Di tích lịch sử

Việt Nam
Di tích tưởng niệm Ông Ích Đường

Di tích tưởng niệm Ông Ích Đường

Di tích tưởng niệm Ông Ích Đường gắn với cuộc đời và sự hy sinh của Ông Ích Đường (1890–1908), người con của làng Phong Lệ, nay thuộc phường Hòa Thọ Tây, thành phố Đà Nẵng. Ông là cháu nội của Ông Ích Khiêm và sinh ra trong một gia đình có truyền thống yêu nước, sớm nổi tiếng là người nghĩa hiệp, giỏi văn võ và luôn đứng về phía người dân nghèo. Năm 1908, hưởng ứng phong trào chống sưu thuế Trung Kỳ, Ông Ích Đường đã lãnh đạo nhân dân Hòa Vang tham gia đấu tranh chống áp bức. Sau khi cuộc khởi nghĩa thất bại, ông bị thực dân Pháp bắt và xử chém tại chợ Túy Loan khi mới 18 tuổi. Trước khi hy sinh, khí phách hiên ngang và tinh thần bất khuất của ông đã trở thành biểu tượng của lòng yêu nước và ý chí đấu tranh vì độc lập dân tộc. Sự hy sinh của Ông Ích Đường đã gây xúc động sâu sắc trong nhân dân địa phương. Người dân đã lập miếu thờ ngay tại nơi ông tuẫn nạn để tưởng nhớ công lao và khí tiết của người chí sĩ yêu nước. Trải qua thời gian, khu vực di tích tiếp tục được gìn giữ, tôn tạo với nhà bia tưởng niệm bên cạnh cây đa lịch sử – chứng nhân gắn liền với sự kiện năm 1908. Ngày nay, Di tích tưởng niệm Ông Ích Đường là địa chỉ đỏ giáo dục truyền thống yêu nước và tinh thần đấu tranh cách mạng cho các thế hệ, đồng thời là điểm đến giúp du khách tìm hiểu về phong trào chống sưu thuế Trung Kỳ và lịch sử đấu tranh của nhân dân Đà Nẵng đầu thế kỷ XX. Theo: Báo Đà Nẵng

Đà Nẵng

863 lượt xem

Xếp hạng : Di tích cấp quốc gia

Mở

Khu căn cứ cách mạng Huyện ủy Hòa Vang

Khu căn cứ cách mạng Huyện ủy Hòa Vang

Khu căn cứ cách mạng Huyện ủy Hòa Vang nằm tại khu vực tam giác núi Phú Túc – Ô Rây – Tống Cói, thuộc phường Hòa Vang. Với địa hình rừng núi hiểm trở, nơi đây từng là căn cứ địa quan trọng của lực lượng cách mạng trong hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ. Từ những năm 1947–1949, khu vực Đồng Xanh – Đồng Nghệ được lựa chọn làm nơi đặt cơ quan lãnh đạo của Huyện ủy Hòa Vang. Đến năm 1955, Tỉnh ủy Quảng Đà xây dựng căn cứ cách mạng cánh Tây Hòa Vang (mật danh B1), biến nơi đây thành trung tâm chỉ đạo phong trào cách mạng của khu vực phía tây và tây bắc. Trong thời gian này, Hòn đá Đà Nẵng và Hòn đá Non Nước trở thành những biểu tượng thiêng liêng của tinh thần yêu nước và ý chí đấu tranh kiên cường. Từ năm 1960, khu vực tam giác Phú Túc – Ô Rây – Tống Cói tiếp tục được chọn làm căn cứ địa kháng chiến của Huyện ủy Hòa Vang. Đây là nơi làm việc, chỉ đạo và hoạt động của nhiều cán bộ lãnh đạo huyện, đồng thời là địa điểm tổ chức các hội nghị, đại hội Đảng bộ, huấn luyện quân sự và chính trị cho lực lượng cách mạng trong những năm kháng chiến chống Mỹ. Địa hình rừng núi hiểm trở đã góp phần che chở, bảo vệ các cơ quan đầu não trước nhiều cuộc càn quét của đối phương. Trong suốt hai cuộc kháng chiến, Khu căn cứ cách mạng Huyện ủy Hòa Vang giữ vai trò là trung tâm lãnh đạo, chỉ huy và hậu cứ quan trọng của phong trào cách mạng địa phương, gắn liền với nhiều sự kiện lịch sử và hoạt động của các cán bộ lãnh đạo cấp tỉnh, khu và huyện. Để gìn giữ những giá trị lịch sử đó, khu di tích đã được đầu tư xây dựng nhà trưng bày, bia tưởng niệm cùng các hạng mục phục vụ tham quan. Ngày nay, nơi đây trở thành địa chỉ đỏ giáo dục truyền thống yêu nước, tưởng nhớ các thế hệ cách mạng đi trước và là điểm đến giúp du khách tìm hiểu về lịch sử đấu tranh anh dũng của quân và dân Hòa Vang trong sự nghiệp giải phóng dân tộc. Theo: Báo Đà Nẵng

Đà Nẵng

336 lượt xem

Xếp hạng : Di tích cấp quốc gia

Mở

Hải Vân Quan

Hải Vân Quan

Hải Vân Quan là công trình quân sự phòng thủ được xây dựng vào năm 1826, dưới triều vua Minh Mạng. Di tích nằm trên đỉnh Đèo Hải Vân ở độ cao khoảng 496 m so với mực nước biển, tại ranh giới giữa thành phố Huế và thành phố Đà Nẵng. Đây là vị trí chiến lược trên tuyến giao thông Bắc – Nam, đồng thời là cửa ngõ bảo vệ kinh đô Huế từ phía nam. Từ thời các chúa Nguyễn, đèo Hải Vân đã được xem là vùng đất hiểm yếu, giữ vai trò quan trọng về quân sự và phòng thủ. Khi nhà Nguyễn chọn Huế làm kinh đô, nơi đây càng được coi là "yết hầu" của đất nước. Chính vì vậy, vua Minh Mạng đã cho xây dựng Hải Vân Quan nhằm kiểm soát con đường thiên lý và tăng cường bảo vệ kinh thành. Công trình gồm hai cổng thành lớn xây bằng gạch đá theo kiến trúc vòm cuốn. Cổng quay về phía Đà Nẵng khắc ba chữ "Hải Vân Quan", còn cổng hướng về Huế khắc sáu chữ "Thiên hạ đệ nhất hùng quan" – lời ca ngợi vẻ đẹp hùng vĩ và vị thế hiểm yếu của đèo Hải Vân. Bao quanh cửa quan là hệ thống tường thành kiên cố cùng các hạng mục quân sự như đồn trú, kho vũ khí và vị trí quan sát. Trải qua nhiều biến động lịch sử, đặc biệt trong thời kỳ Pháp thuộc và chiến tranh, Hải Vân Quan bị cải tạo thành cứ điểm quân sự, nhiều hạng mục kiến trúc gốc bị phá hủy hoặc xuống cấp. Đến năm 2017, di tích được xếp hạng Di tích quốc gia, và từ năm 2021, Huế và Đà Nẵng đã phối hợp triển khai dự án trùng tu, phục hồi các hạng mục quan trọng, góp phần khôi phục diện mạo vốn có của công trình. Ngày nay, Hải Vân Quan không chỉ là di tích lịch sử có giá trị đặc biệt mà còn là điểm dừng chân nổi tiếng trên cung đường đèo Hải Vân. Từ đây, du khách có thể phóng tầm mắt ngắm toàn cảnh núi non, biển cả và một trong những cung đường ven biển đẹp nhất Việt Nam. Với giá trị lịch sử, kiến trúc và cảnh quan độc đáo, Hải Vân Quan là điểm đến không thể bỏ qua trong hành trình khám phá miền Trung. Theo: Thông tấn xã Việt Nam

Đà Nẵng

984 lượt xem

Xếp hạng : Di tích cấp quốc gia

Mở

Mộ ông Banjiro - thương nhân Nhật Bản

Mộ ông Banjiro - thương nhân Nhật Bản

Mộ ông Banjiro - thương nhân Nhật Bản - Khối Trường Lệ - Xã Cẩm Hà Ông Banjiro là một thương gia Nhật Bản mất tại Hội An. Mộ ở gần đường từ phố cổ đi xuống biển An Bàng và còn giữ được những dấu vết nguyên thuỷ xây dựng từ thế kỷ XVII. Bia mộ có niên đại 1665. Phía sau mộ có một tấm bia bằng xi măng khắc chìm chữ Nhật, nội dung như sau: “Năm Chiêu Hoà thứ 3 (1928) theo đề xuất của giáo sư văn học Kuroita Katsumi, tập thể người Nhật cư trú tại Đông Dương (nay là Việt Nam, Campuchia, Lào) đề nghị ông Nakayama phụ trách giám sát việc tu sửa ngôi mộ này”. Gần đây Hội An tiếp tục tu bổ giữ gìn chu đáo ngôi mộ này. Di tích được xếp hạng di tích quốc gia năm 1991. Mộ ông Banjiro xây bằng hợp chất vôi, cát, nước vỏ cây, mật mía... Nấm mộ hình yên ngựa, quay hướng Đông Bắc, kích thước 190cm x 85cm. Trước mặt mộ có một tấm bia làm bằng đá muối, hai bên có 2 hàng chữ. Trước đây ngôi mộ này không có người trông nom, tu sửa. Sau khi Bộ Văn hóa ra quyết định công nhận Khu phố cổ Hội An, khu mộ này thường xuyên được Ban Quản lý Di tích Hội An quan tâm bảo quản và tu sửa. Hiện tại ngôi mộ được gia đình ông Nguyễn Nước thường xuyên trông nom, thắp hương. Di tích góp phần làm sáng tỏ quá trình hình thành Khu phố cổ Hội An, nhất là thời kỳ thương nhân Nhật Bản đến Hội An trao đổi buôn bán. Nguồn: Đô thị cổ Hội An

Đà Nẵng

312 lượt xem

Xếp hạng : Di tích cấp quốc gia

Mở

Khu di tích Đặc Khu ủy Quảng Đà

Khu di tích Đặc Khu ủy Quảng Đà

Khu di tích Đặc Khu ủy Quảng Đà Hòn Tàu là dãy núi giáp ranh giữa Duy Xuyên, Nông Sơn và Quế Sơn. Với vị trí chiến lược, nơi đây đã được Đặc Khu ủy Quảng Đà chọn làm căn cứ cách mạng trong 8 năm cuối cuộc chiến chống Mỹ (1967-1975). Với quyết tâm “Tất cả cho tổng công kích, tất cả cho tổng khởi nghĩa Xuân Mậu Thân 1968”, Đặc Khu ủy Quảng Đà chủ trương chỉ đạo tập trung huy động mọi lực lượng chuẩn bị nổi dậy. Căn cứ Hòn Tàu là nơi quan và dân ta chịu nhiều hy sinh, mất mát. Nhiều đồng chí là lãnh đạo Đặc Khu ủy và hàng trăm cán bộ, chiến sĩ đã anh dũng hy sinh. Đặc biệt, có 10 cán bộ, nhân viên của Ban Tuyên huấn hy sinh do bị bom B52 của Mỹ đánh sập nơi ở và làm việc vào sáng 22/5/1972. Mặc dù chịu nhiều hy sinh, mất mát, cán bộ, chiến sĩ Đặc Khu ủy Quảng Đà vẫn vững vàng tiếp tục thực hiện việc chỉ đạo các cuộc tiến công chiến lược, quyết định nhiều chủ trương quan trọng, hợp đồng chặt chẽ với các cánh quân chủ lực giải phóng các huyện phía Tây của tỉnh Quảng Nam, tạo thế gọng kìm, góp phần hoàn thành chiến dịch giải phóng Đà Nẵng năm 1975. Năm 2012, di tích Hòn Tàu được Bộ VHTT&DL xếp hạng Di tích Lịch sử cấp quốc gia. Sau khi có quyết định xếp hạng di tích, Sở VHTT&DL tỉnh Quảng Nam đã lập hồ sơ trình Bộ VHTT&DL phê duyệt và triển khai lập dự án phục dựng di tích. Qua hơn 2 năm triển khai thực hiện, đến nay Khu di tích Đặc Khu ủy Quảng Đà cơ bản đã hoàn thành đúng dịp kỷ niệm 50 năm thành lập Đặc Khu ủy (tháng 10/1967 - tháng 10/2017). Nguồn: Báo Chính Phủ

Đà Nẵng

463 lượt xem

Xếp hạng : Di tích cấp quốc gia

Mở

Địa điểm diễn ra cuộc đấu tranh Cây Cốc năm 1954

Địa điểm diễn ra cuộc đấu tranh Cây Cốc năm 1954

Di tích "Địa điểm diễn ra cuộc đấu tranh Cây Cốc năm 1954" là nơi ghi dấu sự kiện lịch sử quan trọng được ghi vào sử sách về cuộc đấu tranh của đồng bào ta đòi thi hành Hiệp định Giơ-ne-vơ tại Quảng Nam. Sáng 27-9, tại xã Tiên Thọ, huyện Tiên Phước, tỉnh Quảng Nam đã diễn ra Lễ đón nhận Bằng Di tích lịch sử cấp Quốc gia “Địa điểm diễn ra cuộc đấu tranh Cây Cốc năm 1954” và tưởng niệm 65 năm cuộc đấu tranh Cây Cốc (29/9/1954 - 29/9/2019). Di tích “Địa điểm diễn ra cuộc đấu tranh Cây Cốc năm 1954” là nơi ghi dấu sự kiện lịch sử quan trọng được ghi vào sử sách về cuộc đấu tranh của đồng bào ta đòi thi hành Hiệp định Giơ-ne-vơ tại Quảng Nam. Theo sử liệu ghi lại, 9h ngày 29-9-1954, nhân dân từ Quế Sơn, Tam Kỳ, Quảng Ngãi lên chợ Cây Cốc (xã Tiên Thọ, huyện Tiên Phước) để buôn bán. Khi nghe tin địch bắt giam, đàn áp người dân và các cán bộ cách mạng nên họ đã tập hợp, nổi trống mõ kêu gọi đồng bào quanh chợ Cây Cốc cùng đi đấu tranh. Đến khoảng 10h cùng ngày, khi vừa đến cầu Vôi, 3 chiếc máy bay khu trục của quân độ Pháp quần lượn trên bầu trời, địch đã ban hành mệnh lệnh đàn áp, liền sau đó lính của Tiểu đoàn 601 nổ súng vào nhân dân,... khiến hơn 330 đồng bào, chiến sĩ đã ngã xuống. Việc công nhận “Địa điểm diễn ra cuộc đấu tranh Cây Cốc năm 1954” là Di tích lịch sử cấp Quốc gia ngoài việc trở thành địa điểm giáo dục truyền thống cách mạng cho thế hệ trẻ còn là nơi kết nối du lịch, văn hóa lịch sử của tỉnh Quảng Nam. Nguồn Cổng thông tin điện tử huyện Tiên Phước, tỉnh Quảng Nam.

Đà Nẵng

4832 lượt xem

Xếp hạng : Di tích cấp quốc gia.

Mở

Địa điểm khởi phát phong trào chống sưu thuế năm 1908 ở miền Trung

Địa điểm khởi phát phong trào chống sưu thuế năm 1908 ở miền Trung

Phong trào chống sưu cao, thuế nặng ở Quảng Nam và các tỉnh miền Trung đã trải qua hơn một thế kỷ song những giá trị lịch sử mà phong trào mang lại vẫn còn vẹn nguyên cho đến ngày hôm nay…. “Sòng dân Đại Lộc”… Năm 1858, thực dân Pháp nổ tiếng súng đầu tiên vào cửa biển Đà Nẵng mở đầu cho việc xâm lược nước ta. Các phong trào yêu nước liên tục nổ ra ở khắp nơi nhưng cuối cùng bị thất bại. Năm 1897, thực dân Pháp tiến hành chính sách “khai thác thuộc địa” lần thứ nhất bằng những chính sách thực dân phản động và bảo thủ, bóc lột nhân dân ta hết sức thậm tệ, tàn ác đặc biệt là chính sách sưu thuế. Người dân không những phải nộp thuế mà còn phải đi phu, lao dịch, đắp đường… Biết bao nhiêu người bỏ mạng, biết bao nhiêu người mang thương tật cả đời.. Những hình ảnh tang thương đó đã đi vào ca dao: Từ ngày Tây lại cửa Hàn Đào sông Cu Nhí, bòn vàng Bồng Miêu Huyện Đại Lộc là một trong những địa phương của tỉnh Quảng Nam mà nhân dân chịu nhiều thống khổ bởi chính sách cai trị tàn bạo thực dân phong kiến. Đói khát, bệnh tật cộng thêm thiên tai, hạn hán liên miên đã dìm cuộc sống của những người nông dân xuống tận cùng của đau khổ. Tên tri huyện lúc đó lại lợi dụng chính sách tăng thuế để khai khống số dân nhằm thu lợi cho cá nhân. Trước tình cảnh đó, vào đầu tháng 3 năm 1908, tại một bữa đám giỗ tộc Trương làng Phiếm Ái, xã Đại Nghĩa; một số hào lý đã bàn nhau làm đơn lấy chữ ký của các lý trưởng các làng xã trong huyện gửi quan huyện xin giảm nhẹ sưu cùng các món thuế bởi nhân dân quá khổ trước chính sách sưu, thuế hiện hành; nếu không được sẽ gửi lên Tòa Công sứ Pháp tại Hội An. Do việc làm xuất phát từ sự thương dân, vì quyền lợi chính đáng của đa số nhân dân, nên những người "làm đơn lấy chữ ký ", được nhân dân trong huyện gọi là "Đồng dân" và cuộc "Xin sưu" do họ khởi xướng được gọi là "Sòng Đồng Dân" hay là "Sòng dân Đại Lộc". Ngày 11-3-1908, hơn 400 người dân ăn mặc rách rưới kéo xuống huyện đường, nhưng viên Tri huyện không dám nhận đơn, lại cấp báo với viên quan tỉnh và Công sứ Pháp nên đoàn biểu tình bèn kéo nhau đi vây dinh Tổng đốc rồi vây luôn cả tòa Công sứ. Nhân dân các phủ huyện như Điện Bàn, Duy Xuyên, Tam Kỳ, Hội An, Hòa Vang… cũng đồng loạt hưởng ứng tại địa phương mình, và còn kéo về Hội An nên số người biểu tình ở đây mỗi lúc một đông. Trước sức ép của quần chúng nhân dân, chính quyền thực dân phong kiến đã thẳng tay đàn áp, bắt một số người lãnh đạo phong trào đày đi các nhà tù hoặc xử trảm. Phong trào đấu tranh chống sưu cao, thuế nặng sau một thời gian cũng bị chính quyền thực dân, phong kiến đàn áp. Tuy nhiên, phong trào nhận được sự hưởng ứng, tham gia của đông đảo quần chúng nhân dân bởi vì đây là phong trào đấu tranh vì quyền lợi chính đáng của những người dân nghèo khổ chống lại sự bóc lột của bộ máy cai trị thối nát lúc bấy giờ. Phong trào chống sưu thuế năm 1908 cũng thể hiện được lòng yêu nước, tinh thần, sức mạnh đoàn kết của nhân dân. Xuất phát từ lòng căm thù bọn thực dân xâm lược, bè lũ phong kiến tay sai bán nước hại dân, dưới sự lãnh đạo của những sĩ phu yêu nước, những người nông dân “áo rách nón cời” đã vùng lên tranh đấu. Lúc đầu, phong trào chỉ xuất phát ở một huyện, sau đó nhanh chóng lan ra các huyện, phủ trong tỉnh Quảng Nam và các tỉnh miền Trung. Lòng yêu nước, tinh thần đoàn kết của nhân dân ta từ xưa đến nay cũng chính là giá trị bất biến, góp phần quan trọng vào sự thành công trong quá trình xây dựng và bảo vệ quê hương, đất nước. Phong trào chống sưu thuế đã giáng một đòn rất mạnh vào bộ máy chính quyền thực dân phong kiến đương thời. Ở Quảng Nam và các tỉnh miền Trung, nhân dân nổi dậy phá buồng giam, đốt dụng cụ tra tấn, giải phóng tù nhân; hàng loạt những tên tay sai gian ác bị quần chúng nhân dân vây bắt, có những tên ác ôn còn bị trừng trị thích đáng. Dù ở đâu, các cuộc nổi dậy của nhân dân đều có sự “dẫn đường chỉ lối” của các nho sinh, thân sĩ- những người có nhận thức nhất định về xã hội lúc đó. Mặc dù phong trào đã thất bại song nó đã mang đến ánh sáng mới cho con đường cách mạng Việt Nam. Giai cấp nông dân chính là lực lượng nòng cốt cho các phong trào cách mạng sau này. Trước sức mạnh bởi đòn roi, súng đạn của kẻ thù, những yêu sách mang tính ôn hòa sẽ không mang lại kết quả; chỉ có bạo lực cách mạng mới đủ sức chống lại bạo lực phản cách mạng. Phong trào đã được nhận xét là “một cuộc cách mạng được chuẩn bị một cách cực kỳ khéo léo”. 110 năm đã trôi qua, phong trào chống sưu thuế ngày ấy mới chỉ là bước mở đầu cho những phong trào cách mạng sục sôi sau này. Nhưng giá trị hiện hữu mà cho đến hiện nay chúng ta vẫn phải khẳng định đó là sức mạnh của lòng dân. Ngày ấy, trước sự vận động của các nhà nho yêu nước, quần chúng nhân dân “cơm đùm gạo gói” thay nhau đi đấu tranh đòi giảm sưu, giảm thuế. Hàng ngàn người chia nhau từng ngụm nước, từng nắm cơm, chăm sóc, động viên những người bị thương… Họ đoàn kết, tương trợ lẫn nhau, không vụ lợi, không toan tính cho cá nhân mình. Họ làm tất cả mọi việc chỉ với mục đích duy nhất là chống lại ách thống trị tàn bạo của chính quyền thực dân phong kiến; đòi lại quyền lợi hợp pháp, chính đáng cho những kiếp người lao khổ. Phong trào chống sưu thuế ở Quảng Nam và các tỉnh miền Trung đã đi vào lịch sử đấu tranh của dân tộc ta như một mốc son sáng ngời. Ghi nhận những giá trị lịch sử to lớn của phong trào chống sưu thuế; ngày 29/12/2017, Bộ trưởng Bộ Văn hóa- Thể thao và Du lịch ban hành Quyết định số 5400/Quyết Định -Bộ Văn Hóa Thể Thao Du Lịch về việc xếp hạng Di tích lịch sử Địa điểm khởi phát phong trào chống sưu, thuế năm 1908 ở miền Trung (Đình Phiếm Ái và Nhà Ông Nghè Tiếp), xã Đại Nghĩa, huyện Đại Lộc, tỉnh Quảng Nam là di tích quốc gia.

Đà Nẵng

4738 lượt xem

Xếp hạng : Di tích cấp quốc gia.

Mở

Lăng mộ Thượng thư Trương Công Hy

Lăng mộ Thượng thư Trương Công Hy

Thượng thư Trương Công Hy (1727 - 1800) là người làng Thanh Quýt của phủ Điện Bàn, nay thuộc xã Điện Thắng Trung, huyện Điện Bàn. Cụ là nhân vật lịch sử đặc biệt, được Viện Sử học (thuộc Viện Khoa học xã hội Việt Nam) khẳng định “là danh thần triều Tây Sơn mà chính sử nước ta còn bỏ sót”, vì thế tên tuổi và sự nghiệp đối với sự phát triển của lịch sử dân tộc cần được tôn vinh xứng đáng. Trương Công Hy đỗ hương cống dưới thời Võ vương Nguyễn Phúc Khoát, làm thầy dạy của ấu chúa Nguyễn Phúc Dương cũng như các hoàng tử, hoàng tôn trong phủ chúa. Nhận thấy sự mục ruỗng của chính sự lúc bấy giờ nên khi triều Tây Sơn chiêu hiền, đãi sĩ, phất cờ chính nghĩa, cụ đã theo phụng sự cho vương triều Tây Sơn và được bổ nhiệm làm Tri phủ Điện Bàn, rồi Khâm sai Quảng Nam trấn, Hình bộ Thượng thư. Về quê an hưu, cụ được truy phong chức Binh bộ Thượng thư, tước Thùy Ân Hầu. Sinh thời, Thượng thư Trương Công Hy là một danh thần luôn hết lòng vì dân, vì nước, nổi tiếng thanh liêm. Trong thời gian làm Tri phủ Điện Bàn, cụ dốc hết tâm sức chấn chỉnh chính quyền cấp thôn, xã; tổ chức khẩn hoang, đẩy mạnh sản xuất, mở mang trường lớp, tiến cử hiền tài, hết lòng chăm lo đời sống nhân dân. Được nhà Tây Sơn cấp lộc điền 500 mẫu ruộng tại Lai Nghi, Phú Chiêm (xã Điện Phương), khi về hưu cụ đã phân phát cho người dân địa phương canh tác. Lúc cụ mất, dân chúng khắp nơi đến viếng rất đông. Làng phải dựng “Xích hậu” (tức nhà khách) để dân chúng trọ lại trước khi vào viếng. Con đường từ “Xích hậu” đến nhà thờ tộc Trương hiện vẫn được dân chúng gọi là Ngõ Quan Thượng. Trong suốt cuộc đời của mình, Thượng thư Trương Công Hy đã có nhiều đóng góp vào việc chấn chỉnh tổ chức giáo dục khoa cử, biên soạn luật lệ, tiến cử người hiền tài… Năm 2005, Lăng mộ Thượng thư Trương Công Hy được Uỷ Ban Nhân Dân tỉnh công nhận là di tích văn hóa lịch sử cấp tỉnh và đến tháng 8 năm 2013, Bộ Văn Hóa - Thể Thao & Du Lịch đã có quyết định công nhận Di tích lịch sử và xếp hạng di tích quốc gia. Nguồn Cổng thông tin điện tử thị xã Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam.

Đà Nẵng

4928 lượt xem

Xếp hạng : Di tích cấp quốc gia.

Mở

Đình Chiên Đàn

Đình Chiên Đàn

Đình Chiên Đàn là một trong những công trình kiến trúc đình làng cổ nhất Quảng Nam. Hiện đình tọa lạc tại thôn Đàn Trung, xã Tam Đàn, huyện Phú Ninh, cách quốc lộ 1A chưa đầy 1km. Theo tư liệu lịch sử, vùng đất Chiên Đàn xưa thuộc huyện Hà Đông, phủ Thăng Hoa. Để tưởng nhớ công ơn của các bậc tiền nhân, tiền hiền, hậu hiền đã có công khai sơn phá thạch lập nên địa hiệu Chiên Đàn; người dân trong làng, trong xã thời ấy đã cùng nhau xây dựng đình Chiên Đàn có quy mô bề thế và đặt tên "Chiên Đàn xã đình" Đình nằm trên một khu đất cao, bằng phẳng. Đình chính được xây dựng theo hình chữ nhất, mặt xoay về hướng đông nam, mái lợp ngói âm dương, hai đầu của mái trang trí hoa văn tinh xảo với hình tượng "Lưỡng long triều nguyệt", mái hiên đắp hai con kỳ lân. Toàn bộ khuôn viên của đình rộng 1.500m², riêng ngôi đình chính rộng 500m², có đủ chỗ cho trên 100 người. Đình gồm 5 gian, 2 chái với 30 cột bằng gỗ mít to hơn một vòng tay người lớn, 3 gian giữa dùng làm nơi thờ tự. Mặt chính là một hàng 6 cột phân cách ngôi đình theo bố cục ba gian hai chái. Phần xà ở phía trên ba gian (xuyên hông thượng nối liền liên kết hai bộ vì kèo) . Trong đình nhiều kèo, kiện được chạm trổ tinh xảo, uyển chuyển được các nghệ nhân làng mộc Văn Hà, xã Tam Thành, huyện Phú Ninh làm nên. Một cột gỗ được trùng tu. Từ khi xây dựng cho đến nay, đình đã trải qua nhiều lần tu sửa, gần đây nhất là vào các năm 1996, 2006 nhưng các yếu tố gốc của ngôi đình vẫn được bảo tồn tính nguyên vẹn của một công trình kiến trúc cổ. Theo truyền thuyết và lời kể của các cụ cao niên sống gần đình Chiên Đàn, khi vua Lê Thánh Tông đi chinh phạt, bình định phương nam, nhà vua đã sử dụng đình Chiên Đàn để nghỉ ngơi và đưa ra những quyết sách phù hợp để giành thắng lợi. Đình Chiên Đàn được xếp hạng Di tích kiến trúc nghệ thuật quốc gia (Quyết định số 39/2002/Quyết Định -Bộ Văn Hóa Thông Tin ngày 30.12.2002 của Bộ Văn hóa Thông tin).Hàng năm vào ngày 15/7 Âm lịch, người dân mở hội đình để tưởng nhớ công ơn cha ông. Nguồn Cổng thông tin điện tử tỉnh Quảng Nam.

Đà Nẵng

5336 lượt xem

Xếp hạng : Di tích cấp quốc gia.

Mở

Di tích lịch sử “Cuộc đấu tranh Hà Lam - Chợ Được”

Di tích lịch sử “Cuộc đấu tranh Hà Lam - Chợ Được”

Di tích nằm cách Chợ Được khoảng 300m và đối diện với trạm y tế xã Bình Triều. Cuộc đấu tranh Hà Lam - Chợ Được diễn ra từ ngày 4/9 đến ngày 7/9/1954 - là cuộc đấu tranh chính trị thể hiện tinh thần yêu chuộng hoà bình và công lý của nhân dân Thăng Bình nói riêng, Quảng Nam nói chung chống lại bọn Mỹ - Diệm ngang ngược, tàn bạo, âm mưu vi phạm Hiệp định Giơ-ne-vơ nhằm chia cắt lâu dài đất nước ta. Khởi đầu cuộc đấu tranh diễn ra tại cầu Bàu Bàng chỉ có mấy chục người tham gia nhưng sau đó đã nhanh chóng đẩy lên thành cao trào với hàng ngàn người tham gia đấu tranh tại Chợ Được. Cuộc đấu tranh này đã làm 43 người chết và 23 người bị thương. Tuy nhiên cuộc đấu tranh đã thể hiện tinh thần yêu nước cao cả, ý chí quật cường, không ngại hy sinh của nhân dân, kiên quyết đấu tranh đòi bọn địch phải tuân thủ thực hiện Hiệp định Giơ-ne-vơ; quyết bảo vệ được nền độc lập, tự do và dân chủ của đất nước…; buộc địch phải chùn bước, phải chấp nhận các yêu sách của Nhân dân đặt ra. Để ghi lại tội ác của Mỹ-Diệm và tưởng nhớ đến những người đã ngã xuống, đài tưởng niệm có diện tích 8.988m2­, có tường rào cổng ngõ bao quanh khá kiên cố, tọa lạc tại thôn 3, xã Bình Triều, huyện Thăng Bình, tỉnh Quảng Nam. Phần tượng đài được xây dựng hình khối cao khoảng 5m, thể hiện ba người đứng tựa lưng vào nhau, bao gồm: một cụ già cầm chắc cây gậy trên tay, một cô gái đang cầm nón lá và một thanh niên đang bồng một em bé bất động trên tay. Phía sau tượng đài là hai bức phù điêu bằng xi măng đắp nổi, mô tả quá trình đấu tranh của nhân dân Hà Lam - Chợ Được trong cuộc đấu tranh ngày 04 tháng 9 năm 1954. Giữa hai bức phù điêu là bệ thờ, phía trong bệ thờ có dòng chữ “Tổ quốc ghi công”. Di tích lịch sử “Cuộc đấu tranh Hà Lam - Chợ Được” được Uỷ Ban Nhân Dân tỉnh Quảng Nam công nhận theo quyết định số 4267/Quyết Định -Uỷ Ban Nhân Dân, ngày 21/11/2005. Năm 2014 được Bộ Văn Hóa -Thể Thao &Du Lịch chính thức xếp hạng di tích lịch sử cấp quốc gia. Nguồn Cổng thông tin điện tử huyện Thăng Bình, tỉnh Quảng Nam.

Đà Nẵng

4898 lượt xem

Xếp hạng : Di tích cấp quốc gia.

Mở