Di tích lịch sử

Việt Nam
Di tích Rừng Khuôn Mánh

Di tích Rừng Khuôn Mánh

Rừng Khuôn Mánh thuộc xã Tràng Xá, huyện Võ Nhai, có địa hình hiểm trở, từng là nơi hoạt động của cán bộ cách mạng và du kích trong thời kỳ bí mật. Ngày 15-9-1941, tại đây đã diễn ra Lễ thành lập Đội Cứu Quốc quân II, đó là mốc son đánh dấu một thời kỳ lịch sử đấu tranh cách mạng kiên cường của Đảng và nhân dân ta trong sự nghiệp giải phóng dân tộc. Lịch sử ghi lại: Ở căn cứ địa Bắc sơn- Võ Nhai, cuộc khủng bố đàn áp cách mạng của thực dân Pháp diễn ra ác liệt, Cứu Quốc quân I phải rút khỏi căn cứ để bảo toàn lực lượng, nhiều cơ sở Đảng bị phá vỡ, phong trào cách mạng gặp khó khăn. Lúc đó Đồng chí Hoàng Quốc Việt, Ủy viên Trung ương Đảng, cùng Ban lãnh đạo cứ địa Bắc Sơn- Võ Nhai chủ trương khôi phục lại đội Cứu Quốc quân I để duy trì tiếng súng võ trang Bắc Sơn, cổ vũ phong trào cách mạng. Sáng 15-9-1941 tại rừng Khuôn Mánh, đồng chí Hoàng Quốc Việt, thay mặt Trung ương Đảng tuyên bố thành lập Cứu Quốc quân II, giao cờ và nhiệm vụ cho Đội phải đấu tranh chống địch khủng bố, trừ gian, diệt phản động đầu sỏ, bảo vệ cơ sở cách mạng, bảo vệ căn cứ địa, củng cố và phát triển các đội tự vệ, duy trì tiếng súng đấu tranh võ trang để cổ vũ phong trào cách mạng của cả nước. Ban chỉ huy của Đội được chỉ định gồm ba đồng chí: Chu Văn Tấn- Chỉ huy trưởng; Nguyễn Cao Đàm- Chính trị viên chỉ đạo; Trần Văn Phấn - Chỉ huy phó. Đội ban đầu có 36 cán bộ chiến sĩ (3 nữ), vài ngày sau quân số lên tới 46 người, biên chế thành 5 tiểu đội, trang bị vũ khí thô sơ: Súng kíp, lưỡi lê, giáo mác... Giữa vòng vây của thực dân Pháp và bộ máy cai trị của phong kiến tay sai, đội Cứu Quốc quân II được thành lập, đây là một lực lượng tiền thân của Quân đội nhân dân Việt Nam. Rừng Khuôn Mánh, địa điểm thành lập Đội Cứu Quốc quân II ngày 15-9-1941 đã được Bộ Văn hóa- Thông tin (cũ) xếp hạng di tích lịch sử cấp Quốc gia, xã Tràng Xá được tuyên dương Anh hùng lực lượng vũ trang trong kháng chiến chống Pháp. Hiện, danh sách Đội Cứu Quốc quân II được khắc trang trọng trên bia đá hoa cương, tạc vào đại ngàn rừng Khuôn Mánh một sự kiện lịch sử quan trọng trong cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc của nhân dân Việt Nam. Nguồn: Báo Thái Nguyên điện tử

Thái Nguyên

4557 lượt xem

Xếp hạng : Di tích cấp quốc gia

Mở

Di tích lịch sử nhà tù Chợ Chu

Di tích lịch sử nhà tù Chợ Chu

Di tích Nhà tù Chợ Chu nằm ở xóm Vườn Rau, Thị trấn Chợ Chu, huyện Định Hóa, tỉnh Thái Nguyên. Năm 1889, Chợ chu bị thực dân Pháp chiếm đóng. Năm 1894, chúng đặt cơ quan đại diện cai trị vùng này. Đến năm 1916, chúng tiến hành xây dựng nhà tù. Ban đầu nhà tù làm bằng tre, gỗ đơn sơ để giam thường phạm, sau chúng giam cầm cả các chiến sỹ yêu nước tham gia cuộc Khởi nghĩa Thái Nguyên (1917) và Khởi nghĩa Yên Bái (1930). Năm 1940, Khởi nghĩa Bắc Sơn nổ ra, chúng bắt nhiều cán bộ tham gia khởi nghĩa đưa về đây giam giữ. Năm 1942, thực dân Pháp xây dựng nhà tù kiên cố, bằng gạch ngói, xi măng có thể giam giữ 200 người một lúc, trong đó có một số tù chính trị chuyển từ Căng Bá Vân, nhà tù Sơn La đến. Tháng 8/1943, 100 tù chính trị ở Nhà tù Sơn La bị dồn về giam ở đây, trong đó có nhiều đồng chí là đảng viên Đảng Cộng sản. Từ đó, một chi bộ Đảng Cộng sản trong tù được hình thành. Do cài được người vào hàng ngũ binh lính địch, Chi bộ Nhà tù Chợ Chu thường xuyên được sự chỉ đạo của Xứ ủy Bắc Kỳ. Trong tù, các chiến sỹ Cộng sản đã biến Nhà tù thành trường học, nghiên cứu lý luận Mac–Lênin, học tập phương thức tổ chức, lãnh đạo cách mạng, rèn luyện bản lĩnh chính trị. Tại đây các chiến sỹ Cộng sản ở Nhà tù Chợ Chu cho ra đời Báo “Thông Ngàn” và xây dựng các màn kịch có nội dung yêu nước, tự hào dân tộc, các bài ca cách mạng để động viên các chiến sỹ cộng sản, những người yêu nước bền gan đấu tranh, chờ thời cơ thuận lợi để vượt ngục ra ngoài hoạt động. Ngày 2/10/1944, ta tổ chức cho 12 đồng chí vượt ngục thành công đã góp phần xây dựng căn cứ quan trọng ở Định Hóa, Đại Từ và Chiến khu Nguyễn Huệ. Đó là các đồng chí Song Hào, Lê Hiến Mai, Tạ Xuân Thu, Hoàng Bá Sơn, Lê Trung Đình, Vũ Phong, Nhị Quý, Trần Tùng, Chu Nhữ, Nguyễn Cao và Phạm Ngọc Bổng… Di tích Nhà tù Chợ Chu là nơi ghi dấu tội ác dã man của thực dân Pháp và cũng là biểu tượng sinh động của những người chiến sĩ cách mạng đã hiến dâng cuộc sống, chiến đấu hy sinh vì độc lập tự do của Tổ quốc. Nhiều đồng chí đã nêu cao tấm gương sáng về tinh thần học tập, trưởng thành qua thực tiễn đấu tranh bất khuất, đóng góp xứng đáng cho sự nghiệp giải phóng dân tộc. Nhà tù Chợ Chu được Bộ Văn hóa Thông tin xếp hạng Di tích lịch sử văn hoá cấp Quốc gia ngày 25/2/1998. Nguồn: Trang Thông Tin Điện Tử Huyện Định Hóa Tỉnh Thái Nguyên

Thái Nguyên

5039 lượt xem

Xếp hạng : Di tích cấp quốc gia

Mở

Di tích lịch sử Căng Bá Vân

Di tích lịch sử Căng Bá Vân

Căng Bá Vân nằm trên địa phận xã Bình Sơn, thành phố Sông Công, tỉnh Thái Nguyên – một vùng quê giàu truyền thống cách mạng. Trước năm 1941, Căng Bá Vân là một phần của nhà tù tỉnh Thái Nguyên, được người Pháp xây trên một khu đất hẻo lánh thuộc làng Bá Vân, giao thông khó khăn, dân cư thưa thớt, ngăn cách với bên ngoài bởi dòng sông Công. Nhà tù này được đề xuất xây dựng từ năm 1902, nhưng vì nhiều lý do mãi đến năm 1913 mới được bắt đầu khởi công. Ban đầu, nhà tù tỉnh Thái Nguyên có quy mô nhỏ, các nhà giam làm bằng tre, gỗ, lợp lá đơn sơ để giam thường phạm. Nhận thấy nhà tù này nằm trong chốn “rừng thiêng, nước độc”, nhốt tù ở đây là an toàn nhất, chính quyền Pháp đã cho cải tạo và mở rộng nhà tù, xây kiên cố hơn để có thể tiếp quản nhiều tù nhân hơn. Xung quanh nhà tù có tường rào chắc chắn, bốn góc có bốn vọng gác canh giữ, liền nhà giam là nhà của cai ngục và lính, có một vọng gác riêng cho cai ngục. Ngày 29 tháng 9 năm 1936, Tổng thống Pháp đã ra Sắc lệnh ân xá toàn phần cho các tù nhân trên toàn cõi Đông Dương. Rất nhiều tù chính trị – là những chiến sĩ cộng sản yêu nước sau khi được tha bổng đã trở lại hoạt động, móc nối với lãnh đạo phong trào yêu nước từ Bắc tới Nam để đấu tranh đòi tự do, dân chủ, cơm áo và hòa bình. Trước sự bùng nổ của những cuộc bãi công, biểu tình, bãi chợ, bãi khóa, các cuộc đấu tranh đòi khất thuế, chống nạn cường hào áp bức,… diễn ra từ thành thị đến nông thôn, ngày 21 tháng 1 năm 1940, Chính phủ Pháp đã ra Sắc lệnh quản thúc hay trục xuất khỏi nơi cư trú hoặc giam giữ trong các trại tập trung những “phần tử nguy hiểm” cho việc phòng vệ quốc gia và cho an ninh chung, thực chất là để quản thúc các cựu tù chính trị đã được tha bổng trong thời kỳ trước. Thi hành Sắc lệnh này, Chính quyền thuộc địa ở Việt Nam đã cho lập các trại “lao động đặc biệt” (camp spécial des travailleurs) để giam giữ tù chính trị đã được tha bổng những năm trước, trong đó có căng Bá Vân được thành lập theo Nghị định của Thống sứ Bắc Kỳ ngày 28 tháng 10 năm 1941. Căng Bá Vân được duy trì đến tháng 10 năm 1944 và trong khoảng thời gian từ năm 1941 đến 1944 đã có khoảng 200 tù nhân được đưa về đây giam giữ. Sau khi Căng Bá Vân bị xóa bỏ, thực dân Pháp đã đưa các tù chính trị về giam tại căng Nghĩa Lộ, tỉnh Yên Bái được thành lập năm 1944. Tháng 12 năm 1994, Bộ Văn hóa - Thông tin đã ra Quyết định công nhận di tích lịch sử Căng Bá Vân là di tích cấp quốc gia. Những dấu tích của Căng Bá Vân đến nay đã không còn nữa, bởi xưa trại giam chỉ là những dãy nhà làm từ tre nứa, hàng rào cao 5 mét được dựng nên từ những thanh tre được vót nhọn. Nơi đây đã trở thành trung tâm nghiên cứu và phát triển chăn nuôi miền núi, với những trang trại ngựa lớn nhất tại Việt Nam hiện nay. Những chú ngựa mạnh khỏe, lông mượt sẵn sàng tung vó chạy nước đại sẽ tạo nhiều thích thú cho người tham quan đặc biệt là các em bé. Cảm giác như khách tham quan đang ở thảo nguyên Mông Cổ xa xôi chứ không phải ở Thái Nguyên. Nguồn: Báo Thái Nguyên điện tử

Thái Nguyên

4381 lượt xem

Xếp hạng : Di tích cấp quốc gia

Mở

Địa điểm thành lập Đội Thanh niên xung phong

Địa điểm thành lập Đội Thanh niên xung phong

Di tích lịch sử Địa điểm thành lập Đội Thanh niên xung phong công tác Trung ương (15/7/1950) nằm tại đồi Gò Thờ, xã Yên Lãng, huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên. Sự kiện thành lập của Đội Thanh niên xung phong công tác Trung ương là mốc son đánh dấu sự trưởng thành của lực lượng Thanh niên xung phong Việt Nam trong cuộc kháng chiến trường kỳ chống giặc ngoại xâm của dân tộc, đã ghi dấu những hoạt động và sự cống hiến của nhiều thế hệ cán bộ, thanh niên trong thời kỳ kháng chiến chống Thực dân Pháp. Hiện tại, địa điểm là nơi diễn ra các hình thức sinh hoạt văn hóa tinh thần của cán bộ, nhân dân huyện Đại Từ và của các cán bộ, thanh niên Việt Nam. Khu di tích hiện đã được Trung ương Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh đầu tư xây dựng năm 2002 nhân kỷ niệm 52 năm Ngày truyền thống Thanh niên xung phong. Khu di tích có 5 hạng mục công trình, tượng đài, nhà lưu niệm, bia ghi dấu sự kiện, gồm: - Khu tượng đài Thanh niên xung phong: nằm ở vị trí trung tâm, cao nhất của Khu di tích. Cụm tượng là hình tượng hai Thanh niên xung phong trong tư thế sát cánh của người chiến thắng, biểu tượng ý chí bất khuất anh hùng trên bệ đá nguyên khối. Tượng cao khoảng gần 5m, bệ đá cao 2,5m, rộng khoảng gần 2m. - Khu vực hệ thống tượng: Gồm 8 pho tượng làm bằng đá nguyên khối tạc các anh hùng đại diện cho Thanh niên Việt Nam: Lý Tự Trọng (1931), Kim Đồng (1943), Trần Văn Ơn (1950), Võ Thị Sáu (1952),Nguyễn Văn Trỗi (1964), Nguyễn Viết Xuân (1964), Đoàn Thị Liên (1966), Kpă Klong (1975). - Khu Nhà truyền thống: Nhà truyền thống có tổng diện tích 516 m², khu chính giữa lòng nhà có dựng tấm bia cao 1,5m, rộng 0,8m trán bia tạc hình bán cung, mặt trước ốp đá granit màu đỏ khắc hàng chữ nhũ vàng: “Thanh niên ta đã lập nhiều thành tích tốt xứng đáng là Thanh niên Anh hùng của một dân tộc Anh hùng”. - Cổng chính di tích và hệ thống tường rào: Gồm cổng chính và tuyến tường rào thoáng phía trước di tích. Tại cổng chính có biển tên di tích làm bằng đá nguyên khối chất liệu đá granit. Địa điểm di tích có giá trị lịch sử, là nơi khởi nguồn đầu tiên về nơi ra đời của lực lượng thanh niên xung phong Việt Nam tại tỉnh Thái Nguyên kết nối với các địa danh lịch sử khác liên quan đến TNXP ở vùng Việt Bắc và cả nước. Với giá trị tiêu biểu trên, Địa điểm thành lập Đội Thanh niên xung phong công tác Trung ương (15/7/1950), tỉnh Thái Nguyên được Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch xếp hạng Di tích lịch sử quốc gia ngày 24/02/2023. Nguồn: Cục Di sản văn hóa

Thái Nguyên

4047 lượt xem

Xếp hạng : Di tích cấp quốc gia

Mở

Đền Phja Khao

Đền Phja Khao

Công trình đền Phja Khao được bà con địa phương góp sức xây dựng trên đỉnh núi Phja Khao, xã Bản Thi, huyện Chợ Đồn từ năm 1933. Đây là nơi sinh hoạt văn hóa tâm linh quen thuộc, gắn bó lâu đời với đời sống của người dân địa phương. Đền Phja Khao thờ Đức Thánh Trần, người đã có công đánh đuổi giặc Nguyên Mông thế kỷ thứ XIII để giữ vững bờ cõi cho quốc thái, dân an. Phối thờ những công nhân mỏ quặng, đã bị thực dân Pháp giết hại. Năm 2017, đền được công nhận là di tích lịch sử - văn hóa cấp tỉnh. Đỉnh Phja Khao có rất nhiều mỏ chì kẽm là chứng tích lịch sử ghi lại sự bóc lột của thực dân Pháp đối với công nhân mỏ Bản Thi, từ năm 1909 – 1941. Tại đây hơn trăm năm trước, khi Công ty Khai thác và luyện kim Đông Dương đã bỏ nhiều vốn đầu tư vào mỏ, nhất là xây dựng công trình cáp treo dài hơn 3km và đường sắt vận chuyển quặng. Được biết, hồi toàn thịnh, khu mỏ có tới 5.000 công nhân, 80 thư ký, đến năm 1942 chỉ còn 500 thợ và 5 người Âu quản lý. Trong vòng 27 năm (1914 - 1941), Pháp đã mang về nước trên 350.000 tấn quặng kẽm. Phja Khao là nơi mang lại lợi nhuận cho thực dân, đồng thời cũng là nơi tập trung nhiều thành phần phức tạp, hay xảy ra cướp bóc, chém giết. Trên đỉnh Phja Khao, Cách điểm di tích chừng 15m là một vực sâu mà theo như người dân bản địa, từ trên miệng vực không thể nhìn được tới đáy bởi quanh năm mù sương. đó là nơi mà thực dân Pháp ném những cu li (phu mỏ) ốm yếu hoặc người dám phản kháng từ trên núi xuống. Tại đây có những khu nghỉ dưỡng của thực dân Pháp, nơi nhân viên quản lý mỏ dưỡng nhàn. Khu nghỉ dưỡng được xây dựng cách đây cả 100 năm giờ chỉ còn là phế tích, cây đã mọc kín vách tường tạo nét cổ kính, rêu phong. Hoà bình lặp lại nơi đây không còn những khu mỏ, những khu nhà nghỉ dưỡng của thực dân Pháp. Đỉnh Phja Khao lại trở về vẻ bình yên, tĩnh lặng vốn có của núi rừng. nơi đây trở thành khu bảo tồn sinh quyển. Khu bảo tồn loài và sinh cảnh ở đây rất đa dạng về động thực vật. Có cả voọc, vạc hoa, những loài có tên trong Sách đỏ đặc biệt cần được bảo vệ trước nguy cơ tuyệt chủng. Nguồn: Cổng thông tin điện tử tỉnh Bắc Kạn

Thái Nguyên

7585 lượt xem

Xếp hạng : Di tích cấp tỉnh

Mở

Đền Lục Giáp

Đền Lục Giáp

Đền Lục Giáp còn được gọi là Miếu Vật, nằm bên bờ tả ngạn Sông Công, thuộc xã Đắc Sơn, Thị xã Phổ Yên, cách huyện lỵ Phổ Yên 4 km về phía tây và cách trung tâm thành phố Thái Nguyên khoảng 35 km về phía nam. Hằng năm, đền mở hội chính vào ngày 15 tháng 3 (âm lịch) để tưởng niệm các danh nhân Dương Tự Minh, Lưu Nhân Chú, Đỗ Cận. Thời xa xưa đền chỉ là một ngôi miếu nhỏ thờ thần linh của dân làng vùng Sơn Cốt. Đến thế kỷ XII (thời nhà Lý) để tưởng nhớ và ghi nhận công lao của vị anh hùng dân tộc Dương Tự Minh nhân dân ở đây đã lập đền thờ ông. Sang thế kỷ XV (thời Lê) Đỗ Cận người làng Thống Thượng xã Minh Đức ngày nay đỗ tiến sỹ và được bổ làm quan bố chánh phủ Thanh Hoa (Thanh Hóa ngày nay). Ông cho thợ giỏi dùng gỗ tốt để đục đẽo, trạm khắc thành khung nhà hoàn chỉnh tại Thanh Hóa rồi mang về dựng ở đây thay thế cho ngôi đền nhỏ cũ. Từ đấy, nhân dân trong 6 giáp vùng làng Sơn Cốt thờ cúng và đền Lục Giáp mang tên từ đó. Đền Lục Giáp còn có tên Miếu Vật gắn liền một sự kiện lịch sử là vào thế kỷ XV (thời nhà Lê), một tướng của Lê Lợi là Lưu Nhân Chú đến vùng này tuyển mộ nghĩa quân. Trong thời gian tuyển mộ nghĩa binh ở đây, ông đã tổ chức thi đấu vật (Hội vật) tại bãi đền Lục Giáp. Sau này, khi chiến thắng quân Minh đã có lần Lưu Nhân Chú trở lại thăm và ghi lưu niệm tại đền. Nhưng rất tiếc là do thời gian và chiến tranh, hiện nay chưa tìm được dấu tích gì về Lưu Nhân Chú, chỉ còn tên Miếu Vật là gắn liền với tên tuổi và sự kiện của ông ở vùng này vẫn lưu truyền đến ngày nay. Khu vực chính của đền Lục Giáp rộng 1.360 m2 gồm nhà tiền tế và hậu cung liền nhau, trước đền có sân rộng, giữa sân có bệ để cắm hương hoa, ngôi đền được che phủ bởi tán lá cây đa cổ thụ gốc lớn 6 đến 7 người ôm không xuể. Đền Lục Giáp là công trình kiến trúc cổ thời Lê. Các cột đều làm bằng gỗ lim qua nhiểu thế kỷ vẫn giữ được màu đen bóng. Tất cả các đấu trụ, câu đầu, ván lát phía trước hậu cung đều chạm khắc nổi tinh tế, công phu với các hình Long, Ly, Quy, Phượng. Đặc biệt hai cánh cửa chính vào hậu cung được chạm nổi lưỡng Long chầu nguyệt của thời Lê rất đẹp, đạt trình độ mỹ thuật truyền thống tinh xảo. Các đồ thờ ở đây như: bệ, điện, tượng, đồ tế lễ... đều được sơn son thiếp vàng, uy nghi trang trọng. Đến nay đền vẫn còn giữ được một số hiện vật quý của thời nhà Nguyễn như: quả chuông, hai án hưong bằng đồng, một số bát to cổ thờ bằng sứ, số hiện vật tại đền còn lại đến nay rất ít ỏi nhưng có giá trị về nghệ thuật và lịch sử. Với những giá trị đó, đền Lục Giáp đã được xếp hạng di tích lịch sử - nghệ thuật cấp quốc gia ngày 21/6/1993. Lễ hội Đền Lục Giáp được tổ chức cính vào ngày 15/3 âm lịch hằng năm, gồm phần lễ và phần hội được nhân dân địa phương tổ chức trọng thể. Đã từ nhiều năm nay, lễ hội Đền Lục Giáp là điểm đến văn hóa thu hút đông đảo nhân dân trong vùng và du khách thập phương tham dự. Phần lễ có các hoạt động đặc trưng về tín ngưỡng tâm linh như: tế thần, hầu đồng, dâng hương, rước cỗ... Phần hội tái hiện các trò chơi dân gian như: vật cổ truyền, hát ví giao duyên, kéo co, chọi gà... Nguồn: Trung Tâm Văn Hóa Và Truyền Thông Thành Phố Thái Nguyên

Thái Nguyên

4629 lượt xem

Xếp hạng : Di tích cấp quốc gia

Mở

Hang Sa Khao

Hang Sa Khao

Hang Sa Khao là địa điểm khảo cổ nổi tiếng nằm trong dãy núi đá vôi phía Tây Bắc thuộc thông Nà Kháo, xã Phú Thượng, huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên. Hang Sa Khao dài ước chừng khoảng 30km, xuyên qua 5-6 quả núi, nằm cách trung tâm thị trấn Đình Cả, huyện Võ Nhai khoảng 2km. Bước vào hang Sa Khao, du khách sẽ choáng ngợp bởi vẻ đẹp của những khối thạch nhũ muôn hình vạn trạng, với những dấu tích được khắc tạc bởi dòng chảy thời gian. Vòm hang cao và rộng, phía dưới là dòng suối trong vắt luồn lách đổ nước róc rách, tạo lên một bức tranh thủy mặc với hàng nghìn sợi tơ đá bám vào thành hang rủ xuống phía dưới, vân đá uốn lượn do sự bào mòn của nước xếp chồng lên nhau từ trần hang xuống. Trần hang cao khoảng 20m, phía dưới là nền cát rộng mênh mông. Điều đặc biệt là ở đây có những loại nấm dạng hình cây và nấm cọ mọc khắp lối đi cùng nhiều loài động vật lạ. Trong suốt chiều dài lịch sử, trải qua hai cuộc chiến khốc liệt là kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ, Hang Sa Khao là nơi đã diễn ra những cuộc họp quan trọng của các đồng chí cán bộ hoạt động cách mạng. Các đồng chí Võ Nguyên Giáp, Trần Đăng Ninh, Hoàng Văn Thụ, Hoàng Quốc Việt, Lê Dục Tôn, Chu Quốc Hưng…đã từng trú ẩn và làm việc tại nơi này. Hang Sa Khao còn là nơi sơ tán an toàn cho cán bộ và nhân dân Huyện Võ Nhai. Từ năm 1965 đến năm 1972 nhiều thế hệ học sinh cấp I xã Phú Thượng đã được học tập tại hang Sa Khao. Các cơ quan của Huyện Võ Nhai đã sơ tán về đây dựng lán bên cửa hang để làm việc. Không những thế, trong Hang Sa Khao còn có hội trường để hội họp, có sân khấu để biểu diễn văn nghệ. Trong những năm kháng chiến chống Mỹ khốc liệt nhất, tại nơi này nhân dân Huyện Võ Nhai còn được thưởng thức những ca khúc cách mạng nổi tiếng với tinh thần“ Tiếng hát át tiếng bom” của ca sĩ Thu Hiền, Quốc Hương,... Với vẻ đẹp hùng vĩ và núi non nên thơ, gắn liền với những sự kiện lịch sử về đấu tranh cách mạng của các đồng chí hoạt động cách mạng, cũng như của nhân dân huyện Võ Nhai qua hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ, năm 2010, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đã xếp hạng hang Sa Khao là di tích tích lịch sử cấp quốc gia, là điểm khám phá không thể thiếu trong tuyến du lịch sinh thái, khám phá hang động và cũng là hành trình về nguồn, nơi giáo dục truyền thống cách mạng của tỉnh Thái Nguyên. Nguồn: Du Lịch Thái Nguyên

Thái Nguyên

4286 lượt xem

Xếp hạng : Di tích cấp quốc gia

Mở

Đền Thắm

Đền Thắm

Đền Thắm thuộc huyện Chợ Mới, tỉnh Bắc Kạn với nhiều huyền sử, huyền tích đã đi vào tâm thức các cư dân vùng núi nơi đây. Đền nằm ngay cạnh con đường rải nhựa cấp phối dẫn đến xã Quảng Chu, cách quốc lộ 3 chưa đầy 4km cách thành phố Bắc Kạn 45km về phía Nam. Đền thờ vị nữ tướng có tên là Thắm - người có công lớn trong công cuộc chống giặc Cờ Đen vào nửa cuối thế kỷ XIX. Trước đây đền là nơi thờ Sơn thần, Thuỷ thần để cầu cho thuyền bè được qua lại bình yên. Cho đến cuối thế kỷ XIX đền được tu bổ để thờ phụng vị nữ tướng có công lớn đánh giặc Cờ Đen là cô Thắm. Chuyện kể rằng, có hai cha con ông lão đánh cá mưu sinh bên khúc sông Tràng Cổ. Một năm thiên tai, lụt lội, con nước hung dữ đã cuốn trôi thuyền, lưới của ông lão nghèo khổ. Sau khi nước rút, ông lão mang chài ra sông. Đến khi chiều xuống ông mới cất được một mẻ nặng trịch nhưng buồn thay chỉ là một tảng đá. Những lần tiếp theo, vẫn chỉ có tảng đá đó vào lưới. Ông bỏ sang khúc sông khác, vẫn cất lên tảng đá kỳ lạ kia. Ông toan vứt bỏ thì có tiếng vọng từ trong lòng đá: “Ông lão, hãy mang tôi về”. Thấy lạ, ông mang theo tảng đá biết nói về nhà. Đến nơi, mệt bã người ông quăng tảng đá xuống đất, nó va phải một tảng đá khác, vỡ ra. Kỳ lạ thay, rực một màu vàng trong bụng đá. Đó là những thỏi vàng, nghĩ rằng Giàng (Trời) cho làng để bù đắp tai ương lụt lội, ông đem vàng chia cho khắp người dân quanh vùng. Có vàng nhưng hai cha con ông lão vẫn làm lụng kiếm sống bên khúc sông Tràng Cổ. Biết ơn, người dân nơi đây đã lập đền thờ hai hòn đá Sơn thần, Thủy thần để thuyền bè qua lại bình an. Cô Thắm con ông lão đánh cá nết na hiền thục lại xinh đẹp có tiếng, trai khắp mường trên, mường dưới đều mơ ước được kết tóc xe duyên cùng nàng. Đương tuổi xuân thì, nàng bị tay Chúa mường dùng quyền lực bắt về làm vợ. Nàng sống trong cảnh vàng son mà tủi nhục trăm bề, nhất là khi lũ giặc Cờ Đen kéo sang nhũng nhiễu, tên Chúa mường chẳng những không chống giặc mà còn làm tay sai cho chúng. Nàng đã tìm mọi cách thoát ra khỏi nhà tên Chúa mường, tập hợp dân nghèo vùng lên đánh giặc. Tên Chúa mường uất hận và muốn lập công đã dẫn giặc đến đánh. Vị nữ tướng cầm quân kiên cường đánh trả. Tại khúc sông Tràng Cổ đã diễn ra một trận kịch chiến, máu chảy thành sông mà quân sĩ Cô Thắm vẫn không hề nao núng. Chẳng may, nữ tướng trúng phải tên độc mà mất, quân sĩ tức giận quyết chiến để rửa thù. Giặc khiếp sợ tháo chạy tán loạn, tên Chúa mường bị bắt sống và bị xử tử để tế vị chủ tướng. Để tưởng nhớ vị nữ tướng can trường, người dân đã lập đền thờ cô Thắm. Quần thể đền Thắm gồm đền chính, miếu cô Thắm và miếu Sơn thần. Đền chính được chia làm ba gian, thờ: Ngũ vị tôn ông, Bách Linh, Đức thánh Trần Hưng Đạo, mẫu Thượng Thiên, Phật Quan âm. Miếu thờ cô Thắm nằm kề ngay bên đền chính, về phía trái có kiến trúc bê tông cuốn vòm, trên bệ thờ là tượng cô Thắm mặc áo xanh, dưới bệ có đôi chim phượng tạc bằng đá. Hàng năm, du khách thập phương về đền Thắm lễ bái, cầu nguyện rất đông, nhất là dịp giêng hai. Sau nhiều năm tôn dựng và tu sửa, năm 2012 ngôi đền được xếp hạng cấp tỉnh là di tích lịch sử - văn hóa, nơi sinh hoạt văn hóa tín ngưỡng của nhân dân. Nguồn: Cục du lịch quốc gia Việt Nam

Thái Nguyên

8086 lượt xem

Xếp hạng : Di tích cấp tỉnh

Mở

Di tích lịch sử Khuổi Linh, đồi Khau Mạ

Di tích lịch sử Khuổi Linh, đồi Khau Mạ

Di tích lịch sử Khuổi Linh (thuộc xã Nghĩa Tá, huyện Chợ Đồn) là nơi ở và làm việc của đồng chí Trường Chinh, nguyên Tổng bí thư Ban chấp hành Trung ương Đảng và văn phòng Trung ương từ tháng 8 đến tháng 12 năm 1950. Nơi ở của đồng chí Trường Chinh nằm trên sườn đồi, chỗ làm việc nằm trên đỉnh một mỏm đồi kê sát nơi ở thuộc chân núi Khau Bon. Khu vực văn phòng Trung ương Đảng nằm trên một quả đồi gần nơi ở của đồng chí Trường Chinh. Khu di tích Khuổi Linh ở vào vị trí rất hiểm trở nhưng giao thông lại rất thuận lợi cho việc liên lạc đi các hướng. Ngày 18/3/1996, Khuổi Linh được Bộ Văn hóa - Thông tin xếp hạng là di tích lịch sử văn hóa cấp quốc gia. Năm 2000, xã Nghĩa Tá được Đảng và Nhà nước phong tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân. Di tích lịch sử Đồi Khau Mạ thuộc bản Vèn, xã Lương Bằng (Chợ Đồn) là nơi đồng chí Phạm Văn Đồng - nguyên Thủ tướng Chính phủ cùng cơ quan Văn Phòng Chính phủ ở và làm việc từ đầu năm 1950 đến mùa hè năm1951. Tại nơi này, đồng chí Phạm Văn Đồng đã cùng với Trung ương Đảng, Bộ Tổng tư lệnh Quân đội Nhân Dân Việt Nam dưới sự chỉ đạo của Chủ Tịch Hồ Chí Minh tổ chức họp bàn mở chiến dịch biên giới năm 1950, mở ra thời kì mới cho cách mạng Việt Nam. Có thể nói, trong thời kì ở chiến khu Việt Bắc, đặc biệt là thời kì sống và làm việc ở Khau Mạ - Bản Vèn (Lương Bằng), Thủ tướng Phạm Văn Đồng đã có nhiều hoạt động tích cực cùng với Trung ương Đảng và Bác Hồ lãnh đạo nhân dân đẩy mạnh cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp đến thắng lợi hoàn toàn. Năm 1996, nhân dân xã Lương Bằng đã vinh dự đón nhận Bằng di tích lịch sử do Bộ Văn hóa - Thông tin xếp hạng là di tích lịch sử cấp quốc gia. Nguồn: Cổng Thông Tin Điện Tử Tỉnh Bắc Kạn

Thái Nguyên

7592 lượt xem

Xếp hạng : Di tích cấp quốc gia

Mở

Chùa Thạch Long

Chùa Thạch Long

Chùa Thạch Long (Rồng đá) thuộc xã Cao Kỳ, huyện Chợ Mới, tỉnh Bắc Kạn. Nơi đây được mệnh danh là “chùa thiêng trong hang đá”. Ngôi chùa chứa trong mình nhiều sự tích, huyền sử đẹp. Chùa Thạch Long thu hút hàng ngàn khách thập phương tới dự hội và dâng hương cầu phúc, cầu tài mỗi dịp xuân về. Nhiều người nói rằng, đi khắp Bắc chí Nam chưa thấy chùa nào nằm trong hang núi đá rộng, sạch mà thoáng như chùa Thạch Long. Tăng ni Phật tử tới dự hội có thể vào hang lễ Phật tới hàng ngàn người. Chuyện kể rằng, ngày xưa, người dân xã Vi Hương - Bạch Thông xuôi dòng sông Cầu rước tượng Phật Thích Ca về thờ ở làng mình là Hoa Sơn, trên đỉnh dãy núi Phja Bjoóc. Tượng Phật bằng vàng rất nặng nên khi ngược lên Vi Hương phải kéo bằng mảng. Đến vằng Bó Mi thuộc xã Cao Kỳ ngày nay, mảng cứ xoay tròn không sao đi được. Trời đã tối, đêm ấy, người đi rước tượng phải căng lều ngủ tại vằng Bó Mi để hôm sau tính tiếp. Sáng hôm sau tỉnh dậy, họ hốt hoảng không thấy Đức Phật đâu. Người đi rước tượng đành thắp một bó nhang to và khấn: “Nếu ngài muốn ở đây thì con đành thuận theo ý ngài, nhưng ngài hãy cho con biết nơi ngài đang thượng tọa để con cháu đời sau thờ phụng hương khói”. Dứt lời, bó nhang cuộn khói bay sang bên kia bờ sông, luồn mãi vào trong núi. Người rước tượng cứ đi theo khói nhang ấy và phát hiện ra một hang động tuyệt đẹp, rộng thênh thang. Đức Phật Thích Ca đã ngự tọa ở chốn cao nhất. Biết hang đá thiêng, từ đó dân làng lập chùa ngay tại hang đá này. Chùa có tên Thạch Long (con rồng đá) là vì hang động nằm trong núi đá, cổng hang có hình miệng con rồng đang há. Chùa có hai phần chính. Phần thứ nhất là chùa Thiên. Chùa này nằm ở trên cao, có một bậc đá xếp từ chân núi dẫn thẳng lên tới cửa động. Gian cao nhất thờ Đức Phật Thích Ca. Ở gian trung, trên bệ cao nhất có ảnh thờ Bác Hồ. Phần thứ hai của chùa là chùa Âm, đường đến chùa Âm phải đi vòng quanh sườn núi. Cửa vào chùa Âm hẹp hơn chùa Thiên một chút. Lòng hang cũng không rộng bằng chùa Thiên. Ước chừng cao khoảng 6m, rộng 6m và có ngách ăn sâu vào bên trong. Cả chùa Thiên và chùa Âm đều có nhiều tượng thiên tạo hình các Chư Phật. Trong lòng chùa Thiên, vách đá tự chia thành từng múi như những chiếc lọng cao và sang trọng che cho các vị Chư Phật ngồi dưới. Không chỉ chứa trong mình nhiều huyền tích, chùa Thạch Long còn là một di tích lịch sử, là niềm tự hào của bà con xã Cao Kỳ trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp. Trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, Bác Hồ đã 3 lần đến đây. Trong chiến dịch Điện Biên Phủ năm 1954, chùa trở thành trạm vận chuyển vũ khí và là kho vũ khí bí mật của quân đội ta. Hoà bình lập lại, chùa lại được bà con thờ tự như xưa. Hội chùa Thạch Long được tổ chức vào mùng 7 tháng Giêng hằng năm, thu hút rất nhiều du khách thập phương, họ đến để dâng hương cầu may mắn, hạnh phúc cho gia đình và người thân. Chùa Thạch Long không những là thắng cảnh đẹp của Bắc Kạn, mà còn là một di tích lịch sử. Di tích này đã và đang nhận được rất nhiều sự quan tâm, bảo vệ, tôn tạo để trở thành điểm du lịch văn hoá hấp dẫn của tỉnh Bắc Kạn. Nguồn: Cổng Thông Tin Điện Tử Tỉnh Bắc Kạn

Thái Nguyên

8644 lượt xem

Xếp hạng : Di tích cấp tỉnh

Mở