Di tích lịch sử

Việt Nam
Đình Chu Quyến

Đình Chu Quyến

Đình Chu Quyến – Di tích kiến trúc nghệ thuật đặc sắc của xứ Đoài Đình Chu Quyến (còn gọi là đình Chàng) tọa lạc tại xã Chu Minh, huyện Ba Vì, thành phố Hà Nội. Đây là một trong những ngôi đình cổ tiêu biểu của Việt Nam, được xây dựng vào đầu thế kỷ XVII và được Nhà nước xếp hạng Di tích kiến trúc nghệ thuật cấp quốc gia năm 1962. Xưa kia, đình thuộc làng Chu Chàng, tổng Châu Chàng, huyện Tiên Phong, phủ Quảng Oai, trấn Sơn Tây. Sau này, làng Chu Chàng được tách thành Chu Chàng và Chu Quyến, nhưng người dân địa phương vẫn quen gọi là đình Chàng. Ngôi đình nằm ở vùng đất ven sông Hồng, hướng về núi Ba Vì, có vị trí hài hòa theo quan niệm phong thủy truyền thống. Đình Chu Quyến là công trình kiến trúc gỗ quy mô lớn, chỉ gồm một tòa đại đình nhưng mang vẻ đẹp bề thế, uy nghi. Đình có kết cấu gồm 3 gian chính, 2 gian chái, 2 dĩ và hệ thống 6 hàng cột lớn. Các bộ phận kiến trúc như cột, xà, kẻ, cốn, vì nóc đều được liên kết khéo léo bằng kỹ thuật mộc truyền thống. Những cây cột lớn của đình đã trở thành hình ảnh quen thuộc trong dân gian với câu ví “to như cột đình Chàng”. Không chỉ có giá trị về kiến trúc, đình Chu Quyến còn nổi bật bởi nghệ thuật chạm khắc gỗ tinh xảo. Các nghệ nhân xưa đã tạo nên nhiều tác phẩm sinh động với hình ảnh rồng, phượng, hoa lá, mây trời và các hoạt cảnh đời thường như làm ruộng, uống rượu, cưỡi voi, cưỡi ngựa… Những đường nét chạm khắc thể hiện sự tài hoa của nghệ nhân dân gian và phản ánh đời sống văn hóa của xã hội đương thời. Theo các tư liệu còn lưu giữ tại di tích, đình Chu Quyến thờ Nhã Lang Vương (Đức Thánh Chàng), nhân vật gắn với truyền thuyết về thời Hậu Lý Nam Đế. Tương truyền, Nhã Lang Vương là người có công dẹp giặc, bảo vệ đất nước nên được nhiều làng ven sông Hồng tôn làm Thành hoàng. Hằng năm, lễ hội đình được tổ chức vào ngày rằm tháng Giêng với các nghi lễ tế thần cùng nhiều hoạt động văn hóa dân gian như đấu vật, bơi thuyền, ca hát, thu hút đông đảo nhân dân và du khách. Hiện nay, đình Chu Quyến còn lưu giữ 13 đạo sắc phong của các triều đại Lê Trung hưng, Tây Sơn và Nguyễn cùng nhiều hoành phi, câu đối, hiện vật có giá trị lịch sử. Trải qua nhiều lần tu bổ, đặc biệt là đợt trùng tu lớn từ năm 2007 đến 2009, đình vẫn giữ được vẻ đẹp cổ kính và những giá trị nguyên bản. Với những giá trị tiêu biểu về lịch sử, kiến trúc và nghệ thuật, Đình Chu Quyến là một di sản quý của Thăng Long – Hà Nội, góp phần bảo tồn nét đẹp văn hóa đình làng truyền thống và thể hiện tài năng sáng tạo của cha ông trong lịch sử dân tộc. Theo Hà Nội Danh thắng và Di tích

Hà Nội

699 lượt xem

Xếp hạng : Di tích cấp quốc gia

Mở

Đàn Xã Tắc

Đàn Xã Tắc

Đàn Xã Tắc – Di tích lịch sử "đặc biệt" của Thăng Long Đàn Xã Tắc là một di tích lịch sử quan trọng của kinh thành Thăng Long xưa, được xây dựng từ năm 1048 dưới triều vua Lý Thái Tông. Đây là nơi các vị vua phong kiến tổ chức lễ tế Thần Đất (Xã) và Thần Nông (Tắc), cầu cho quốc thái dân an, mùa màng bội thu và đất nước thịnh vượng. Trong chế độ quân chủ, Đàn Xã Tắc được xem là biểu tượng cho chủ quyền quốc gia và sự bền vững của triều đại. Năm 2006, trong quá trình thi công đường Kim Liên mới tại phường Nam Đồng, quận Đống Đa, Hà Nội, dấu tích của Đàn Xã Tắc bất ngờ được phát hiện sau hơn 200 năm bị vùi lấp. Phát hiện này có ý nghĩa đặc biệt, góp phần làm sáng tỏ quy hoạch kinh thành Thăng Long và khẳng định giá trị lịch sử của di tích. Theo sử sách, Đàn Xã Tắc được đắp bằng đất sạch lấy từ nhiều địa phương trên cả nước, thể hiện sự thống nhất lãnh thổ và tinh thần gắn kết quốc gia. Đàn gồm hai tầng hình vuông, được xây dựng theo nguyên lý ngũ hành với năm màu tượng trưng cho năm phương. Xung quanh có tường bao, hồ nước, bình phong và hệ thống bậc cấp phục vụ các nghi lễ tế tự của triều đình. Ngày nay, khu vực phát hiện Đàn Xã Tắc được đánh dấu bằng bia đá để ghi nhớ vị trí của di tích. Đây không chỉ là một di sản khảo cổ có giá trị mà còn là minh chứng quan trọng về lịch sử, văn hóa và tín ngưỡng của kinh thành Thăng Long, góp phần bảo tồn và phát huy truyền thống văn hóa của dân tộc Việt Nam. Theo BQL di tích Hoàng Thành Thăng Long

Hà Nội

651 lượt xem

Xếp hạng : Di tích cấp quốc gia

Mở

Đền Bia Bà La Khê

Đền Bia Bà La Khê

Đền Bia Bà La Khê – Di tích lịch sử, văn hóa tâm linh của Hà Nội Đền Bia Bà là một di tích lịch sử – văn hóa nằm trong quần thể Đình – Chùa – Đền Bia Bà ở phường La Khê, quận Hà Đông, thành phố Hà Nội. Đây là công trình có giá trị về lịch sử, kiến trúc và tín ngưỡng dân gian, đồng thời là điểm đến tâm linh nổi tiếng của người dân Thủ đô. Theo thần tích địa phương, đền thờ Đức Thánh Bà Trần Thị Hiền (1511–1538), người quê làng La Ninh (nay là La Khê). Tương truyền, bà là cung phi của vua Mạc Thái Tông, nổi tiếng bởi tài đức và lòng nhân hậu. Sau khi qua đời, nhân dân lập đền thờ để tưởng nhớ công lao và tôn bà làm vị thần bảo hộ cho quê hương. Trải qua nhiều thế kỷ, Đền Bia Bà trở thành nơi sinh hoạt tín ngưỡng quan trọng, gắn bó với đời sống văn hóa của người dân địa phương. Di tích mang đậm kiến trúc truyền thống của vùng đồng bằng Bắc Bộ với cổng Tam quan, sân đền, tòa Đại bái và Hậu cung được bố trí hài hòa trong không gian cổ kính. Hậu cung là nơi đặt tấm bia đá cổ ghi công Đức Thánh Bà, cũng là nguồn gốc tên gọi "Bia Bà". Cùng với đình và chùa La Khê, quần thể di tích tạo nên một không gian văn hóa đặc sắc, phản ánh lịch sử hình thành và phát triển của vùng đất Hà Đông. Không chỉ có giá trị về mặt lịch sử và kiến trúc, Đền Bia Bà còn lưu giữ nhiều phong tục, nghi lễ truyền thống của địa phương. Hằng năm, đặc biệt vào dịp đầu xuân, ngày rằm và mùng Một âm lịch, đông đảo người dân và du khách đến dâng hương, cầu bình an, tài lộc và bày tỏ lòng thành kính. Với những giá trị tiêu biểu về lịch sử, văn hóa và tín ngưỡng, Đền Bia Bà là một trong những di tích tiêu biểu góp phần gìn giữ bản sắc văn hóa của Hà Nội và là điểm đến ý nghĩa đối với du khách trong và ngoài nước. Theo Bachlien.vn tổng hợp

Hà Nội

674 lượt xem

Xếp hạng : Di tích cấp quốc gia

Mở

Đền Ghềnh

Đền Ghềnh

Đền Ghềnh - Ngôi đền linh thiêng thờ Bắc Cung Hoàng hậu Lê Ngọc Hân Đền Ghềnh, tên chữ Thiên Quang Linh Từ, tọa lạc bên bờ sông Hồng, thuộc Bồ Đề, Long Biên, Hà Nội. Đây là một trong những ngôi đền nổi tiếng của Thủ đô, không chỉ bởi kiến trúc và tín ngưỡng thờ Mẫu mà còn gắn với cuộc đời của Bắc Cung Hoàng hậu Lê Ngọc Hân – người vợ tài sắc của Hoàng đế Quang Trung. Theo truyền thuyết dân gian, sau khi Hoàng hậu Lê Ngọc Hân và hai người con qua đời, hài cốt của mẹ con bà bị triều Nguyễn quật lên và thả xuống sông Hồng. Người dân làng Ái Mộ đã âm thầm vớt, đắp mộ và lập miếu thờ để tưởng nhớ. Trải qua thời gian, miếu được mở rộng thành Đền Ghềnh như ngày nay. Trong tâm thức nhân dân, Hoàng hậu Lê Ngọc Hân được tôn kính như hóa thân của Mẫu Thoải, vị Thánh Mẫu cai quản sông nước trong tín ngưỡng thờ Mẫu Việt Nam. Ngôi đền được xây dựng vào năm 1858 trên khu đất rộng bên sông Hồng. Hệ thống thờ tự của Đền Ghềnh mang nhiều nét riêng so với các đền Mẫu khác. Chính điện đặt tượng Hoàng hậu Lê Ngọc Hân ở vị trí trung tâm, cùng nhiều ban thờ được bài trí theo truyền thống tín ngưỡng dân gian, tạo nên không gian linh thiêng và giàu giá trị văn hóa. Hằng năm, lễ hội Đền Ghềnh được tổ chức từ mùng 6 đến 12 tháng Tám âm lịch, nổi bật với nghi lễ rước nước trên sông Hồng nhằm cầu mưa thuận gió hòa và tưởng nhớ Hoàng hậu Lê Ngọc Hân. Bên cạnh đó, tục dâng bánh đa và khế – một nét văn hóa đặc sắc của ngôi đền – vẫn được người dân gìn giữ qua nhiều thế hệ. Không chỉ là điểm sinh hoạt tín ngưỡng của người dân địa phương, Đền Ghềnh còn lưu giữ nhiều hiện vật có giá trị như chuông đồng thời Tự Đức, kiệu Long đình, kiệu Mẫu, cùng hệ thống hoành phi, câu đối ca ngợi công đức của Hoàng hậu Lê Ngọc Hân và vẻ đẹp của vùng đất bên sông Hồng. Ngày nay, Đền Ghềnh là điểm đến văn hóa – tâm linh tiêu biểu của Hà Nội, thu hút đông đảo du khách và người hành hương đến tham quan, chiêm bái. Nguồn: Hà Nội Danh thắng và Di tích

Hà Nội

642 lượt xem

Xếp hạng : Di tích cấp quốc gia

Mở

Di tích cách mạng nhà số 5D Hàm Long

Di tích cách mạng nhà số 5D Hàm Long

Di tích cách mạng nhà số 5D Hàm Long tọa lạc tại phường Phan Chu Trinh, quận Hoàn Kiếm, thành phố Hà Nội. Đây là địa điểm ghi dấu sự kiện thành lập Chi bộ Cộng sản đầu tiên ở Việt Nam vào cuối tháng 3 năm 1929, một mốc son quan trọng trong lịch sử cách mạng nước ta, mở đường cho sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam. Theo Bảo tàng Lịch sử Quốc gia, từ cuối năm 1928, phong trào đấu tranh của giai cấp công nhân và xu hướng cộng sản ở Việt Nam phát triển mạnh mẽ. Trước yêu cầu của thực tiễn cách mạng, những hội viên tiên tiến của Hội Việt Nam Thanh niên Cách mạng Đồng chí hội đã bí mật họp tại nhà số 5D Hàm Long để thành lập Chi bộ Cộng sản đầu tiên. Cuộc họp diễn ra vào một đêm cuối tháng 3 năm 1929 với sự tham gia của các đồng chí Ngô Gia Tự, Nguyễn Đức Cảnh, Trần Văn Cung, Trịnh Đình Cửu, Đỗ Ngọc Du, Dương Hạc Đính và Nguyễn Tuân. Đồng chí Nguyễn Phong Sắc do bận công tác đột xuất nên vắng mặt nhưng đã gửi ý kiến tán thành nghị quyết và được công nhận là thành viên chính thức của chi bộ. Đồng chí Trần Văn Cung (bí danh Quốc Anh) được bầu làm Bí thư Chi bộ. Tại cuộc họp, Chi bộ đã xác định những nhiệm vụ trọng tâm như xúc tiến thành lập Đảng Cộng sản, phát triển các tổ chức công hội, nông hội và đẩy mạnh truyền bá chủ nghĩa Mác – Lênin. Sự ra đời của Chi bộ Cộng sản đầu tiên tại 5D Hàm Long đã tạo tiền đề trực tiếp cho việc thành lập Đông Dương Cộng sản Đảng ngày 17/6/1929 và tiến tới thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam đầu năm 1930. Ngôi nhà số 5D Hàm Long vốn là một căn nhà một tầng trong dãy nhà 5A, 5B, 5C, 5D của một gia đình tư sản cho thuê. Nhà có diện tích khoảng 24m², phía sau có sân nhỏ, bếp và khu vệ sinh. Đặc biệt, căn nhà nằm sát một ngõ nhỏ thông ra phố Lê Văn Hưu, tạo điều kiện thuận lợi cho các cán bộ cách mạng bí mật rút lui khi cần thiết. Cuối năm 1928, Kỳ bộ Bắc Kỳ của Hội Việt Nam Thanh niên Cách mạng Đồng chí hội đã thuê căn nhà này làm cơ sở hoạt động bí mật và giao cho đồng chí Trần Văn Cung cùng vợ là Nguyễn Thị Liên trực tiếp quản lý. Trong ngôi nhà đơn sơ, bộ tràng kỷ, chiếc hòm hai đáy dùng để cất giấu tài liệu, chiếc đèn dầu cùng nhiều vật dụng sinh hoạt giản dị đã trở thành những chứng tích lịch sử gắn với quá trình chuẩn bị thành lập Đảng. Ngày 25/11/1959, ngôi nhà được khôi phục thành nhà lưu niệm, trưng bày nhiều tài liệu và hiện vật gắn với sự ra đời của Chi bộ Cộng sản đầu tiên. Năm 1964, di tích được công nhận là Di tích cách mạng Hà Nội. Đến năm 2000, công trình tiếp tục được tu bổ nhằm khôi phục diện mạo như thời điểm diễn ra cuộc họp lịch sử tháng 3 năm 1929. Ngày nay, di tích 5D Hàm Long do Bảo tàng Hà Nội quản lý, là địa chỉ đỏ có ý nghĩa đặc biệt trong giáo dục truyền thống cách mạng, góp phần giúp các thế hệ hôm nay hiểu rõ hơn về quá trình hình thành tổ chức cộng sản đầu tiên và sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam. Nguồn: Bảo tàng Lịch sử Quốc gia.

Hà Nội

158 lượt xem

Xếp hạng : Di tích cấp quốc gia

Mở

Đền thờ Chu Văn An

Đền thờ Chu Văn An

Đền thờ Chu Văn An tọa lạc bên dòng sông Tô Lịch, thuộc xã Thanh Liệt, huyện Thanh Trì, thành phố Hà Nội. Đây là nơi thờ Chu Văn An (1292–1370) – nhà giáo, nhà nho nổi tiếng thời Trần, người được các thế hệ suy tôn là "Vạn thế sư biểu" (người thầy của muôn đời). Theo các tư liệu lịch sử, sau khi Chu Văn An qua đời, nhân dân quê hương Thanh Liệt đã lập đền thờ và tôn ông làm Thành hoàng làng. Đến thời Lê Trung Hưng (1533–1789), đền được phối thờ thêm các vị đỗ đại khoa của địa phương nên còn mang ý nghĩa là Văn chỉ – nơi tôn vinh những người có học vấn và công lao đối với quê hương. Đền được xây dựng theo kiến trúc truyền thống kiểu chữ "Công", gồm ba hạng mục chính là nhà tiền tế, phương đình và hậu cung. Hậu cung là không gian linh thiêng nhất của di tích, nơi đặt khám thờ sơn son thếp vàng cùng bài vị thờ Chu Văn An. Trải qua nhiều lần trùng tu, đặc biệt vào dịp Đại lễ kỷ niệm 1000 năm Thăng Long – Hà Nội, ngôi đền được tu bổ khang trang nhưng vẫn giữ được nét kiến trúc cổ kính và không gian trang nghiêm. Đền hiện còn lưu giữ nhiều hiện vật có giá trị lịch sử và văn hóa như hai bức y môn, cửa võng, các hoành phi, câu đối, khám thờ, đỉnh đồng, lọ độc bình, sáu bia đá, thần phả cùng năm đạo sắc phong thời Lê và Nguyễn, phản ánh truyền thống tôn sư trọng đạo của dân tộc Việt Nam. Không chỉ là nơi tưởng niệm nhà giáo Chu Văn An, đền còn là địa điểm sinh hoạt tín ngưỡng của nhân dân địa phương và là điểm đến của nhiều học sinh, sinh viên, nhà giáo cùng du khách thập phương đến dâng hương, bày tỏ lòng biết ơn đối với người thầy mẫu mực của nền giáo dục Việt Nam. Với những giá trị nổi bật về lịch sử, văn hóa và giáo dục, năm 1989, Đền thờ Chu Văn An được xếp hạng Di tích lịch sử - văn hóa cấp quốc gia. Ngày nay, di tích không chỉ góp phần bảo tồn di sản Thăng Long – Hà Nội mà còn là biểu tượng của truyền thống hiếu học và tôn sư trọng đạo của dân tộc. Nguồn: Thông tấn xã Việt Nam

Hà Nội

708 lượt xem

Xếp hạng : Di tích cấp quốc gia

Mở

DI TÍCH LỊCH SỬ MIẾU TRUNG LIỆT

DI TÍCH LỊCH SỬ MIẾU TRUNG LIỆT

DI TÍCH LỊCH SỬ MIẾU TRUNG LIỆT Miếu Trung Liệt tọa lạc trang nghiêm trên đỉnh Gò Đống Đa, là công trình cổ kính được lập ra để tưởng nhớ các vị trung thần, nghĩa sĩ đã có công oanh liệt và tuẫn tiết để bảo vệ kinh thành. Qua cổng Nghi môn bằng gạch vồ rêu phong và sân gạch nhỏ là tới tòa Đại bái vững chãi, nổi bật với ba chữ "Trung Liệt Miếu" cùng hệ thống hoành phi, câu đối sơn son thếp vàng. Miếu được xây dựng theo lối kiến trúc chữ Đinh (\text{丁}), đầu hồi bít đốc, trên lợp ngói di cổ kính mang đậm dáng dấp nghệ thuật kiến trúc thời Nguyễn từ thế kỷ XIX (năm 1856). Dù nằm trong cùng một khuôn viên, nhưng Miếu Trung Liệt có tính chất thờ tự hoàn toàn độc lập với Gò Đống Đa. Nếu như Gò Đống Đa là chứng tích chiến trường năm 1789 gắn liền với tôn vinh Hoàng đế Quang Trung và chiến thắng quân Thanh, thì Miếu Trung Liệt lại là nơi đặc biệt lập ra để thờ phụng các vị quan yêu nước thời Nguyễn đã anh dũng hy sinh khi thực dân Pháp tấn công thành Hà Nội. Chính vì vậy, trung tâm thờ tự tại Hậu cung của miếu đặt bài vị và tượng thờ của Tổng đốc Nguyễn Tri Phương, người đã tuyệt thực đến chết sau khi thành thất thủ lần thứ nhất năm 1873, và Tổng đốc Hoàng Diệu, người đã tự vẫn dưới gốc đa cổ thụ khi thành thất thủ lần thứ hai năm 1882. Bên cạnh đó, miếu cũng phối thờ Kinh lược sứ Nguyễn Lâm cùng bài vị của vua Quang Trung để quy tụ hồn thiêng sông núi. Công trình đã được xếp hạng di tích lịch sử quốc gia, được đầu tư kinh phí trùng tu nhằm bảo tồn nguyên vẹn các giá trị kiến trúc và khí tiết kiên trung của các bậc tiền nhân. Nguồn: Hà Nội – Danh thắng và Di tích

Hà Nội

355 lượt xem

Xếp hạng : Di tích cấp quốc gia

Mở

Đền thờ Phùng Hưng

Đền thờ Phùng Hưng

Đền thờ Phùng Hưng (Bố Cái Đại Vương) được lập ở nhiều nơi trên đất nước Việt Nam, nhưng ngôi đền ở Đường Lâm (thị xã Sơn Tây, TP Hà Nội) có quy mô lớn nhất, kiến trúc độc đáo và chứa đựng nhiều giá trị lịch sử, văn hóa. Phùng Hưng là người ấp Đường Lâm. Ông là người nhân đức, có lòng yêu thương nhân dân. Phùng Hưng có hai người em là Phùng Hải và Phùng Dĩnh. Ba anh em đều có sức khỏe phi thường: Phùng Hưng đánh được hổ, vật được trâu; hai người em cõng đá nặng ngàn cân. Do vậy mà nhân dân gần xa đều kính phục, tôn Phùng Hưng là Đô Quán, Phùng Hải là Đô Bảo. Sinh vào thời đất nước bị giặc ngoại xâm, họ đã sớm hình thành ý chí đánh đuổi giặc, giành độc lập, tự chủ. Họ chiêu mộ nghĩa quân hào kiệt, dấy binh nổi dậy ở Đường Lâm chống lại ách thống trị của nhà Đường. Khi nghĩa quân đánh thành Tống Bình, tướng địch là Cao Chính Bình thất bại, lo lắng mà chết. Phùng Hưng nắm giữ phủ thành, tổ chức việc chính trị, xây dựng nền độc lập tự chủ cho đất nước trong 7 năm. Sau khi ông mất, nhân dân nhớ ơn và suy tôn ông là Bố Cái Đại Vương. Tại quê hương Phùng Hưng là thôn Cam Lâm, xã Đường Lâm, thị xã Sơn Tây, thành phố Hà Nội, nhân dân đã lập đền để tôn thờ ông. Quy mô hiện nay của ngôi đền được hình thành sau đợt sửa chữa, trùng tu lớn vào thế kỷ XIX, gồm các hạng mục: cổng nghi môn, tả hữu mạc, đại bái và hậu cung. Cổng nghi môn được xây dựng đơn giản, có chức năng ngăn cách thế giới tâm linh với cuộc sống trần tục. Qua cổng là hai dãy tả hữu mạc, mỗi dãy ba gian, các bộ vì kèo được thiết kế thông thoáng, thuận tiện cho các sinh hoạt cộng đồng. Đại bái gồm ba gian hai dĩ, hai mái lợp ngói ri. Các bộ vì được kết cấu trên bốn hàng chân cột, liên kết theo lối: “Thượng giá chiêng rường nách, hạ kẻ chuyền, bảy hiên”. Hoa văn trang trí trên các cấu kiện kiến trúc khá giản dị, chủ yếu tập trung ở đầu dư, kìm chạm hình rồng, rường nách chạm vân mây, lá lật, các kẻ và bẩy bào soi chạm lá kết hợp với những dải mây cách điệu. Hậu cung gồm ba gian, xây theo kiểu tường hồi bít đốc. Các cấu kiện kiến trúc thiên về sự bền chắc, trang nghiêm và tôn kính đối với vị anh hùng được thờ phụng. Tượng đồng Phùng Hưng được đặt tại vị trí trang trọng trong hậu cung (tượng được tôn tạo vào đầu thế kỷ XXI). Quê hương Cam Lâm không chỉ có đền thờ Phùng Hưng mà còn lưu giữ nhiều địa danh gắn với cuộc đời và sự nghiệp của ông như Vũng Hàm, đồi Hổ Gầm, đồi Xà Mẫu, giếng Ngọc và rặng duối. Theo truyền thuyết, đây là những nơi anh em họ Phùng từng đánh hổ, luyện võ và tập trận trước khi khởi nghĩa chống quân đô hộ. Đền Phùng Hưng đã được Bộ Văn hóa và Thông tin xếp hạng Di tích lịch sử - kiến trúc nghệ thuật cấp quốc gia năm 1964. Nguồn: Hà Nội – Danh thắng và Di tích.

Hà Nội

624 lượt xem

Xếp hạng : Di tích cấp quốc gia

Mở

Đền và lăng Ngô Quyền

Đền và lăng Ngô Quyền

Đền và lăng Ngô Quyền thuộc xã Đường lâm, Thị xã Sơn Tây, Hà Nội. Thôn Cam Lâm, xã Đường Lâm, thị xã Sơn Tây, thành phố Hà Nội là mảnh đất “một ấp hai vua” (Phùng Hưng và Ngô Quyền). Ngày nay nơi đây vẫn còn lưu giữ những dấu tích, đền thờ gắn liền với tên tuổi của hai ông, trong đó đặc biệt là đền Phùng Hưng và lăng Ngô Quyền. Ngô Quyền sinh ra và lớn lên trong một gia đình mà người cha đã làm đến chức Châu Mục. Ngô Quyền là người khôi ngô, tuấn tú, tướng mạo khác thường, trí dũng song toàn, sức khoẻ hơn người. Ông sớm tinh thông võ nghệ, kiếm cung... tiếng tăm lẫy lừng. Sinh ra khi đất nước có ngoại xâm, thủa thiếu thời, ông đã làm nhiều việc thiện đức, giúp đỡ người nghèo và chiêu mộ anh tài, hào kiệt, xây dựng căn cứ, chờ ngày khởi nghĩa. Năm 938, giặc Nam Hán do Hoằng Thao đem chiến thuyền ồ ạt kéo vào nước ta phía cửa Bạch Đằng. Bằng chiến thuật quân sự, dùng cọc gỗ vót nhọn, đầu bịt sắt, Ngô Quyền và quân lính đã đánh tan đội thuỷ binh hùng mạnh của giặc cùng với tướng giặc Hoằng Thao - con vua Nam Hán. Chiến thắng oanh liệt của Ngô Quyên trên sông Bạch Đằng đã chấm dứt thời kỳ Bắc thuộc, kéo dài hơn một ngàn năm, mở ra trang sử mới độc lập, tự do lâu dài cho dân tộc ta. Ngô Quyền đã xây dựng lại đất nước, chỉnh đốn chính trị, xây dựng thành quách, định nghi lễ... bộ máy chính quyền mang tính chất độc quyền lâu dài. Đền Ngô Quyền được xây dựng lâu đời và qua nhiều lần trùng tu. Lần trùng tu lớn vào thời Nguyễn, triều Tự Đức (1848 - 1883). Cuối thế kỷ XX đã tu bổ nâng cấp đền, lăng và cảnh quan xung quanh. Quy mô đền hiện gồm các hạng mục: Nghi môn, Tả Hữu mạc, Đại bái và Hậu cung. Đại bái đền gồm 5 gian, xây kiểu tường hồi bít đốc. Các cấu kiện của bộ khung gỗ chủ yếu là bào trơn đóng bén thiên về độ vững trãi cho công trình. Hậu cung kiểu Tiền đạo hậu đốc, bộ khung trang trí đề tài tứ linh, tứ quý... tôn nghiêm, thể hiện sự kính ngưỡng đối với vị thần. Đền thờ Ngô Quyền được xây bên sườn đồi. Các đồ thờ tự như: tượng Ngô Quyền, long ngai bài vị, hương án, giá văn, lộc bình... được bài trí trong Hậu cung. Đại bái trưng bày rất nhiều hiện vật, trong đó chú ý là các cọc ngầm đóng trên sông Bạch Đằng... nói lên thân thế và sự nghiệp của Ngô Quyền. Ngay cạnh đền, phía trước là lăng Ngô Quyền, xây theo hình 4 mái trên bệ cao, có tường gạch bao quanh. Giữa lăng là ngai thờ, bên trong có bia đá “Tiền Ngô vương lăng”, niên đại Minh Mệnh thứ hai (1821). Trước lăng là những rộc sâu, tương truyền là hồ sen nơi thủa nhỏ Ngô Quyền thường cùng bạn chăn trâu, bởi lặn và tập trận. Phía sườn đồi là những rặng duối, tương truyền là nơi Ngô Quyền buộc dây cột voi vào gốc duối. Đền và lăng Ngô Quyền đã được Bộ Văn hoá và Thông tin xếp hạng di tích lịch sử, kiến trúc nghệ thuật năm 1964. Theo Hà Nội Danh thắng và Di tích

Hà Nội

704 lượt xem

Xếp hạng : Di tích cấp quốc gia

Mở

Am Mỵ Châu

Am Mỵ Châu

Am Mỵ Châu còn được gọi là am Bà Chúa hay đền thờ Mỵ Châu nằm ở phía Tây đình Ngự Triều Di Quy. Phía trước am thờ có một cây đa tương truyền là do Ngô Quyền đã trồng. Cây đa này rất lớn nên thường gọi là cây đa nghìn tuổi, nay không còn nữa, chỉ còn lại một vòm cửa xây gạch là dấu tích dưới vòm của những rễ đa khi xa. Khu am thờ là một kiến trúc gồm 2 phần chính. Tiền tế là một ngôi nhà được xây dựng bằng gỗ 3 gian, tường hồi bít đốc, mái lợp ngói ta. Các bộ vì được làm theo kiểu “thượng giá chiêng, hạ chồng rường, kẻ bẩy”. Tất cả các cấu kiện đều không có chạm khắc hoa văn gì mà chỉ bào soi. Kiến trúc này có niên đại muộn (cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX). Trên thượng lương có dòng chữ Hán ghi rõ niên đại tu bổ: Việt Nam dân chủ cộng hoà, tuế thứ Quý Sửu (1973). Hậu cung là 1 toà nhà xoay dọc, kết cấu chịu lực chính là các bức tường xây bao 3 mặt chỉ để 2 cửa bên thông với tiền tế. Tại tiền tế 2 bên trụ đầu hồi nhà có đắp ngoã đôi câu đối: Trung tín nhất tâm chiêu nhật nguyệt; linh quang vạn cổ đẳng càn khôn (tạm dịch: một lòng trung tín tựa trăng sao; anh linh sáng sủa mãi mãi như trời đất). Tại gian giữa có ban thờ gọi là “hương án tiền”, phía trên có bức cuốn thư đề 4 chữ Hán: Tốn cung diên tuý (cung thờ người con gái ) và có 4 đôi câu đối ở khu vực này nói về lòng trung tín của công chúa Mỵ Châu. Đôi câu đối tại cột cái cạnh hương án: trung tín thệ tâm thân hoá thạch; hưng vong sái lệ vọng trầm châu (lòng trung tín trong tâm đã thề nên thân hoá đá; dòng nước mắt khóc về sự thịnh suy kết thành châu ngọc dưới giếng sâu). Bên cạnh đó một đôi câu đối khác: Phái diễn ngàn hoàng trịnh liệt cao huyền thiên cổ kính; ba trừng ngọc tỉnh hiển linh quang bạch nhất sinh tâm (dòng dõi của nàng là con Lạc cháu Hồng, tấm lòng trinh liệt được nêu gương từ xa đến nay; giếng ngọc toả ánh sáng thiêng liêng tỏ rõ tấm lòng thành). Đi tiếp vào phía trong, trước hậu cung có ban thờ “thập nhị cô” - những người hầu cận của công chúa. Có đôi câu đối trên trụ 2 bên ban thờ: Thiên tải thượng thị gia phi thuỳ năng biệt chi quy chảo nỗ cơ truyền ngoại sử; ngũ luân chung phụ giữ phu quả thục dân giã bạng khai tỉnh thuỷ đội thâm tình (ngàn năm đã qua cái đúng cái sai ai có thể biện minh được, cái móng rùa làm nẫy nỏ thần thì cũng chỉ là truyền thuyết; trong ngũ luân, cha và chồng ai là người thân hơn chỉ có ngọc trai và nước giếng ngọc mới chứng tỏ được thôi). Hậu cung là nơi có đặt ban thờ bà chúa Mỵ Châu. Trên có đặt ngai thờ. Gian trong cùng là nơi đặt tượng đá. Đây chính là “tượng đá Mỵ Châu” đã được kể trong truyền thuyết. Có thể kể thêm rằng: nơi mà Mỵ Châu bị vua cha chém đầu là đèo Mộ Dạ thuộc tỉnh Nghệ An ngày nay nhưng theo câu truyện truyền thuyết thì tượng hoá đá trôi về tận chân thành Ngoại. Tại Nghệ An hiện nay cũng có đền thờ An Dương Vương, cạnh đó là am thờ Mỵ Châu. Địa điểm đó gọi là Núi Cuông, nay đền ở trên đỉnh núi, còn được gọi là đền Cuông. Theo BQL Di tích Thành Cổ Loa

Hà Nội

589 lượt xem

Xếp hạng : Di tích cấp quốc gia đặc biệt

Mở