Di tích lịch sử
Việt NamĐình Mỹ Lộc
Đình Mỹ Lộc thuộc địa bàn thôn Ngoài – Xã Mỹ Hà - Huyện Lạng Giang - Tỉnh Bắc Giang. Được xây dựng vào đầu thế kỷ thứ XIX. Đình toạ trên một khu đất đẹp, rộng, thoáng nằm kề bên làng Mỹ Lộc cạnh dòng sông Thương hiền hoà, thơ mộng. Đình gồm 5 gian, 2 trái, quay hướng Đông Nam. Đình có quy mô lớn, bề thế, có kiến trúc cổ mang đậm phong cách kiến trúc cổ Việt Nam. Đình Mỹ Lộc thờ hai đức Thành Hoàng là Cao Sơn và Quý Minh. Đây là hai vị tướng có công lao rất lớn với dân, với nước thời vua Hùng. Sử cũ ghi: Dưới thời vua Hùng Duệ vương, Cao Sơn và Quý Minh là hai vị tướng tài được phong là tả, hữu tướng quân đã phò tá nhà vua, giúp vua dẹp tan giặc Thục. Khi giặc Thục đã bình xong, hai ông xin nhà vua được trở về nơi đóng quân lập đồn luỹ khi trước (Tức địa bàn Làng Mỹ Lộc ngày nay). Từ khi hai ông đóng quân ở đây, dân thôn được yên nghiệp làm ăn, ngày càng hưng thịnh, nhân dân trên mảnh đất này xin: Trước làm nơi đồn trú, sau xin cho lập đền thờ để tưởng nhớ công lao của hai ông. Khi hai ông mất, nhà vua đã ra lệnh cho nhân dân trong thôn lập đền thờ cúng và tổ chức tế lễ đồng thời sắc phong cho hai ông. Phong cho đức Cao Sơn là: Thông Minh đại vương, tặng phong tế thế hộ quốc an dân phù vận dương vũ dực thánh bao cảnh hiển hựu, tôn thần nguyên tặng hiệu linh đôn tĩnh hùng lược trác vĩ dực báo trung hưng thượng đẳng thần . Phong cho Quý Minh là: Hiển ứng đại vương, tặng phong phụ kí uy dũng hộ quốc an dân, phủ kiến chiêu cảm trật ưu, tôn thần tặng thánh lãng cao diệu địch cát, cát tĩnh dực bảo trung hưng thượng đẳng thần. Chuẩn cho dân trong vùng kinh Bắc phụng thờ các ngài mãi mãi về sau. Từ đó về sau, nhân dân trong làng thờ phụng hai ông với một lòng thành kính sâu sắc và lòng biết ơn vô hạn. Cho đến ngày nay, con cháu đời sau của làng Mỹ Lộc vẫn luôn luôn khắc cốt, ghi tâm công ơn của hai đức Thành Hoàng. Hàng năm cứ mỗi độ tết đến xuân về, người dân trong làng lại nô nức chuẩn bị tổ chức lễ hội đình làng Mỹ Lộc. Lễ hội được tổ chức vào ngày 14 và 15 tháng giêng âm lịch với nhiều nghi lễ tôn nghiêm thể hiện sự thành kính, biết ơn đối với hai đức Thành Hoàng. Theo quan niệm dân gian thì lễ hội chính là dịp để người dân trong làng báo cáo lại kết quả lao động của năm cũ, cảm tạ công ơn, sự che chở của hai vị Thành Hoàng làng trong năm qua và cầu mong một năm mới bình an, may mắn cho cả gia đình. Với ý nghĩa như vậy, lễ hội đình làng Mỹ Lộc không chỉ thu hút sự quan tâm của các thành viên trong làng mà còn cả du khách thập phương. Ngoài những giá trị mang ý nghĩa lịch sử, nhân văn sâu sắc nói trên, đình Mỹ Lộc còn được biết đến như một công trình kiến trúc cổ đầy tính nghệ thuật. Trong đình, từ mái đình đến cột đình đều có những hoạ tiết được trạm trổ, điêu khắc rất tinh xảo. Theo nghiên cứu đây là những họa tiết điêu khắc có từ thời nhà Lê. Trải qua biết bao thăng trầm, biến cố lịch sử, đình Mỹ Lộc đã có những thay đổi do sự tàn phá của chiến tranh nhưng sau đó đã được nhân dân trong làng và du khách thập phương công đức, trùng tu, tôn tạo, đến nay đình Mỹ Lộc vẫn giữ được dáng vẻ ban đầu, giữ được sự cổ kính tôn nghiêm và những giá trị nghệ thuật kiến trúc lâu đời. Trong đình hiện nay còn lưu giữ rất nhiều di vật, vật cổ và đặc biệt còn giữ được 15 đạo sắc phong từ thời nhà Lê và thời nhà Nguyễn cho đức thánh Cao Sơn, Quý Minh. Đình làng Mỹ Lộc được xem là bảo tàng lịch sử, văn hoá địa phương. Năm 1995, đình Mỹ Lộc đã được Bộ Văn Hoá thông tin công nhận là di tích lịch sử cấp quốc gia. NGUỒN Khám phá di sản thiên nhiên & văn hoá Việt Nam
Bắc Ninh
3284 lượt xem
Xếp hạng : Di tích cấp quốc gia
Đền Thờ Đặng Thế Công
Năm 1527, Mạc Đăng Dung cướp ngôi nhà Lê, cuộc nội chiến giữa các thế lực vua Lê - Chúa Trịnh với nhà Mạc kéo dài khiến đời sống nhân dân khổ cực. Khi quân sĩ, tượng binh nhà Lê truy kích nhà Mạc qua địa bàn Kép- Cần Trạm gặp núi non hiểm trở khó bề tiến quân, nhiều lần bị Nhà Mạc phản công lại làm cho quân tướng Nhà Lê hao mòn đáng kể. Lúc khó khăn suy yếu Nhà Lê ra sắc dụ tuyển mộ dân binh “phù Lê diệt Mạc”, nhờ am hiểu địa hình lại sẵn lòng dũng cảm, mưu trí hai Anh em Đặng Thế Công, Đặng Thế Lộc hưởng ứng ra đầu quân và lập nhiều công lớn giúp Nhà Lê đánh bại Nhà Mạc. Năm Bính Ngọ 1566 triều đình khao binh, thưởng tướng, đãi ngộ người có công, do công lao to lớn phù Lê diệt Mạc, vua Lê đã phong chức cho 2 ông Đặng Thế Công- sắc phong: “Dương vũ uy dũng công thần, Thái bảo trà quận Công, mang quốc tính là Trịnh Văn An”; Đặng Thế Lộc- Sắc phong “Dương vũ uy dũng công thần tả đô đốc, thị phủ sự nhai quận công, mang quốc tính là Trịnh Văn Lộc”. Đặc biệt, Đặng Thế Lộc không những lập công lớn đánh đuổi nhà Mạc mà còn biết chiêu tập yên dân, đã đem lại niềm vinh hạnh cho dòng họ, nhờ đó mà con cháu sau này nêu gương và đều được trọng dụng trong các triều vua Lê. Triều Đình Cũng phong cho cha đẻ của 2 ông là Cụ Đặng Chân Tính- sắc phong “ Tham đốc thần vũ, tứ vệ quân vụ sự, Đẳng trung hầu”, cụ Đặng Chân Tính mất ngày 14 tháng Giêng năm năm 1547, mộ cụ thiên táng tại rừng Nỉ (thuộc tổ dân phố Tân ngày nay). Ghi nhớ công lao của 2 ông Đặng Thế Công và Đặng Thế Lộc, nhân dân địa phương đã xây dựng ngôi đền thờ tưởng niệm các ông trên quê hương mình. Ngôi đền được xây dựng từ thế kỷ XVI gồm 7 gian lợp ngói, hai bên tả hữu có nhị ban, có tiền sảnh, hậu sảnh, nhà kho để quân lương, xưởng rèn vũ khí. Những năm 80 của thế kỷ XIX, giặc Cờ Đen tràn sang đốt phá làng mạc và tàn phá ngôi đền; Năm 1931 nhân dân địa phương phục dựng lại ngôi đền trên khu đất đã an táng cụ tổ Đặng Chân Tính ở đồi rừng Nỉ. Đền thờ hiện nay có bình đồ kiến trúc kiểu chữ nhất gồm 5 gian xây bít đốc, lợp ngói, Gian giữa đặt trang nghiêm hương án và hai bài vị đá khắc chữ Hán chìm, trên hương án đặt tượng thờ cụ Đặng Chân Tính và hai con trai là Đặng Thế Công và Đặng Thế Lộc. Đền thờ Đặng Thế Công lưu giữ nhiều di sản có giá trị lịch sử như sắc phong niên hiệu Long Đức 2 (1630), Chính Hòa thứ 4 (1683), hai bài vị đá, bát hương sứ thời Lê (thế kỷ XVIII), tượng thờ, hương án… Ngôi đền là trung tâm sinh hoạt văn hóa tín ngưỡng, nơi thờ phụng tưởng niệm võ quan Đặng Thế Công, Đặng Thế Lộc có nhiều công lao với dân với nước. Hằng năm vào ngày 14 tháng Giêng, nhân dân địa phương chức Lễ hội để tưởng nhớ, tri ân tổ tiên, những người có công với dân với nước. Từ bao đời nay, đền thờ Đặng Thế Công đã là trung tâm sinh hoạt văn hoá tín ngưỡng của cộng đồng dân cư trong vùng. Đảng bộ, chính quyền và nhân dân thị trấn Kép luôn trân trọng, tự hào và tạo mọi điều kiện để Lễ hội diễn ra trang trọng, vui tươi, an toàn, tiết kiệm, thực sự trở thành nơi sinh hoạt văn hóa giàu bản sắc văn hóa dân tộc, là chốn đi về của đông đảo nhân dân và bạn bè mọi miền tổ quốc”. NGUỒN TẠP CHÍ ĐIỆN TỬ DOANH NGHIỆP VÀ THƯƠNG HIỆU
Bắc Ninh
3316 lượt xem
Xếp hạng : Di tích cấp quốc gia
Mộ Phạm Văn Liêu
Người được liệt danh thứ 89 trong cuốn sổ vàng ấy là Lê Liêu (tức Phạm Văn Liêu, có tài liệu ghi là Phạm Đình Liêu), một danh tướng từ nhỏ đã theo cha tham gia nghĩa quân Lam Sơn, từng tham gia nhiều trận đánh ác liệt trên các chiến trường ở vùng núi rừng Thanh Hóa, Nghệ An, Tốt Động, Trúc Động…và đặc biệt có công đầu trong cuộc chiến công thành Xương Giang và tiêu diệt đại viện binh nhà Minh trên chiến trường Xương Giang lịch sử. Phạm Văn Liêu là con Phạm Văn Thánh, từng được tặng hàm Đô đốc đồng tri. Nguyên quán ở thôn Nguyên Xá, hương Lam Sơn, huyện Thụy Nguyên, xứ Thanh Hóa. Ông theo Lê Lợi và nghĩa quân Lam Sơn gây dựng phong trào kháng chiến chống quân Minh từ những ngày đầu ở hội thề Lũng Nhai. Trong cuộc kháng chiến gian khổ chống giặc Minh xâm lược, ông từng lập nhiều công lớn trên chiến trường Nghệ An, Thanh Hóa. Trong đại chiến tiêu diệt viện binh nhà Minh trên chiến trường Xương Giang, Phạm Văn Liêu là vị tướng chỉ huy một đạo quân mật phục ven bờ sông Thương (vùng Xuân Hương, Mỹ Thái, huyện Lạng Giang ngày nay) rồi đồng loạt tổng công kích tiêu diệt và bắt sống hơn 7 vạn viện binh nhà Minh vào cuối năm 1427. Tiêu diệt xong viện binh xâm lược, Phạm Văn Liêu ông được Lê Lợi cử ở lại Kinh Bắc trấn giữ miền phên dậu phía bắc thành Đông Đô. Năm 1428, cuộc kháng chiến chống giặc Minh kết thúc, ông được phong chức Ngân thanh vinh lộc đại phu, Tà xa kỵ đại tướng quân tước Khang Vũ hầu, sau thăng tước Khang Quốc cụng. Do công lao trong cuộc kháng chiến chống Minh, khi xét phong thưởng ông được dự vào hàng “khai quốc công thần” (bề tôi có công mở nước), được mang quốc tính (Lê Văn Liêu) và được phong nhiều thực ấp ở xứ Kinh Bắc và sinh cư lạc nghiệp tại xóm Chùa, xã Xuân Hương, huyện Lạng Giang ngày nay. Năm Bính Tý (1456) Phạm Văn Liêu mất tại Kinh Bắc. Mộ phần đặt tại Rừng Cấm, thôn Chùa, xã Xuân Mãn, huyện Bảo Lộc, phủ Lạng Giang (Nay là thôn Chùa, xã Xuân Hương, huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang). 3. Phạm Văn Liêu có hai người con, một trai, một gái. Người con gái được tuyển vào cung sau được phong làm Minh Phi. Sách Đại Việt thông sử, sử gia Lê Quý Đôn chép về bà như sau : "Phạm Minh phi (vợ vua Lê Thánh Tông) Minh phi họ Phạm là cháu của quan được tặng hàm Đô Đốc đồng tri tên là Thánh và là con của quan được tặng Đô Đốc đồng tri Tri Khang Vũ bá Phạm Văn Liêu. Bà được tuyển vào cung ngày Mậu Ngọ tháng 7 niên hiệu Quang Thuận thứ 2 (1461). Tháng 9 ngày Đinh Mùi được phong Tiệp dư. Ngày Nhâm Dần tháng ? niên hiệu Quang Thuận thứ 6 (1465) được thăng Tu viên. Ngày Quý Sửu tháng 6 năm Hồng Đức thứ 2 (năm 1471) thăng làm Chiêu viên. Ngày Bính Dần tháng 11 năm 1477 tiến phong là Minh phi được ở cung Thụy Đức. Năm 1497 vua Thánh Tông mất. Năm Cảnh Thống thứ nhất (1498) vì bà là cung phi triều trước nên phụng sự ở cung Thiên An không bao lâu thì bị bệnh. Ngày Giáp Ngọ tháng 9 bà mất thọ 50 tuổi được vua ban số tiền an ủi là 27 vạn và sai quan dụ tế, mang về an táng ở cánh đồng Linh Hòa thuộc huyện Lạng Giang. Người con thứ hai của Phạm Văn Liêu là Phạm Đức Hóa, được vinh phong Đặc tiến phụ quốc thượng tướng quân, Tư Đô kiểm điểm, tước Hoa Phong bá (sau được tặng Hoa Phong hầu) được kén làm Phò mã. Phạm Đức Hóa lấy con gái thứ 8 của vua Thánh Tông Thuần Hoàng đế là Thiều Dương công chúa Lê Thị Ngọc Khanh. Như vậy, Phạm Đức Hóa vốn là em vợ, sau được kén làm con rể (phò mã) của đức vua Lê Thánh Tông. Còn người cha Phạm Đình Liêu vừa là bố vợ vừa là thông gia của vị hiền vương này. Khi an cư lạc nghiệp trên phần đất được phân phong gia đình họ Phạm đã trở thành một gia đình có thế lực ở xứ Kinh Bắc. 4. Với những bổng lộc của triều đình ban thưởng và hoa lợi của 2370 mẫu ruộng được phân phong, gia đình họ Phạm, nhất là công chúa Thiều Dương Phạm Thị Ngọc Khanh đã đem ban phát, công đức cho nhiều địa phương ở xứ Kinh Bắc xây dựng mở mang các công trình phúc lợi nên được nhiều địa phương tôn thờ. Theo tờ khai của Lý trưởng địa phương từ năm 1942, thì trên địa bàn tỉnh Bắc Giang có 15 ngôi đình thờ cha con Phạm Văn Liêu và công chúa Thiều Dương làm Phúc thần/ Thành hoàng. Riêng tổng Tri Lễ, huyện Bảo Lộc xưa (nay thuộc 4 xã: Dương Đức, Xuân Hương, Tri Lễ, Tân Thanh của huyện Lạng Giang) có 8 làng/xã tôn thờ và vẫn lưu giữ sắc phong, bài vị tôn thờ ba vị, đó là các xã: Chuyên Mỹ, Chí Mỹ, Đại Mãn, Xuân Mãn, Hương Mãn… Phạm Văn Liêu đã trở thành thuỷ tổ của dòng họ Phạm ở làng Chùa, xã Xuân Hương, huyện Lạng Giang. Hiện ở làng Chùa vẫn còn di tích phần mộ và nhà thờ họ, nơi tôn thờ và lưu niệm danh tướng lịch sử Phạm Văn Liêu. Di tích đã được Bộ VHTT quyết định cấp bằng xếp hạng di tích lịch sử văn hoá cấp Quốc gia. NGUỒN CỔNG THÔNG TIN ĐIỆN TỬ SỞ VĂN HÓA - THỂ THAO - DU LỊCH TỈNH BẮC GIANG
Bắc Ninh
3250 lượt xem
Xếp hạng : Di tích cấp quốc gia
Chùa Phúc Quang
Nằm cách trung tâm TP Bắc Giang 20km về phía Đông Bắc, xã Tiên Lục, huyện Lạng Giang nổi tiếng về những cụm di tích văn hóa lịch sử. Đây là ngôi chùa cổ, được thành lập từ năm 1723 dưới thời vua Lê Cảnh Hưng, hướng chính Nam, được xây dựng bởi một vị sư có quê gốc ở Tiên Lục, Lạng Giang- ngài chính là Tổ sư đang ngự trên Tam bảo. Chùa có 35 gian, thiết kế theo lối kiến trúc “nội Công ngoại Quốc”. Toàn bộ phần tiền đường, hai dãy hành lang và gác chuông nối lại thành hình chữ Quốc, phần còn lại là tòa thiêu hương nối với thượng điện thành hình chữ Công. Trong chùa, hệ thống tượng phật được sắp xếp thứ tự từ thượng điện đến hai dãy hành lang và bên dưới gác chuông lớn, tất cả có khoảng 90 pho tượng cổ quý giá. Nếu đứng giữa chùa quan sát, chiêm ngưỡng các pho tượng cổ du khách sẽ không khỏi ngạc nhiên và thán phục trước nghệ thuật tạc tượng hết sức điêu luyện, tinh xảo của các tiền nhân. Với những giá trị quý giá ấy, năm 1989, chùa Phúc Quang được Bộ Văn hóa, Thông tin (nay là Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch) xếp hạng là Di tích lịch sử văn hóa cấp Quốc gia. Tuy nhiên, người dân xã Tiên Lục vẫn không ngừng thắc mắc lý do vì sao ngôi chùa có kiến trúc đẹp, uy nghiêm, cảnh quan thanh bình như thế mà vắng chủ, trước sau đều cửa đóng then cài. Ông Nguyễn Đình Thuấn, người trông nom chùa lâu nay cho biết, có vị sư Thích Huệ Cửu, tên khai sinh là Nguyễn Thành Chung (quê ở Ninh Thuận), về ở lâu nhất cũng không quá ba năm (trụ trì từ năm 2010 đến 2013). Dù không lý giải được nhưng người dân đều tin tưởng vào sự linh thiêng của ngôi chùa. Bằng chứng là suốt những năm tháng chiến tranh, mặc dù khu vực xung quanh bị bom đạn oanh tạc đến xơ xác, riêng chùa Phúc Quang và xã Tiên Lục vẫn được bảo vệ an toàn. Họ cho rằng chính ngôi chùa hơn 300 năm tuổi đã trấn giữ vùng đất này, giúp dân an cư lạc nghiệp. Cuối năm 2014, dự án Tu bổ, tôn tạo di tích chùa Phúc Quang chính thức được khởi công, gồm có 04 hạng mục chính. Sáng ngày 29/7/2016, đã bàn giao 02 hạng mục hoàn thiện theo kế hoạch, bao gồm Chùa chính (Tam bảo, Gác chuông, hai dãy Hành lang), diện tích 884,5 m2 và Nhà Thảo xá, diện tích 278,3 m2. Tổng giá trị quyết toán từ nguồn kinh phí mục tiêu quốc gia và ngân sách địa phương, ước thực hiện khoảng 23,5 tỷ đồng. NGUỒN BAN TUYÊN GIÁO TỈNH ỦY BẮC GIANG
Bắc Ninh
3289 lượt xem
Xếp hạng : Di tích cấp quốc gia
Đình Sàn
Đình Sàn thờ thánh Cao Sơn - Quý Minh và Minh Giang Đô thống, đều là những vị tướng của Vua Hùng, đã có công đánh giặc giữ nước, trừ tai diệt họa và đã được các triều đại phong kiến Lê - Nguyễn ban sắc phong thần. Hiện nay, trong hai hòm sắc của đình Sàn còn lưu giữ được nhiều đạo sắc phong với các niên hiệu như: Tự Đức lục niên; Tự Đức thập niên; Tự Đức tam thập Tam niên; Khải Định cửu niên; Duy Tân tam niên… Qua cổng đình, bên phải là chùa Sàn, đi thẳng vào là Tòa Đại đình 3 gian 2 dĩ, 2 chái bề thế, uy nghiêm với 4 đầu đao cong vút. Bờ nóc đắp "Lưỡng, long chầu nguyệt", hai đầu có Kìm, bờ dải đắp nổi nghê chầu, phượng múa, sinh động vô cùng. Tất cả bờ nóc, bờ dải đều gắn hoa chanh, chạy suốt, tôn thêm vẻ đẹp uy nghiêm, to lớn, vượt trội hẳn lên, nhưng vẫn nhẹ nhàng, thanh thoát bởi sự kết hợp hài hòa đến tinh xảo các đường ngang, nét thẳng với các đường cong vút lên mềm mại, sinh động. Đình Sàn làm kiểu chữ Công (I) gồm ba gian dải muống nối liền với ba gian hậu cung và ba gian hậu cung cũng có đao chầu kẻ góc rất đẹp, khiến cho toàn bộ ngôi đình đồ sộ này vượt trội hơn hẳn các ngôi đình khác ở Lục Nam. Với kiểu kết cấu: Thượng con chồng, giá chiêng, hạ con chồng- cốn, kẻ trường chắc khỏe, đẹp. Đặc biệt, đây là đình thời Lê còn khá nguyên vẹn, nhưng khung cột cái cao vượt hẳn lên và cột quân thấp hẳn xuống tạo cho lòng đình cao rộng mà rất thoáng đạt. Với kết cấu "Tứ hàng chân" này của hệ thống khung cột đã tạo cho mái đình có độ dốc nước lớn, mái xoải rộng làm cho ngôi đình vừa bền, chắc, vững vàng, đồ sộ, bên trong lại cao thoáng và rộng rãi mà vẫn nhẹ nhàng, thanh thoát. Bức cửa võng "cửu trùng" lại là biểu trưng xuất sắc nhất của nghệ thuật chạm khắc, sơn son thếp vàng thời Nguyễn. Với 4 chữ lồng "Thánh cung vạn tuế". Trên gian giữa và suốt mái trước cửa đình đều là thiết trần, lòng giếng sơn son chạm nổi "Tứ linh", "Tứ quý", "Long Mã", "Lạc thư" và hoa văn kỷ hà kéo suốt qua dải muống vào đến hậu cung. Khám thờ trong hậu cung sáng lòa, rực rỡ bởi 2 long đình sơn son thếp vàng, 2 ngai thờ, trong có hai pho tượng thần lộng lẫy, bài vị sơn thếp thời Lê cùng kiệu bát cống và rất nhiều đồ thờ khác… Năm 1994, đình Sàn được Nhà nước công nhận là Di tích Lịch sử-Văn hoá kiến Trúc nghệ thuật cấp quốc gia. NGUỒN SỞ SỞ VĂN HÓA THỂ THAO VÀ DU LỊCH BẮC GIANG TRUNG TÂM THÔNG TIN - XÚC TIẾN DU LỊCH
Bắc Ninh
3117 lượt xem
Xếp hạng : Di tích cấp quốc gia
Chùa Bảo An
Chùa Bảo An (Minh Kính tự), thuộc xã Cương Sơn, huyện Lục Nam (Bắc Giang). Do nằm trong hệ thống di tích Tây Yên Tử, có vị trí gần bến sông Lục Nam, kề bên trục đường 293 nên chùa là điểm dừng chân lý tưởng cho du khách trong hành trình du lịch về miền đất Phật Yên Tử. Chùa Bảo An được xây dựng từ thời Lê, năm 1710 đã được tu sửa. Trải qua hơn ba trăm năm, công trình đã qua nhiều lần sửa chữa, tôn tạo. Và hiện nay cơ bản mang nét kiến trúc thời Nguyễn thế kỷ XIX, một số pho tượng Phật, đồ thờ mang phong cách thời Lê thế kỷ XVIII. Là một trong những ngôi chùa cổ thuộc thiền phái Trúc Lâm Yên Tử, chùa Bảo An thờ Tam Tổ Trúc Lâm: Trần Nhân Tông, Pháp Loa và Huyền Quang Sử sách chép rằng, sau khi rời bỏ ngai vàng, vua Trần Nhân Tông lập ra thiền phái Trúc Lâm. Khi đó, Trần Nhân Tông đã chủ trương chuyển đạo Phật về gần dân, với quan niệm “Phật tức Tâm - Tâm tức Phật”. Ngoài những mùa kết hạ, vua Trần Nhân Tông còn về nhiều nơi để truyền đạo và đi vân du hoàng đạo. Cùng với việc khẳng định vị trí vai trò của Thiền phái Trúc Lâm, thời Trần và các giai đoạn sau này trên các đỉnh núi cao thuộc địa phận Bắc Giang đã xuất hiện nhiều ngôi chùa cổ như: Am Vãi, Bình Long, Hồ Bấc, Mã Yên… Chùa Bảo An tuy xuất hiện muộn hơn (thời Lê) nhưng lại là sự tiếp nối liên tục cho sự hưng thịnh và phát triển của Thiền phái Trúc Lâm ở Bắc Giang. Là chùa cổ có cảnh đẹp, phía trước chùa, hai ngọn tháp gạch cổ, nơi yên nghỉ của sư tổ được tán lá của hai cây đại cổ thụ tỏa bóng mát. Vườn chùa phủ màu xanh của lá, mùi hương hoa cỏ toả ngát bốn mùa. Nhiều cây cổ thụ trong khuôn viên chùa là minh chứng cho sự tồn tại và phát triển lâu đời của ngôi cổ tự này. Chùa Bảo An hiện có các hạng mục công trình: Tòa Tam bảo, nhà Tổ, nhà Mẫu, nhà khách và 2 ngọn tháp gạch cổ, tất cả tọa lạc trên khuôn viên rộng 10.700m2, quanh chùa được bao bọc bởi tường đá rêu phong cổ kính. Toà Tiền đường và Phật điện có kết cấu liên hoàn theo kiểu chữ đinh. Tiền đường 5 gian xây bít đốc, kết cấu kiến trúc vì mái gỗ lim, liên kết theo kiểu thượng con chồng, hạ kẻ đón, các cấu kiện chạm khắc hình hoa lá mang phong cách thời Nguyễn thế kỷ XIX. Toà Thượng điện 3 gian, khung liên kết gỗ đã ngả màu thời gian, trong bài trí đầy đủ hệ thống tượng Phật. Nhà Tổ phía sau tòa Tam bảo, đây là nơi bài trí tượng thờ Tam Tổ Trúc Lâm. Cả ba pho tượng được tạo tác đẹp quy chuẩn, tượng Trần Nhân Tông ngồi tọa thiền trên bệ gỗ ở giữa, hai gối mở rộng, tượng được sơn thếp phấn hồng. Tượng Pháp Loa ngồi trợ thủ bên trái, tượng Huyền Quang ngồi bên phải. Ngoài hệ thống tượng Phật đẹp, kiến trúc cổ kính, chùa Bảo An còn lưu giữ được một số đồ thờ và di sản Hán- Nôm đã tồn tại hàng trăm năm như: Lư hương, chuông đồng “Minh Kính tự chung”, bia đá “Hậu Phật bi ký”, tháp cổ…. Hằng năm, hội chùa được tổ chức ngày 18, 19, 20 tháng 3 Âm lịch với nhiều nghi lễ và trò chơi dân gian mang đậm bản sắc văn hoá dân tộc. Cùng với nhiều điểm di tích khác bên sườn Tây Yên Tử ở Bắc Giang, chùa Bảo An sẽ là điểm đến hấp dẫn cho du khách gần xa. NGUỒN: TRUNG TÂM THÔNG TIN, VĂN PHÒNG UBND TỈNH BẮC GIANG
Bắc Ninh
3079 lượt xem
Xếp hạng : Di tích cấp quốc gia
Đình Thân
Đình Thân là nơi thờ phụng tôn nghiêm những danh thần có công lao to lớn trong công cuộc chống giặc ngoại xâm, bảo vệ tổ quốc; thời kỳ đầu nơi đây thờ Thành Hoàng là Đức Thánh Cao Sơn và Quý Minh Đại Vương là những vị tướng tài thời Hùng Vương, biểu tượng cao đẹp về lòng yêu nước, tinh thần chống giặc ngoại xâm của dân tộc. Thông qua nội dung các tư liệu còn lưu giữ ở đây, như: sự tích, sắc phong, câu đối, văn cúng tế… đã khẳng định được nơi đây thờ các vị tướng thời Hùng Duệ Vương và các công chúa của nhà Lý, xếp theo trình tự thời gian thì ở Đình Thân thờ các vị như sau: * Thời Hùng Duệ Vương có các vị: - Cao Sơn Đại Vương thượng đẳng Thần - Quý Minh Đại Vương thượng đẳng Thần - Phương Dung- Nữ Thần Âm Phù * Thời Lý có các vị: - Bình Dương Công Chúa - Thiên Thành Công Chúa - Thiên Cực Công Chúa Sang thời kỳ lịch sử cận hiện đại kể từ khi thực dân Pháp xâm lược, đình Thân đã là căn cứ của quân dân ta, nơi cơ sở hoạt động của tổ chức cách mạng và kháng chiến. Nơi đây là điểm căn cứ đi về hoạt động của các chiến sỹ cách mạng trong thời kỳ tiền khởi nghĩa và sau này là những năm tháng kháng chiến chống Nhật, Pháp. Cũng chính nơi đây tháng 3/1943 Đảng Cộng sản ở Lục Nam đã cử đồng chí Kiên về xây dựng cơ sở của đảng và giác ngộ những người con ưu tú của quê hương đi theo cách mạng đó là các ông (Ông Huyên, ông Tài, ông Tuy, ông Vượng, ông Thắng, ông Mốc, ông Mẫn, ông Cầm, ông Lưu...). Đồng thời cũng chính nơi đây ngày 25/7/1945 Đội du kích họp bàn và tổ chức nhân dân đánh đổ Nhật xây dựng ủy Ban cách mạng lâm thời. Thời kỳ chống Mỹ, Đình Thân là nơi tập trung đưa tiễn lớp lớp những người con quê hương lên đường đánh giặc cứu nước. Ngày 02/9/1969 khi Chủ tịch Hồ Chí Minh qua đời Huyện uỷ - UBND huyện Lục Nam đã lấy nơi đây là nơi tổ chức lễ truy điệu Bác rất trọng thể, trang nghiêm. Rất đông cán bộ, các tầng lớp nhân dân các dân tộc trong huyện đã về đây dự lễ truy điệu Bác. Thời kỳ sau năm 1975 giải phóng Miền Nam thống nhất đất nước Đình Thân ngoài việc phục vụ văn hoá tín ngưỡng và sinh hoạt cộng đồng của làng Thân, Đình còn là nơi cấp uỷ, chính quyền thôn bàn bạc thống nhất phương thức sản xuất thâm canh tăng vụ, đặc biệt thời kỳ đổi mới Đình là nơi Ban chủ nhiệm Hợp tác xã Thanh xuân bàn đưa ra quyết sách thâm canh tăng vụ, nâng cao hiệu quả trong sản xuất nông nghiệp; giai đoạn 1986-1992 hợp tác xã Thanh Xuân là lá cờ đầu trong sản xuất, kinh doanh giỏi của 04 huyện miền núi Tỉnh Hà Bắc, thành tích đó được Chủ tịch nước tặng Huân chương lao động Hạng ba năm 1991. Trải qua bao biến cố thăng trầm của lịch sử, ngôi Đình vẫn giữ nguyên nét uy nghi cổ kính, độc đáo; Với những giá trị lịch sử văn hóa nghệ thuật nêu trên Đình Thân đã được xếp hạnh Di tích lịch sử - văn hóa cấp Quốc gia theo Quyết định số 502-QĐ/BT, ngày 28/04/1994 của Bộ Văn hóa-Thông tin (nay là Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch). Phát truyền thống dân tộc, cấp ủy chính quyền và nhân dân làng thân nay là tổ dân phố Thân Bình, Thân Phú, Thanh Tân, các công ty doanh nghiệp; các con em địa phương đang học tập và công tác trên mọi miền tổ Quốc hàng năm đã công đức, tôn tạo khu di tích ngày thêm khang trang, tố hảo. Nơi đây hàng năm cũng là nơi giáo dục truyền thống cho lớp lớp các thế hệ thanh, thiếu niên trên địa bàn. 2. Kiến trúc Đình Làng Thân còn là công trình kiến trúc văn hóa, nghệ thuật cổ thời Lê (thế kỷ XVII-XVIII) có giá trị độc đáo tiêu biểu về nghệ thuật. Hiện nay, đình có bố cục bình đồ hình chữ Đinh gồm tòa Tiền đình 03 gian 02 trái và tòa Hậu cung 2 gian. Giá trị về kiến trúc nghệ thuật chủ yếu được thể hiện ở tòa Tiền đình với quy mô kiến trúc đồ sộ, lối kẻ trường độc đáo tạo cho mái đình có độ dốc lớn, nghệ thuật chạm khắc tinh xảo trên khắp các đầu dư, đầu kẻ như chạm nổi, chạm lộng các đề tài hình lá lật, hình thú sinh động, hài hòa, các đường nét trạm trổ, đồ thờ thanh thoát tinh xảo đậm nét kiến trúc nghệ thuật thời Lê. Lịch sử xây dựng Đình Thân trên câu đầu Đình hiện còn rõ chữ khắc ghi rằng “Quý tỵ niên, nhị nguyệt, nhị thập, ngũ nhật cất nóc”. Nghĩa là Đình được khởi dựng ngày 25 tháng 02 năm Quý Tỵ (1713) dưới triều đại Lê Dụ Tông, niên hiệu Vĩnh Thịnh thứ 8. Ngôi Đình có kiến trúc cổ độc đáo, tiêu biểu về nghệ thuật đến nay đã trên 300 năm tuổi, đặc biệt những đường nét chạm khắc được thể hiện ở các đầu dư mõm kẻ là đề tài tứ linh (Long, Ly, Quy, Phượng) hình vặn xoắn, mây cuộn phong phú làm cho ngôi Đình thêm linh thiêng và đậm nét nghệ thuật. NGUỒN CỔNG THÔNG TIN ĐIỆN TỬ THỊ TRẤN ĐỒI NGÔ - HUYỆN LỤC NAM
Bắc Ninh
3304 lượt xem
Xếp hạng : Di tích quốc gia
Đình – Chùa thôn Thượng Lâm
Khu di tích lịch sử- văn hóa đình, chùa Thượng Lâm, thuộc thôn Thượng Lâm, xã Thanh Lâm, huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang cách thành phố Bắc Giang 20km về phía Đông Bắc. Khu di tích lịch sử văn hóa đình, chùa thôn Thượng Lâm được xây dựng từ cuối triều Lê đầu triều Nguyễn, ở đời vua Lê Hiến Tông niên hiệu Cảnh Hưng thứ 42 vào năm 1781 là nơi thờ cúng, tưởng niệm người anh hùng có công với dân, với nước. Vì rằng vào những năm 1516-1522 nghĩa quân do cha con Trần Cảo- Trần Cung lãnh đạo đã chiếm giữ một vùng rộng lớn từ phía Bắc Sông Cầu trở lên. Ngoài ý nghĩa lịch sử, khu di tích này còn có ý nghĩa về mặt kiến trúc nghệ thuật- có tác dụng giáo dục cho mọi thế hệ hôm nay và mai sau về truyền thống dựng nước và giữ nước của tổ tiên ông cha chúng ta. Khu di tích lịch sử Đình - Chùa thôn Thượng Lâm đã đón rước đạo sắc phong thần đầu tiên tôn thờ thần hoàng, đã có công giúp nước, trải qua nhiều triều đại cụm di tích đã được đón nhiều đạo sắc phong thần của các vua chúa nhà nguyễn, điều đó nói lên sự tôn kính phụng thờ, của nhân dân địa phương đối với các bậc công thần nghĩa sĩ, đã có công với nước với dân, Trong bài vị còn lưu giữ đến nay đã ghi (chính minh, an quốc, thái hoàng, đường hương, đại lễ, chi thần, vị tiền) cùng với chuông đồng, khánh đúc của long cốt tự , kiệu rồng, mũ thần, hia thần, tại đình làng vẫn còn lưu giữ đến nay đó là những di vật quý giá đã được bảo tồn qua nhiều thế kỷ đến nay vẫn dữ nguyên về lộng lẫy và trang nghiêm. Khu di tích gồm: 1) Đình: hướng nam thiết kế gồm 2 phần - Nhà tiền tế làm kết cấu bằng gỗ lim, lợp ngói mũi hài , làm theo kiểu chồng giường, có năm gian rộng 6,87 m, dài 13m. - Hậu cung đình gồm 1 gian 2 trái kết cấu kẻ trường, xà cộc, nguyên liệu làm bằng gỗ lim, ngói mũi hài tường xây gạch, dài 8,35m, rộng 6,10m. 2) Chùa Thượng Lâm (Long cốt tự) hướng nam gồm: Địa điểm cũ của chùa xưa kia là xây dựng ở trên núi Long Cốt tự, hướng phía Bắc. Đến năm 1940 chùa được rời về vị trí hiện nay. Vì lý do: để bảo vệ chùa. Địa điểm cũ hiện nay chỉ còn lại 3 tòa tháp. - Nhà tiền tế kết cấu kiểu chồng giường, dài 12,22m, rộng 7,65m. - Nhà thánh đường kết cấu kiểu giá chiêng, gỗ lim, ngói mũi hài, nền lát gạch vuông. Có chiều dài 7,5m, chiều rộng 5,91m. Trong khu di tích này hiện còn lưu giữ được nhiều tài liệu hiện vật quý hiếm ,có ý nghĩa nghiên cứu khoa học và giáo dục truyền thống trực tiếp cho nhiều thế hệ hôn nay và mai sau . Đó là các bức đại tự, câu đối, chuông, khánh, văn bia, hương án, đồ thờ cúng hệ thống tượng (gồm 21 pho tượng Phật là) hiện vật gốc thời Lê, thời Nguyễn có giá trị về mặt kinh tế cũng như mặt nghệ thuật vừa là tài liệu hiện vật phục vụ cho nghiên cứu khoa học và giáo dục truyền thống. Đó là những sưu tập đồ thờ quý hiếm thể hiện phong phú về loại hình, niên đại, chất liệu cầu thành. Khu di tích Đình – Đền – Chùa Thượng lâm là một trung tâm văn hoá tiêu biểu của xã Thanh Lâm nói riêng của tinh Bắc Giang nói chung. Nó có ý nghĩa là tư liệu rất quan trọng phản ánh sâu sắc về truyền thống yêu quê hương, đất nước và căm thù giặc sâu sắc của nhân dân ta. Đồng thời là nơi thờ phụng, tưởng niệm Trần Cảo – Trần Cung hai thủ lĩnh của cuộc khởi nghĩa nông dân đầu thế kỷ XVI chống lại áp bức, bóc lột, chèn ép, hà khắc của triều đình phong kiến Việt Nam thời kỳ hậu Lê. Điều đáng quý và trân trọng là những lần trùng tu, tu sửa đều do bàn tay khéo léo của những thợ mộc, thợ nề địa phương tạo lên công trình của làng của nước . Đó cũng là sự phản ánh về truyền thống nghề thủ công cổ truyền ở đây đã có từ lâu đời và ngày càng phát triển không ngừng làm đẹp cho làng cho xã Thanh Lâm thịnh vượng. 7. Hoạt động văn hóa và nghi lễ liên quan Lễ hội truyền thống của nhân dân địa phương được tổ chức vào ngày 13 tháng Giêng. Trong lễ hội, ngoài phần lễ tế thần, thành hoàng làng, còn có nhiều trò chơi dân gian truyền thống được tổ chức như: Cờ tướng, đấu vật, chọi gà, đập niêu, hát quan họ dưới thuyền…Ngoài ra các nghi lễ khác cũng được tổ chức tại di tích như ngày việc làng 11/4, ngày sự lệ (10/8), ngày tế miếu âm hồn 15/11 …Mỗi một nghi lễ lại có những quy định khác nhau. NGUỒN CỔNG THÔNG TIN ĐIỆN TỬ HUYỆN LỤC NAM
Bắc Ninh
3472 lượt xem
Xếp hạng : Di tích quốc gia
Đình Nội
Đình Nội, xã Việt Lập, huyện Tân Yên là một trong số những ngôi đình cổ có quy mô to đẹp, nổi tiếng của vùng đất Tân Yên xưa cũng như nay. Căn cứ vào nguồn tư liệu Hán Nôm còn khắc ghi trên các cột gỗ trong đình cho biết, đình Nội được xây dựng vào đời vua Lê Hiển Tông, niên hiệu Cảnh Hưng thứ 34 (năm 1775), trên một gò đất cao thoáng giữa làng Lý và làng Nội. Tuy nhiên, do đình được dân 3 giáp: Tây, Mỹ, Trong của làng Nội làm vì thế mà đình có tên là đình Nội. Ngoài ra khi đình làm xong, dân làng còn đặt tên đình là “Tiên Đình”. Hai chữ ấy được đắp nổi trên đỉnh bờ nóc đình để mọi người tới nơi chiêm ngưỡng. Muốn đến thăm di tích, du khách có thể đi theo đường từ thành phố Bắc Giang theo quốc lộ 1A (cũ), qua cầu Sông Thương, rẽ phải theo tỉnh lộ 398 tuyến Bắc Giang - Cao Thượng, qua cây số 11, rẽ tay phải theo đường cấp phối liên thôn khoảng lkm là tới đình Nội. Ngược dòng thời gian tìm về lịch sử khởi dựng của đình Nội được biết, khi đã chuẩn bị đủ nguyên vật liệu, dân làng Nội đón thợ mộc ở Bắc Ninh lên làm đình. Các hiệp thợ cùng đua nhau trổ hết tài năng của mình nên đã để lại ở đình Nội nhiều bức chạm gỗ rất đẹp. Trong đó, điển hình là bức chạm đề tài “chèo thuyền bắt cò” dựa theo điển tích: “bạng duật tương trì, ngư ông đắc lợi”, diễn cảnh con cò thì mổ con trai, con trai cặp vỏ giữ chặt mỏ cò nhân thế ông lão đánh cá chèo thuyền ra bắt cả đôi. Lại có bức chạm hai quan viên ngồi uống rượu với nhau, nhưng sau lưng mỗi vị quan này lại có hai võ sĩ cầm kiếm đứng ngay bên cạnh. Người đời gọi bức chạm này là “vừa đánh vừa đàm”. Nghệ nhân như muốn nói rằng trong bất kỳ điều gì cũng cần phải bình tĩnh, bàn bạc kỹ, như vậy mới mong thành công. Cũng lại là những nét chạm khắc thô phác, nhưng lại thế hiện rõ mọi hàm ý. Lại có bức nữa miêu tả cảnh các kỵ binh ra trận trong tư thế vô cùng khỏe khoắn, rắn chắc. Ngoài ra, trong đình còn rất nhiều những bức chạm khắc với những đường nét tinh xảo mà mỗi bức, người nghệ nhân lại phản ánh một thực tế xã hội bây giờ cùng một hàm ý sâu xa khác. Đình Nội làm nên đế tôn thờ đức Thánh Cao Sơn, Quý Minh là những thuộc tướng từ thời Hùng Vương đã có nhiều công lao trong việc đánh đuổi giặc ngoại xâm, bảo vệ sự bình yên của đất nước. Trong đình còn bảo lưu đầy đủ các đồ thờ tự quý giá như: Long ngai, bài vị, bộ kiệu rước, bộ bát bửu gỗ mang phong cách nghệ thuật thời Lê (thế kỷ XVIII). Trải qua thời gian, đình Nội cũng được trùng tu, tôn tạo lại qua các giai đoạn lịch sử. Đặc biệt là trong những năm cuối thế kỷ XIX, đình đã được vị thủ lĩnh của nghĩa quân Yên Thế - Đề Thám quan tâm, xoay chuyển hướng cho phù hợp. Câu chuyện này được các cụ cao niên kể lại rằng: Đình Nội trước quay về hướng Tây Nam, mái đao chỉ thẳng vào xóm Nội. Dân thấy “góc đao ao đình” là điều không hay khiến dân trong làng thường xuyên lục đục mất đoàn kết. Vì thế, dân làng đã xin cụ Đề Thám chuyển hướng cho khi Hoàng Hoa Thám cầm quân đánh Pháp, có quan hệ thân thiết với làng Nội. Nghĩa quân thường xuyên qua lại nơi đây họp bàn với các cụ Đốc Tuân (làng Lý); Chánh Hoạch (làng Nội), Tống Lò (Văn Miếu). Biết được chuyện đó, Đề Thám với uy tín của mình đứng ra xoay lại hướng đình cho làng Nội. Từ đó, đình xoay về hướng Đông Nam. Cũng sau lần bắn đình này, dân cho xây trước đình 2 tòa tả vu, hữu vu và cổng nghi môn bề thế. Nhìn từ xa, đình làng Nội nổi lên sừng sững giữa khung cảnh thiên nhiên đẹp của một làng quê với lũy tre xanh xanh, với những cây cổ thụ vươn mình trong mưa nắng bên sân đình, cùng hồ sen xanh ngát tỏa hương thơm mát từ ao đình khiến tình quê càng thêm nồng đượm. Ngày nay trải qua những thăng trầm của lịch sử, đình Nội cũng không còn được nguyên vẹn như ban đầu. Một số hạng mục của công trình cũ đã bị mất đi như: Tòa giải vũ, cổng nghi môn, toàn bộ hệ thống sàn gỗ của đình và nhiều câu đối, hoành phi cũng không còn. Nhưng về cơ bản, đình Nội vẫn giữ được dáng vẻ của một ngôi đình cổ. Đình hiện có bố cục mặt bằng theo lối chữ nhất gồm 1 tòa đại đình 5 gian 2 chái. Phía trước đình là 1 dãy tả vu 3 gian. Bên trong, hệ thống khung gỗ được liên kết vì theo lối chồng rường, giá chiêng. Đình hiện còn bảo lưu một số nét kiến trúc truyền thống thế hiện ở các mảng hoa văn được chạm khắc trên các cấu kiện gỗ, với nghệ thuật chạm nổi, chạm chìm, chạm kênh bong rất công phu, tỉ mỉ. Các đề tài trang trí thể hiện phong phú như: Đề tài tứ linh, tứ quý, chèo thuyền bắt cò, cò lả,... mang đặc trưng phong cách thời Lê-Nguyễn. Hệ thống đồ thờ quý trong đình còn lại như: 1 bộ kiệu rước, 2 ngai thờ, 2 bát hương thời Lê, 2 quả thờ, 1 ống thư... Những hiện vật này đều là những hiện vật gốc rất có giá trị trong việc nghiên cứu lịch sử di tích cũng như vùng đất con người nơi đây. Hằng năm, vào ngày 10, 11 tháng Giêng, dân làng Nôi lai tổ chức lễ hội lớn tại trung tâm đình Nội. Trong lễ hội dân làng có tổ chức tế lễ, rước sách long trọng; có thi cỗ, làm công xôi năm mâm đắp thành 4 chữ “thiên hạ thái bình”, có lệ hát ca trù thờ Thánh, hát tuồng, hát chèo... đón dân kết chạ ở Lăng Cao cùng đến vui hội. Đồng thời, hội có tổ chức nhiều trò chơi dân gian đặc sắc như: Chơi cướp cầu, đu, chọi gà, vật... thu hút nhiều người từ các nơi về tham dự. Vì thế, người dân làng Nội vẫn có câu ca nói rằng: “Đình Nội có hội cướp cầu Tháng Giêng mười một đâu đâu cũng về”. Với những giá trị tiêu biểu về kiến trúc nghệ thuật và lịch sử, văn hóa đồng thời là một địa điểm có mối liên hệ mật thiết với cuộc khởi nghĩa Yên Thế do Hoàng Hoa Thám lãnh đạo (cuối thế kỷ XIX - đầu thế kỷ XX), đình Nội đã vinh dự được nằm trong danh sách 23 di tích và cụm di tích lịch sử Những địa điểm khởi nghĩa Yên Thế được Thủ tướng Chính phủ ký Quyết định số 548/QĐ-TTg ngày 10 tháng 5 năm 2012 công nhận là Di tích quốc gia đặc biệt. Quyết định này khẳng định vai trò, giá trị của di tích và chính là một sự tri ân của nhà nước đối với công lao to lớn của bậc tiền nhân đã tạo dựng cho các thế hệ con cháu ngày nay được sống trong thanh bình. NGUỒN Trung tâm thông tin & xúc tiến du lịch Bắc Giang
Bắc Ninh
2991 lượt xem
Xếp hạng : Di tích quốc gia đặc biệt
Đền Hả
Đền Hả thuộc thôn kép 2B, xã Hồng Giang, huyện Lục Ngạn là một di tích quan trọng và có giá trị cao về mặt lịch sử, kiến trúc và nghệ thuật. Ngôi đền nằm giữa ngọn đồi Kỳ- Sơn từ xưa đến nay vẫn có tên gọi là đền Hả, Từ Hả. Dọc quốc lộ 31 từ ngã tư cao tốc Bắc Giang mới rẽ phải khoảng hơn 40km đến ngã ba Kép, Hồng Giang lên một đoạn rẽ phải hơn một cây là đến di tích. Đền Hả thờ Thân Cảnh Phúc ( tức Vũ Thành, Cảnh Nguyên, Cảnh Long hay Thân Đạo Nguyên) là phò mã nhà Lý lấy công chúa Thiên Thành. Ngoài ra, Đền Hả từ xưa đến giờ không phải chỉ thờ một tướng vũ thành, mà còn thờ 6 vị khác nữa đều là phò mã và công chúa nhà Lý là; thần thân tướng quốc Vũ Tỉnh; quốc mẫu Thiên Thành Vũ Thị Cảnh; Thuỵ Nhiên công chúa lý thị Dược; Bình Dương công chúa lý thị Giám; Yến Hoa công chúa lý thị Kiên và Thánh phi Giáp Thị Tuấn. Đền Hả xã Hồng Giang là loại hình di tích lưu niệm danh nhân để tưởng nhớ không chỉ 1 danh nhân là tướng quân Vũ Thành mà còn 6 danh nhân khác thời Lý. Ngôi đền Hả nằm ở phía đông nam làng Hả Hộ, trên một khu đồi rộng, bố cục theo kiểu chữ Tam gồm ba toà nhà không lớn lắm là đền hạ, đền trung và đền thượng. Bên cạnh là ngôi chùa cùng tên. Tất cả tạo thành một thể thống nhất về kiến trúc nằm bên bờ Lục Nam chừng nửa cây số. Ba ngôi đền này nằm song song với nhau, riêng hai đền trung và đền thượng được nối với nhan bằng ống muống. Nhà làm đơn giản, kết cấu giữa các vì kèo theo lối kẻ truyền độc trụ. Đền Hạ kiến trúc gồm 3 gian 2 vỉ với 6 vì kèo và 24 cột lớn nhỏ gián cách giữa các gian không đều. Phía sau ngôi đền Hạ là ngôi đền trung gồm 3 gian 2 dĩ và cuối cùng là đền thượng cũng được xây dựng gồm 3 gian 2 dĩ. Nằm trong một tổng thể kiến trúc của ngôi đền là chùa Từ Hả. Chùa kiến trúc theo kiểu chữ đinh. Xung quanh khu vực đền là một số di tích khác gắn liền với ngôi đền và lễ hội hàng năm là ao rối, núi trống, núi chiêng, ruộng lá cờ, bãi Dược… đã làm cho di tích thêm phong phú và sống động NGUỒN CỔNG THÔNG TIN ĐIỆN TỬ HUYỆN LỤC NGẠN TỈNH BẮC GIANG
Bắc Ninh
3889 lượt xem
Xếp hạng : Di tích quốc gia









