Di tích lịch sử

Việt Nam
Đình Ngọc Hà

Đình Ngọc Hà

Đình Ngọc Hà ở ngõ 158 Ngọc Hà, phường Ngọc Hà, quận Ba Đình; đình được xây dựng vào khoảng cuối thời Lê trung hưng, thờ Đức thánh Huyền Thiên Hắc Đế. Ngọc Hà là tên của một trong Thập tam trại thời Lý; ngày nay bao gồm phần đất trước kia của ba ngôi làng cổ: Ngọc Hà, Hữu Tiệp, Đại Yên, nổi tiếng với nghề trồng hoa và làm thuốc nam. Chưa rõ ngôi đình Ngọc Hà được xây dựng chính xác vào năm nào nhưng dòng lạc khoản ở một câu đối tại nhà tiền tế cho biết ngày 16 - 10 - 1898, là ngày hoàn thành của đợt trùng tu dưới thời vua Đồng Khánh. Đình đã bị huỷ hoại trong cuộc chiến đấu bảo vệ Thủ đô vào cuối năm 1946, đầu năm 1947, đến năm 1952 đã được dân làng xây dựng lại. Bên trong đình có ban thờ Đức thánh Huyền Thiên Hắc Đế – vị thánh đã phò trợ vua nhà Lý đánh thắng giặc ngoại xâm, bảo vệ đất nước. Hội làng được tổ chức vào ngày 19 tháng Giêng, chung với làng Hữu Tiệp. Hai làng rước bài vị của thần đến núi Sưa để tế chung. Ngôi đình vốn nằm trên một cù lao giữa hồ nước, cổng nghi môn quay về phía nam, gồm 4 trụ biểu và 2 cổng phụ 2 tầng 8 mái giả. Sân trước đình có hai cây cổ thụ, ở giữa là bức bình phong với đôi voi đá chầu vào. Xa hơn có một ao vuông nhỏ rồi mới đến hồ nước. Hai bên tả hữu sân trong cổng nghi môn giáp với hai nhà giải vũ 3 gian đối diện nhau, chính giữa là bậc thềm dẫn lên toà tiền tế rộng 3 gian 2 chái. Cấu trúc tiền tế làm theo kiểu “trùng thiềm điệp ốc” và “thượng rường, hạ kẻ”. Tại đây có các hoành phi, câu đối, hương án v.v. thếp vàng rực rỡ. Tòa phương đình nằm sau tiền tế, mái làm kiểu chồng diêm 3 tầng, trên đỉnh đắp hình bầu rượu. Bốn góc phương đình có 4 cột đỡ được trang trí hình rồng cuốn, bên trong đặt cỗ kiệu bát cống chạm khắc hình rồng theo phong cách cuối Lê, đầu Nguyễn. Tòa hậu cung gồm 3 gian, gian giữa đặt ngai thờ, bài vị và đồ tế khí là những cổ vật quý báu tạo tác vào thế kỷ 19. Ngày 15-02-1992, Bộ Văn hóa và Thông tin đã xếp hạng là Di tích lịch sử văn hóa quốc gia Nguồn Cổng thông tin điện tử quận Ba Đình , thành phố Hà Nội.

Hà Nội

5301 lượt xem

Xếp hạng : Di tích cấp quốc gia

Mở

Đình Giảng Võ

Đình Giảng Võ

Đình Giảng Võ thờ bà Lý Thị Châu Nương. Theo ngọc phả lưu giữ ở Đình, Bà là người Võ trại (Giảng Võ). Năm 16 tuổi, Bà đã tinh thông võ nghệ, trí dũng song toàn. Chồng bà là tướng quân Trần Thái Bảo - Đốc bộ Châu Hoan (nay là tỉnh Nghệ An). Trong cuộc chiến đấu chống giặc Nguyên Mông lần thứ ba, bị địch bao vây, Ông đã dẫn quân xông ra phá vòng vây, Bà giả trai chỉ huy binh lính giữ thành, bảo vệ kho tàng trong hơn một tháng. Sau đó, quan Thái Bảo chiêu mộ thêm quân sĩ, tiến về thành giải vây. Bà xuất quân cùng đánh, quân Nguyên thua phải rút chạy. Vua Trần Nhân Tông hay tin khen ngợi tài trí của Châu Nương và phong Bà là Khố nương Công chúa Quản trưởng Quốc khố Đại Phu nhân. Sau chiến công đó, Ông được phong chức Tiền quân Dực thánh chỉ huy đạo quân bảo vệ nhà vua và kinh thành Thăng long. Bà được nắm toàn quyền thu phát binh lương của Quốc khố kiêm cai quản phủ Phụng Thiên. Trong một trận chiến đấu ác liệt, Bà đã anh dũng hy sinh năm 1287. Vua Trần phong cho Bà là " Anh linh Hiển ứng Khố nương Công chúa Chủ Khố Đại vương Phu nhân Thánh Mẫu" và lệnh cho làng Giảng Võ lập đền thờ Bà. Để tỏ lòng kính phục người con gái anh hùng, Bà đã được tôn thờ làm Thành hoàng làng Giảng Võ nên Đền thờ Bà được gọi là Đình thờ, nhân dân quen gọi là Đình thờ Bà Chúa Kho (ngoài Giảng Võ là nơi thờ chính theo lệnh nhà Vua, nhiều làng ở Châu Hoan cũng lập Đền thờ Bà). Đình thờ Bà nằm ở giữa làng Giảng Võ xưa (nay là ngõ 612, đường La Thành, phường Giảng Võ, quận Ba Đình, Hà Nội), toạ lạc trên khu đất rộng gần 2.000 m2. Mặc dù bị chiến tranh và thời gian tàn phá, được trùng tu, xây dựng lại, Đình vẫn giữ được kiến trúc khá đẹp và cổ kính. Phía trước là miếu thờ Cô Đệ Nhật và Cô Đệ Nhị, hai người hầu của Bà. Chính giữa là nhà Phương Đình, phía trong là toà Đại Đình, nơi thờ Bài vị và Long ngai Bà. Di tích cổ nhất của Đình là 2 nhà Tả mạc và Hữu mạc nằm hai bên nhà Phương Đình. Đây là nhà có kiến trúc cổ độc đáo, kết cấu vì kèo quá giang, đầu hồi bịt đốc với các cây trụ đỡ mái. Đỉnh trụ là 2 con nghê quay mặt vào nhau. Ngoài ra, trong khuôn viên Đình còn có 4 con nghê đá, 2 tấm bia đá và một số trụ đá trước đây dùng để kê cột đình. Trên nóc Đình có bức đại tự ghi 4 chữ " Lý Trần phương danh"(tiếng thơm 2 họ Lý Trần). Trong Đình có bức đại tự "Nữ trung anh kiệt" (anh hùng hào kiệt trong giới nữ) và đôi câu đối ca ngợi Bà: Tài chính túc sung quân, môn nội mệnh văn Thiên tử chiếu. Âm mưu năng thoái lỗ, quốc trung danh chấn nữ thần cơ. Dịch : Của cải đủ nuôi quân, khắp chốn nghe tin Vua xuống chiếu. Mưu hay lui giặc dữ, nước nhà nức tiếng gái tài cao. Trước sân đình là những cây đa cổ thụ soi bóng trên làn nước trong xanh làm tôn thêm vẻ uy nghiêm, cổ kính của Đình. Ngày 20/07/1994, Đình Giảng Võ được công nhận là Di tích Lịch sử cấp Quốc gia. Đình Giảng Võ thờ Bà Chúa kho là ngôi đình thiêng của đất Hà thành. Hàng năm, Đình tổ chức lễ hội truyền thống vào ngày sinh (12/02 âm lịch) và ngày hoá (20/07 âm lịch) của Bà. Ngoài ra, vào ngày 23/12 âm lịch, Trung tâm Hội chợ Triển lãm Việt Nam, UBND phường Giảng Võ và Nhà hát Tuồng Trung ương phối hợp tổ chức rước bài vị và bát hương của Bà để cầu cho quốc thái dân an. Lễ hội được tổ chức trang trọng, đậm đà bản sắc dân tộc, không có tệ nạn mê tín dị đoan, thu hút rất đông nhân dân trong vùng và khách thập phương tham dự. Nguồn Cổng thông tin điện tử quận Ba Đình , thành phố Hà Nội .

Hà Nội

5621 lượt xem

Xếp hạng : Di tích cấp quốc gia

Mở

Đình - Đền Liễu Giai

Đình - Đền Liễu Giai

Khu Di tích lịch sử Đình - Đền Liễu Giai thuộc phường Liễu Giai, quận Ba Đình. Đền thờ Thánh Mẫu và Ngọc Nương công chúa. Theo thần tích còn lưu ở đền, tại làng Phan Sơn, huyện Bằng Châu, phủ Nam Sách, tỉnh Hải Dương, có một gia đình họ Lý húy là Nghi, vợ họ Hoàng, có truyền thống văn hóa ba bốn đời đều có người làm quan. Lý Nghi làm quan bộ Lễ thời vua Trần Nhân Tông. Một hôm trời nóng, bà ra hồ Bạch Nhạn tắm. Bỗng dưng sóng gợn, hiện lên một con rắn trắng bơi đến rồi quấn chặt mình bà. Năm sau, đúng giờ Thìn ngày 21 tháng 3 Giáp Thìn, bà sinh ra một bé gái, đặt tên là Ngọc Nương, càng lớn càng xinh, đức độ hiền hòa thông minh hơn người. Năm 18 tuổi, Ngọc Nương đi thuyền ngắm trăng vào đêm 17 tháng 8 Âm lịch, đến địa phận trại Liễu Giai thì gặp cơn dông. Lúc đó xuất hiện một con rắn dài khoảng 10 trượng đến đón Ngọc Nương về Thủy Quốc. Bố mẹ vô cùng thương xót, xây đền thờ Ngọc Nương trên mảnh đất long chầu hổ phục cạnh hồ Bạch Nhạn, sau gọi là hồ Đống Nước. Đời Trần Anh Tông, quân giặc Nguyên Mông sang xâm lược nước ta, Ngọc Nương đã âm phù giúp vua đánh thắng quân giặc một trận lớn. Vua bèn ban cho dân làng 100 quan tiền tu bổ sửa chữa đền thờ và sắc phong cho nữ sĩ: “Vạn cổ huyết thực, Dư quốc đông vô viết vi, Nữ bạch hổ trang, Thủy tinh tôn linh công chúa, Hộ nhị đệ nhất tử”. Sang các triều vua Vĩnh Khánh, Cảnh Hưng, Chiêu Thống, Minh Mịnh, Thiệu Trị, Tự Đức, Duy Tân, Khải Định đều có Sắc phong: Thủy Tinh công chúa Thượng đẳng phúc thần . Đền Liễu Giai quay hướng Tây Nam. Sau nhiều lần tu sửa hiện nay mang phong cách nghệ thuật kiến trúc thời Nguyễn. Đền được xây theo hình chữ “Công”, có lầu Cô, lầu Cậu, ở giữa là đền thờ Thánh Mẫu, bên hữu có lầu Mẫu Cửu Trùng Thiên. Trong thời kỳ chống Pháp năm 1946, thực dân nghi có các chiến sĩ cách mạng ẩn náu nên đã nã súng cối tàn phá, gây sập cháy. Lễ hội kỷ niệm Ngày hóa Đức Thánh mẫu Ngọc Nương Công Chúa vào ngày 17 tháng 8 âm lịch, ngày 12 tháng Giêng là Lễ hội kỷ niệm ngày hóa của thành hoàng Hoàng Phúc Trung. Đền – Đình Liễu Giai đã được Bộ Văn hóa Thông tin quyết định công nhận và xếp hạng di tích lịch sử nghệ thuật kiến trúc quốc gia ngày 27/12/1990. Nguồn Cổng thông tin điện tử quận Ba Đình , thành phố Hà Nội .

Hà Nội

5419 lượt xem

Xếp hạng : Di tích cấp quốc gia

Mở

Đền Núi Sưa

Đền Núi Sưa

Đền Núi Sưa tọa lạc trên đỉnh Núi Sưa thuộc khu vực phía Tây kinh thành Thăng Long của vùng đất Thập Tam Trại, nay thuộc công viên Bách Thảo, phường Ngọc Hà, quận Ba Đình. Đền thờ Huyền Thiên Hắc Đế - vị thần có công phò trợ Lý Thánh Tông đánh giặc Chiêm Thành, chống giặc ngoại xâm, bảo vệ nền độc lập, tự chủ của dân tộc. Đền được xây dựng vào thế kỷ XIX. Theo thần tích làng Hữu Tiệp, trước thời Lý, ở khu núi Sưa huyện Quảng Đức, phủ Phụng Thiên thuộc thành Thăng Long có một nhà hào trưởng nổi tiếng tên là Lý Phục, lấy vợ là Hoàng Thị Đức người bản khu. Vợ chồng gia sản giàu có, bản tính khoan hòa, tu nhân tích đức, hay cưu mang những người nghèo khó, bần hàn. Phàm những việc làm phúc cứu người không có việc gì không gắng sức làm. Chỉ có một điều vợ chồng đã ngoại tam tuần mà vẫn chưa có con, liền đến chùa Một Cột cúng cầu ngày đêm đèn hương không dứt. Một hôm, trong chùa tối om, bỗng thấy trên điện có tia hào quang chiếu sáng rực rỡ ở một góc, hình tựa bó đuốc. Vợ chồng mộng thấy một vị quan nhân râu tóc bạc trắng tay bế một đứa bé trai trao cho ông bà nói rằng đứa trẻ này là con thứ ba của Ngọc Hoàng, vì mắc tội đánh vỡ chén ngọc trên thiên đình nên phải giáng sinh xuống trần thế. Nay thấy nhà vợ chồng phúc dày, Hoàng Thiên đã soi xét cho đầu thai vào làm con của các ngươi. Nói đoạn vợ chồng ôm lấy đứa bé, thấy vị quan nhân bay lên trời đi mất. Lúc ông bà tỉnh dậy biết đó là giấc mộng tốt lành. Được ba hôm bà vợ biết mình có thai, từ đó ăn uống chay tịnh. Ngày 19 tháng Giêng năm Bính Dần, bà sinh một đứa bé mặt mũi khôi ngô giống y trong mộng, nước da ngăm đen tướng mạo phi thường. Cậu bé có nước da bánh mật, năm lên ba, gia đình làm lễ đặt tên là Hắc Công, cũng trong năm ấy không may bà mẹ qua đời. Hắc Công năm lên tám chẳng may trèo cây trượt ngã và hóa vào ngày 21 tháng 11. Dân làng thương xót những người chết trẻ bèn lập miếu thờ trên núi, dân lễ bái đông vì cầu sao ứng vậy. Khi Vua Lý Thánh Tông dẫn quân đi dẹp giặc Chiêm ở biên giới phương Nam, đêm nằm mộng thấy có cậu bé nước da đen xin đến phò Vua cứu nước. Khi vào trận Vua thấy có đám mây đen bao phủ bầu trời, che kín mắt quân thù. Trận đại thắng góp phần giữ yên nước Đại Việt. Vua cho là giấc mộng ứng với giấc mơ gặp thiên sứ, bèn ban cho trang Hán Xuân 100 quan tiền, xây lại miếu trên núi Sưa, phong cho vị thần là Huyền Thiên Hắc Đế là Thượng đẳng phúc thần, các nơi trong vùng hương khói thờ tự. Lễ hội Núi Sưa được tổ chức hàng năm vào ngày sinh của ngài - 19/1 âm lịch. Năm 2015, Đền Núi Sưa đã được xếp hạng là Di tích lịch sử văn hóa, kiến trúc – nghệ thuật. Nguồn Cổng thông tin điện tử quận Ba Đình , thành phố Hà Nội.

Hà Nội

5020 lượt xem

Xếp hạng : Di tích cấp quốc gia

Mở

Chùa Ngũ Xã

Chùa Ngũ Xã

Chùa Ngũ Xã tên chữ là Thần Quang tự hay Phúc Long tự nằm ở phố Ngũ Xã, quận Ba Đình, Hà Nội được dựng vào thời Hậu Lê, thế kỷ 18. Sau trận hỏa hoạn năm 1949, chùa được xây dựng lại, hoàn thành năm 1952. Chùa là nơi thờ Phật và ông tổ nghề đúc đồng Nguyễn Minh Không của làng nghề đúc đồng Ngũ Xã. Chùa Ngũ Xá gồm 2 toà nhà liền kề hình “chữ Nhị” thông với nhà tả vu giáp đài tưởng niệm liệt sĩ và lưng đình Ngũ Xã. Tiền đường ở tầng trên gồm 5 gian, gian giữa là chính điện thờ Tam bảo, hai gian hành lang dẫn vào toà thiêu hương và hậu cung có cặp tượng Hộ pháp đứng trấn, 2 gian ngoài thờ Thánh Tăng và thờ Đức Ông. Tầng trên của nhà này có 3 gian thờ, gian giữa thờ các Thánh Mẫu, gian bên trái thờ Quan Tam thánh, gian bên phải thờ sư Tổ. Điện Phật được bài trí tôn nghiêm, chính điện có pho tượng Phật A Di Đà khổng lồ, một công trình nổi tiếng về nhiều mặt. Điều đặc biệt là lượng đồng dùng để đúc tượng được lấy từ các pho tượng tôn vinh chế độ thuộc địa do chính phủ Bảo hộ dựng ở các vườn hoa trong thành phố Hà Nội. Đó là tượng toàn quyền Paul Bert ở vườn hoa Paul Bert (vườn hoa Lý Thái Tổ ngày nay), tượng Nữ thần Tự Do ở vườn hoa Cửa Nam và tượng Canh nông ở vườn hoa Robin (vườn hoa Lê Nin ngày nay). Pho tượng phật A Di Đà hiện đặt tại chùa là bức tượng Phật làm bằng đồng lâu đời nhất Việt Nam hiện còn được lưu giữ và được Trung tâm Sách kỷ lục Việt Nam xác nhận năm 2010. Ngoài ra, chùa còn lưu giữ một hương án phụ thờ Quán thế âm Bồ tát và 16 bia đá dựng từ năm 1919 đến năm 1947. Ngày 11-5-1993, chùa Ngũ Xã cùng đình Ngũ Xã đã được xếp hạng Di tích kiến trúc nghệ thuật quốc gia của Bộ trưởng Văn hoá - Thông tin. Nguồn Cổng thông tin điện tử quận Ba Đình , thành phố Hà Nội.

Hà Nội

4335 lượt xem

Xếp hạng : Di tích cấp quốc gia

Mở

Chùa Kim Mã ( Chùa Kim Sơn)

Chùa Kim Mã ( Chùa Kim Sơn)

Chùa Kim Sơn còn gọi là chùa Tàu Mã, hay Kim Mã, được xây từ thời Tây Sơn, địa chỉ số 73 phố Kim Mã, quận Ba Đình, Hà Nội. Vào thời Lý, vùng Kim Mã là pháp trường, nơi này trở thành nghĩa địa, người trong thôn Kim Mã lập ra một am nhỏ để thờ cúng. Cuối thời Lê – Trịnh, khi Nguyễn Huệ đại thắng quân Thanh năm 1789, hàng vạn thi hài binh lính Tây Sơn chết trong trận hạ thành Đông Đô cũng được an táng tại đây; am được trùng tu và mang tên đàn Vạn Linh. Đời vua Tự Đức nhà Nguyễn, năm 1881 nhân dân làng Kim Mã đã góp công sức sửa sang am và gọi là chùa Tàu Mã. Trong chính điện đã dựng các tượng Phật và chuyển đặt bài vị thờ Vạn Linh sang hai bên. Năm 1898 chùa mới đổi tên chữ là Kim Sơn Tự. Năm 1932 dân làng xây lại và mở rộng chùa, tách riêng rẽ ba tòa nhà Tam Bảo, đền thờ Mẫu và đàn tế Vạn Linh. Thời kỳ Pháp tạm chiếm Hà Nội, do cần quy hoạch lại thành phố nên năm 1952 các hài cốt trong nghĩa địa Kim Mã phải chuyển lên nghĩa trang Yên Kỳ (Sơn Tây). Năm 1972, chùa Linh Sơn ở phố Nguyễn Trường Tộ bị bom Mỹ tàn phá, toàn bộ 6 pho tượng Phật phải chuyển sang đặt ở đàn Vạn Linh và được thờ cho đến bây giờ. Năm 2011, nhà bia tưởng niệm các liệt sĩ quân Tây Sơn được xây dựng cạnh đàn Vạn Linh mé bên trái sân chùa, lưng dựa vào bức tường dài dọc phố Kim Mã. Bia và chân bia do các nghệ nhân tỉnh Bình Định thực hiện trên một phiến đá đỏ liền khối lấy từ núi non của huyện Tây Sơn. Chùa được xây dựng theo phong cách “nội công ngoại quốc” và mang đậm nét nghệ thuật cuối thời Nguyễn. Ngũ môn quan cách chùa Kim Sơn khoảng 50m được xây dựng vào năm 1953. Khu vực điện thờ chùa Kim Sơn bao gồm ba nhà ba gian xây cạnh nhau. Chính giữa là tòa Tam bảo thờ Phật, bên phải là Vạn Linh đàn, bên trái là đền thờ Mẫu. Bên trong Tam Bảo có nhiều hoành phi, câu đối và bia đá. Bức đại tự “Kim Sơn Cổ Sát” treo trước chính điện. Trong điện có 21 pho tượng Phật xếp làm 4 tầng, bên trên là 4 cửa võng chạm trổ rất cầu kỳ. Ngoài ra, tại Tam bảo có pho tượng Phật bằng đồng nguyên khối đúc liền, được coi là một tuyệt tác nghệ thuật Phật giáo cao 77cm và nặng trên 30kg. Tượng được thể hiện ở tư thế đứng thẳng với tay ấn “vô ủy” trên một cái bệ hình hộp gần vuông, đúc liền khối với tượng. Mặt trước chân bệ có khắc chìm một dòng chữ kiểu Sanskrit. Chùa Kim Sơn có một bề dày lịch sử quan trọng trong lịch sử Phật giáo nói riêng và lịch sử dân tộc nói chung, góp phần đáng kể vào việc nghiên cứu lịch sử hình thành và phát triển của kinh thành Thăng Long. Năm 1985, chùa Kim Sơn được xếp hạng Di tích lịch sử văn hóa quốc gia. Hàng năm, cứ vào mùng 5 tháng giêng âm lịch, tức ngày giỗ trận Đống Đa, chùa lập đàn chay cúng tế vong linh các chiến sĩ đã bỏ mình vì nước. Nguồn Cổng thông tin điện tử quận Ba Đình , thành phố Hà Nội.

Hà Nội

5016 lượt xem

Xếp hạng : Di tích cấp quốc gia

Mở

Chùa Hòe Nhai ( Hồng Phúc Tự)

Chùa Hòe Nhai ( Hồng Phúc Tự)

Chùa Hòe Nhai (hay còn gọi là chùa Hồng Phúc) tọa lạc tại số 19 Hàng Than, phường Nguyễn Trung Trực, quận Ba Đình, Hà Nội. Đây là ngôi chùa lớn nhất kinh đô Thăng Long xưa, tương truyền có từ đời nhà Lý. Theo văn bia năm Chính Hòa thứ 24 (năm 1703), vốn được xây dựng từ đầu thế kỷ XI, nhưng chùa Hồng Phúc đã bị chiến tranh tàn phá, mãi đến cuối thế kỷ XVII, có bà bảo mẫu của vua Lê Hy Tông quê ở phường này đứng ra xây dựng lại, rồi mời Hòa thượng Thủy Nguyệt - Vị tổ thứ nhất của phái Tào động đến trụ trì. Chùa được coi là chốn Tổ đình của Phật giáo miền Bắc nói riêng và Việt Nam nói chung kể từ thế kỷ XVII. Chùa có diện tích khoảng 3.000m2, cửa nhìn ra hướng Tây, ngoài cùng là Tam quan kiểu hoa biểu bốn trụ, đây là điển hình của kiến trúc thời Nguyễn. Trong sân chùa có hai tháp cao 3 tầng tưởng niệm các nhà sư đã viên tịch và chếch về góc trái trước chùa có tháp Ấn Quang mới xây năm 1963 để tưởng niệm Hòa thượng Thích Quảng Đức tự thiêu ở Sài Gòn nhằm tố cáo tội ác của chế độ Mỹ - Ngụy đàn áp Phật giáo. Ngôi chùa là nơi xuất thân của hai vị Quốc sư, năm vị Tăng thống và Pháp chủ. Chùa ghi dấu của đức Đệ nhất Pháp chủ Giáo hội Phật giáo Việt Nam, cố Đại lão Hòa thượng Thích Đức Nhuận. Sau Cách mạng tháng Tám năm 1945, tại nhà Tổ của chùa đã diễn ra cuộc họp của các tăng ni Phật tử thủ đô để cử một đoàn đại biểu đến yết kiến chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hòa. Đây cũng là nơi thành lập Hội Phật giáo cứu quốc và Hòa thượng Thích Đức Nhuận - Pháp chủ Hội Phật giáo Việt Nam cũng từng trụ trì tại chùa này. Ngoài ra, chùa còn nổi tiếng với nhiều tượng cổ, trong đó có pho tượng "vua cõng phật" độc nhất vô nhị về cả kiến trúc và lịch sử tạo tác. Theo các nhà nghiên cứu, nguồn gốc của bức tượng bắt nguồn từ thời vua Lê Hy Tông (1663 - 1716), vị vua thứ 10 của nhà Lê trung hưng. Năm 1678, vua thi hành chính sách chống Phật giáo rất hà khắc, khiến Phật giáo thời kỳ này rơi vào thảm cảnh. Thiền sư Chân Dung Tông Diễn, Tổ thứ hai của thiền phái Tào Động Việt Nam, thấy vậy đã dâng lên vua một chiếc hộp nói là ngọc quý, nhưng thực chất bên trong là một tờ sớ ghi lại những điều lợi cho xã hội mà Phật giáo mang lại. Tương truyền sau khi đọc xong, nhà vua chợt bừng tỉnh, lập tức cho mời nhà sư vào triều để cúi mình tạ lỗi, thu hồi lại sắc lệnh cấm Phật giáo. Có lẽ xuất phát từ câu chuyện trên mà người đời sau tạc nên bức tượng một vị quốc vương trong tư thế phủ phục, để Phật ngồi trên lưng, đặt ở chùa. Đây là pho tượng độc nhất vô nhị trong các tác phẩm điêu khắc của Phật giáo. Chùa Hoè Nhai được xếp hạng di tích cấp quốc gia vào ngày 21/1/1989. Chùa là điểm đến hấp dẫn của du khách trong và ngoài nước. Đặc biệt, vào các dịp đầu xuân năm mới, chuyên trì kinh Dược Sư, cầu bình an tới chúng sinh, ngày lễ Phật Đản, ngày rằm tháng 7 xá tội vong nhân, tại chùa có tổ chức nhiều nghi lễ Phật giáo trang trọng, linh thiêng thu hút hàng nghìn lượt khách đến lễ Phật, thăm quan và chiêm ngưỡng. Nguồn Cổng thông tin điện tử quận Ba Đình , thành phố Hà Nội .

Hà Nội

4852 lượt xem

Xếp hạng : Di tích cấp quốc gia

Mở

Chùa Châu Long

Chùa Châu Long

Chùa Châu Long tên gọi là Châu Long Tự, ở thế kỷ XIX chùa thuộc thôn Châu Long tổng An Thành - Huyện Vĩnh Thận - Phủ Hoài Đức. Nay Thuộc phố Châu Long, phường Trúc Bạch, quận Ba Đình - Hà Nội. (Địa chỉ mới số 112 phố Trấn Vũ - Trúc Bạch - Ba Đình - Hà Nội). Chùa Châu Long là cơ sở kiến trúc Phật giáo toạ lạc trên vùng đất cổ, gắn bó mật thiết với lịch sử tồn tại và phát triển của kinh thành Thăng Long. Chùa nằm trên gò đất cao trông ra hồ Trúc Bạch. Chùa có hình chữ Đinh, phía trước là tiền đường, sau là hậu cung. Trong chùa có tám cửa võng được chạm trổ tinh vi hình long, ly, quy, phượng, hoa, lá, vân mây... cũng như nhiều hoành phi, câu đối và tượng Phật. Chùa hiện có 5 gian tiền đường, 3 gian chuôi vồ, 8 bộ cửa võng chạm trổ thếp vàng, bộ tượng thờ gồm 23 pho tượng, bộ khám thờ, hoành phi, câu đối, chuông đồng đều có giá trị mỹ thuật cao. Đặc biệt hai tượng Văn Thù cưỡi sư tử xanh, tượng Phổ Hiền cưỡi voi trắng đều là những tượng đồng hiếm thấy. Ngoài ra chùa còn có tượng Thế Tôn cao hơn 3m, cốt phủ đất nện, tượng Di Lặc bằng đồng, 10 pho tượng Diêm Vương mang nét tạo tác đẹp. Bên trong chùa còn có 1 quả chuông đồng được chuyển từ chùa Vĩnh Phúc tới. Ngoài toà tam bảo thờ Phật, chùa còn có điện thờ Mẫu gồm 3 pho tượng Tam Phủ, 3 tượng Quan Hoàng, tượng Bà Chúa Thượng Ngàn, 1 tượng Sư Tổ Bồ Đề Đạt Ma và 1 tượng Phật bà Quan Âm. Ngoài ra, còn có nhà Tổ, nhà bếp, nhà tăng... Chùa được trùng tu sửa chữa nhiều lần. ở thời Nguyễn, chùa đã trùng tu lớn vào năm Mậu Thìn (1808) đời vua Gia Long; Năm Tân Sửu đời vua Thành Thái (1901) và năm Nhâm Thân đời vua Bảo Đại (1932) nhưng đến nay chùa vẫn giữ được nét cổ kính, lưu giữ được nhiều tượng cũng như đồ thờ và đồ trang trí có giá trị nghệ thuật cao như di vật kiến trúc điêu khắc đẹp gồm các trụ biểu, hệ thống cửa võng chạm thủng hình tứ linh “Long, Ly, Quy, Phượng “hoa điểu, văn mây hình học …riêng pho tượng Thích ca sơ sinh là một sáng tạo khá độc đáo. Tượng Đức Thế Tôn cũng là pho tượng cao hiếm thấy trong hệ thống tượng cùng loại ở các chùa nước ta .Chùa Châu Long như là một bảo tàng mỹ thuật cổ ở kinh thành Thăng Long phản ánh tài hoa của người nghệ nhân trong lịch sử. Chùa đã được Nhà nước xếp hạng Di tích Nghệ thuật Kiến trúc ngày 05/02/1994. Hiện nay Thượng tọa Thích Thanh Phúc - ủy viên hội đồng trị sự TW GHPGVN – phó ban Trị sự THPG Hà Nội đương kim Trụ trì . Nguồn Cổng thông tin điện tử phường Trúc Bách , quận Ba Đình , Hà Nội.

Hà Nội

4533 lượt xem

Xếp hạng : Di tích cấp quốc gia

Mở

Chùa Vô Vi

Chùa Vô Vi

Vô Vi là ngôi chùa cổ được xây dựng từ năm 968. Tuy có lịch sử tồn tại hơn 6 thế kỷ nhưng chùa Vô Vi được ít người biết đến, xung quanh ngôi chùa thường vắng lặng, thanh tịnh. Cách trung tâm Hà Nội khoảng 25 km, chùa Vô Vi nằm trên ngọn núi đá cao khoảng 300 m, bao quanh là cây cối và hồ nước. Xung quanh ngôi chùa được bao bọc bởi hàng chục cây hoa đại, cao to, sần sùi, tỏa bóng che khuất cả ngôi chùa nhỏ. Vào mùa hoa đại nở, mùi hoa vương vấn như dẫn người bước vào chốn tiêu dao lạc thú, không gian tĩnh mịch tựa hư không. Tương truyền, Vô Vi là ngôi chùa cổ được xây dựng từ năm 968. Thời Tiền Lê, chùa xây dựng ở chân núi Trạo (980-1004) có tên là Phúc Trù tự. Đến thời nhà Trần, chùa được xây ở lưng núi gọi là Trai Tinh tự. Thời Hậu Lê, niên hiệu Hồng Thuận thứ 6 (1514) chùa dời lên gần đỉnh núi như ngày nay, đổi lại tên như thời Đinh là Vô Vi tự. Chùa Vô Vi gắn liền với vị tướng Trần Văn Tăng, người xuất gia từ nhỏ. Sau khi chiến đấu dẹp thù trong giặc ngoài, ông lên núi Vô Vi dựng chùa ở ẩn. Là người thấm nhuần tư tưởng đạo Lão, ông đặt tên chùa là Vô Vi với tinh thần được biểu hiện trong bài thơ "Trùng phỏng Vô Vi tự" do chính ông sáng tác và khắc trên đá. Bước qua vòm cổng đề ba chữ Hán "Vô Vi tự", con đường nhỏ với những bậc thang xếp bằng đá tảng đưa du khách đến tiền đường, nhà mẫu, rồi chính điện. Chỉ khoảng vài trăm bậc nhưng lối lên Vô Vi tự không quá dễ dàng, càng lên cao càng hẹp và dốc hơn. Không giống những ngôi chùa quy mô hoành tráng thường thấy, Vô Vi tự rộng hơn 10m2, thiết kế không tuân theo quy luật thông thường hình chữ Đinh hay Nội công ngoại quốc, mà chỉ khiêm tốn với một gian duy nhất, mái lợp ngói mũi hài cùng các cột, xà nhỏ bằng gỗ và đá đơn giản. Trong chùa chỉ có ban Tam bảo với tượng Phật, thánh. Hai bên là hai vị Hộ pháp uy nghiêm. Phía bên hông của nhà thờ tổ là một lối đi nhỏ cheo leo, men theo núi. Không gian phía sau mở ra một căn lầu nhỏ được thiết kế mái cong, gạch ngói, nhiều cột trụ, giống như một nơi thiền tịnh của các vị sư. Ngay bên cạnh là núi Vô Vi với lầu Nghênh Phong ở trên đỉnh, nơi đây còn treo một quả chuông nhỏ được đúc từ năm 1814. Sát bên hông chùa là lối đi nhỏ chỉ vừa một người qua, dẫn tới lầu Nghênh Phong. Từ trên nhìn xuống, các lớp mái khéo léo xen kẽ nhau như sợi dây liên kết giữa chùa Vô Vi và lầu gác này bao thế kỷ qua. Điểm đặc biệt của lầu Nghênh Phong là trên chóp mái có hình tượng âm dương Lạc Việt bên trong vòng bát quái. Hình tượng này được vẽ trên hai nửa viên gạch hồng ghép lại để từ điểm trung tâm này, các xà, cột, kèo theo đó tỏa xuống theo quy luật kiến trúc nghiêm khắc. Hình tượng âm dương Lạc Việt là niềm tự hào về bản sắc văn hóa của người Việt, một họa tiết nhỏ nhưng đủ sức khẳng định về tính dân tộc, sự độc lập của văn hóa Việt, không thể trộn lẫn với bất cứ nền văn hóa khác. Từ lầu Nghênh Phong, muốn lên tới đỉnh cao nhất của ngọn núi Vô Vi, du khách phải leo khoảng hai chục bậc đá dựng đứng, chui qua kẽ đá hẹp để lên tới đỉnh. Xung quanh núi Vô Vi là khung cảnh làng quê yên bình. Giữa thinh không, tiếng chuông chùa bỗng ngân lên khiến lòng người trùng lại và ngẫm về triết lý "vô vi" mà vị đạo sĩ đã đặt tên cho ngôi chùa. Nguồn Cổng thông tin điện tử huyện Chương Mỹ , thành phố Hà Nội.

Hà Nội

4550 lượt xem

Xếp hạng : Di tích cấp quốc gia

Mở

Chùa Trầm

Chùa Trầm

Chùa Trầm tọa lạc trên núi Trầm hay còn gọi là Tử Trầm Sơn thuộc xã Phụng Châu, huyện Chương Mỹ (Hà Nội). Chùa Trầm có lịch sử lâu đời, do Tướng quân Trần Văn Tăng khởi dựng từ khoảng năm 1515 của thế kỷ 16. Chùa Trầm cũng vinh dự được đón Bác Hồ 3 lần về thăm. Quần thể di tích chùa Trầm là nơi cách đây hơn 77 năm về trước Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đọc lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến với câu nói đã trở thành lời thiêng sông núi: “Chúng ta thà hy sinh tất cả chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ”. Hơn ba phần tư thế kỷ đã trôi qua kể từ sau ngày Chủ tịch Hồ Chí Minh ra lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến ngày 19/12/1946, di tích lịch sử hang Trầm vẫn được bảo vệ và gìn giữ nguyên vẹn. Nơi đây đã ba lần được đón Chủ tịch Hồ Chí Minh, trong đó có hai lần Bác ra lời kêu gọi kháng chiến trong hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ của dân tộc ta. Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến năm 1946, để chuẩn bị cho công cuộc kháng chiến chống Pháp trường kỳ, trong đó nhiệm vụ đặc biệt quan trọng là liên tục giữ sóng quốc gia, nhằm chuyển tải đầy đủ và kịp thời các chủ trương, đường lối lãnh đạo của Chủ tịch Hồ Chí Minh, của Đảng và Nhà nước tại thời điểm đó đến với nhân dân, theo chỉ đạo của Trung ương Đảng, Đài Tiếng nói Việt Nam đã chọn hang Trầm là nơi làm việc từ cuối năm 1946 đến đầu năm 1947. Tại hang Trầm, ngày 19/12/1946, qua làn sóng Đài Tiếng nói Việt Nam Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đọc lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến với câu nói bất hủ: “Chúng ta thà hy sinh tất cả chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ”. Câu nói ấy đã ngân vang đến mọi miền tổ quốc và đi vào tâm thức của hơn 30 triệu người dân Việt Nam (lúc đó) như một lời hiệu triệu. Ngay sau lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến của Bác, ngày 20/12/1946, quân và dân Thủ đô Hà Nội đã nổ những tiếng súng đầu tiên tấn công thực dân Pháp trở lại xâm lược nước ta. Cũng tại đây, vào thời khắc Giao thừa Tết Đinh Hợi năm 1947, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đọc thơ chúc Tết đồng bào, chiến sĩ cả nước và kiều bào ta ở nước ngoài qua Đài Tiếng nói Việt Nam Tại cửa hang Trầm hiện vẫn còn cột phát sóng ghi dấu thời kỳ hoạt động của Đài Tiếng nói Việt Nam, cũng là mốc lịch sử quan trọng trong công cuộc đấu tranh giành độc lập của dân tộc Việt Nam. Lời kêu gọi kháng chiến chống Mỹ cứu nước năm 1966, khi cuộc chiến tranh chống Mỹ bước vào thời điểm khó khăn ác liệt nhất, ngày 3/7/1966, một lần nữa hang Trầm lại được đón Bác về viết Lời kêu gọi kháng chiến chống Mỹ cứu nước, chuẩn bị cho Hội nghị chính trị đặc biệt của Trung ương Đảng với tuyên ngôn bất hủ “Không có gì quý hơn độc lập tự do”. Trong thời gian làm việc tại đây, trên vách đá của hang Trầm, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã viết những câu đối bằng chữ Hán ca ngợi cảnh đẹp của núi Trầm. Bác căn dặn cấp ủy, chính quyền địa phương làm những công trình phúc lợi để phục vụ đời sống của nhân dân cũng như phục vụ cho công cuộc kháng chiến lâu dài. Với ý nghĩa lịch sử đặc biệt quan trọng, năm 1962 quần thể di tích chùa Trầm, trong đó có hang Trầm đã được công nhận Di tích lịch sử cấp Quốc gia. Chùa Trầm và hang Trầm ngày nay được đông đảo người dân trong cả nước lựa chọn là điểm du xuân đầu năm mới bởi ngoài yếu tố tâm linh thì nơi đây còn mang giá trị rất lớn của lịch sử trong hai cuộc kháng chiến giành độc lập của dân tộc Việt Nam. Nguồn Cổng thông tin điện tử huyện Chương Mỹ , thành phố Hà Nội.

Hà Nội

4736 lượt xem

Xếp hạng : Di tích cấp quốc gia

Mở