục của nhà thơ Tố Hữu tại đây. Cụ thể, đầu năm 1942 Tố Hữu cùng đồng chí Huỳnh Ngọc Huệ đã lập kế hoạch và vượt ngục. Sau sự kiện đó, thực dân Pháp đã khủng bố những chiến sĩ cộng sản khác và bắt các đồng chí của nhân dân ta ở căng an trí giam vào ngục. Ngày nay, khu di tích đã và đang được trùng tu tôn tạo, hệ thống đường giao thông đến di tích cũng được đầu tư xây dựng thuận lợi, xứng đáng là địa chỉ đỏ cách mạng, có ý nghĩa giáo dục to lớn, một biểu tượng đầy tự hào cho tinh thần đấu tranh kiên cường của các chiến sĩ cách mạng. Ngày 30/12/1991, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đã công nhận Ngục Đăk Glei là Di tích Lịch sử cấp Quốc gia. Nguồn: Cổng thông tin điện tử tỉnh Kon Tum

Quảng Ngãi 5547 lượt xem

Xếp hạng : Di tích cấp quốc gia Mở cửa

Ngục Kon Tum

“Ngục Kon Tum” có địa chỉ tại đường Trương Quang Trọng, phường Quyết Thắng, thành phố Kon Tum. “Ngục Kon Tum” phản ánh một giai đoạn lịch sử thời kỳ đầu của phong trào đấu tranh chống quân xâm lược nước ta. Ngục Kon Tum được thực dân Pháp xây dựng từ năm 1905 đến cuối năm 1917 mới hoàn thành. Ngục Kon Tum xây bên cạnh một rãnh nước lớn kế cận ngục phía Đông - Bắc là đường 14 (nay là đường Phan Đình Phùng - trục đường Hồ Chí Minh chạy qua thành phố Kon Tum); Tây - Nam là đồn lính khố xanh; Đông - Nam là tòa sứ, dinh quản đạo bù nhìn, Sở Cảnh sát. Chúng đặt Ngục Kon Tum vào thế bị bao vây cô lập. Để dễ bề kiểm soát chúng đào một rãnh sâu dài 150m, rộng 100m, thiết kế tại đó bốn dãy nhà theo hình hộp (vuông) diện tích khoảng 2,5ha, bốn góc ngục có 4 lô cốt xây nổi lên, đêm ngày canh phòng cẩn mật. Nhà lao xây theo kiểu pháo đài Vauban (Vô-băng) xưa của Pháp thuộc thế kỷ 17. Mái lợp ngói, vách bằng tocsi quét vôi, bốn bề không có tường bao quanh che kín như các nhà lao khác, bốn nhà dọc ngang xây liền lại với nhau thành một hình vuông, mỗi bề 18m thì có một cửa ra vào và hai chòi cao để lính gác có thể quan sát trong và ngoài lao; ở giữa là một cái sân vuông nhỏ hẹp, bề rộng của một dãy là 3,5m trong đó để 2m lát ván nằm, 1,5m là đường đi, người nằm trên sàn ván nhìn thấy ngoài sân. Ngục tù Kon Tum là nơi giam giữ tù binh chính trị bị thực dân Pháp áp giải từ Nghệ An, Hà Tĩnh, Thừa Thiên Huế về, đồng thời cũng là nơi cung cấp nhân công khai phá cao nguyên, mở đường 14. Theo số liệu ghi lại, nơi đây đã giam giữ khoảng 500 tù binh chính trị và gần một nửa trong số họ đã hy sinh. Cụ thể, trong quá trình 6 tháng làm con đường 14, thực dân Pháp đã bốc lột lao động của tù binh đến kiệt sức dẫn đến tình trạng 210 người phải bỏ mạng tại nơi này. Những năm tháng kháng chiến chống Pháp, ngục tù Kon Tum được xem là lò giết người tàn bạo nhất. Ngục Kon Tum từng là nơi nổ ra rất nhiều cuộc biểu tình của các chiến sĩ cộng sản để phản đối việc bắt tù nhân đi làm đường ở Đắk Pô. Tuy những cuộc biểu tình tại đây đều bị thực dân Pháp tàn sát đẫm máu nhưng sự hy sinh này đã khiến chúng thừa nhận sự thất bại và buộc phải đóng cửa vào năm 1935. Có thể nói, ngục tù Kon Tum chính là bằng chứng tố cáo tội dã man mà thực dân Pháp đã gây ra cho đồng bào ta trong giai đoạn 1930 - 1931. Đồng thời, đây cũng là biểu tượng cho sự kiên cường, bất khuất đấu tranh bảo vệ Tổ quốc của các chiến sĩ cộng sản tại mảnh đất Kon Tum. Năm 1975 khi chiến tranh kết thúc, ngục tù Kon Tum trở thành Di tích lịch sử của miền Nam Việt Nam. Sau tàn tích của chiến tranh, ngày nay di tích chỉ còn lại mộ và bia tưởng niệm của 8 chiến sĩ cách mạng. Năm 1990, ngục tù Kon Tum được công nhận là khu Di tích lịch sử văn hoá cấp Quốc gia. Nguồn: Cổng thông tin điện tử tỉnh Kon Tum

Quảng Ngãi 5757 lượt xem

Xếp hạng : Di tích cấp quốc gia Mở cửa