Di tích lịch sử
Việt NamNhà tưởng niệm Anh hùng liệt sĩ Bế Văn Đàn
Nhà tưởng niệm Anh hùng liệt sĩ Bế Văn Đàn – Địa chỉ đỏ trên quê hương cách mạng Cao Bằng Nhà tưởng niệm Anh hùng liệt sĩ Bế Văn Đàn nằm tại xóm Bản Buống, xã Triệu Ẩu, tỉnh Cao Bằng, trên chính nền ngôi nhà nơi người anh hùng sinh ra và lớn lên. Đây là công trình có ý nghĩa đặc biệt, được xây dựng nhằm tưởng nhớ và tri ân Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân Bế Văn Đàn – người con ưu tú của dân tộc Tày, đã anh dũng hy sinh trong Chiến dịch Điện Biên Phủ. Bế Văn Đàn sinh năm 1931 trong một gia đình nghèo, nhập ngũ năm 1949 và tham gia nhiều chiến dịch lớn. Trong trận chiến tại Mường Pồn năm 1954, khi đồng đội không có điểm tựa để sử dụng khẩu trung liên, ông đã dũng cảm lấy vai mình làm giá súng, động viên đồng đội tiếp tục chiến đấu. Hành động quả cảm ấy đã góp phần đẩy lùi đợt phản kích của quân địch, trước khi ông anh dũng hy sinh. Với chiến công đặc biệt xuất sắc, Bế Văn Đàn được Nhà nước truy tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân. Nhà tưởng niệm được xây dựng theo kiến trúc nhà sàn truyền thống của đồng bào Tày, hài hòa với cảnh quan núi rừng Cao Bằng. Bên trong là không gian thờ tự trang nghiêm với bàn thờ, ảnh chân dung và các tư liệu, hiện vật giới thiệu về cuộc đời, sự nghiệp và tấm gương chiến đấu anh dũng của Anh hùng liệt sĩ Bế Văn Đàn. Khuôn viên rộng rãi, xanh mát tạo nên không gian trang nghiêm, là nơi để nhân dân và du khách dâng hương tưởng niệm. Ngày nay, Nhà tưởng niệm Anh hùng liệt sĩ Bế Văn Đàn không chỉ là nơi tri ân người anh hùng dân tộc mà còn là một "địa chỉ đỏ" giáo dục truyền thống yêu nước, lòng biết ơn và tinh thần cách mạng cho các thế hệ. Đây là điểm đến có ý nghĩa lịch sử, góp phần gìn giữ ký ức hào hùng của dân tộc và lan tỏa những giá trị tốt đẹp về lòng dũng cảm, sự hy sinh vì độc lập, tự do của Tổ quốc. Theo báo Cao Bằng điện tử
Cao Bằng
134 lượt xem
Xếp hạng : Di tích cấp tỉnh
Khu di tích lịch sử Nặm Lìn
Khu di tích lịch sử Nặm Lìn, thuộc xã Hoàng Tung, tỉnh Cao Bằng, là một trong những "địa chỉ đỏ" tiêu biểu của cách mạng Việt Nam. Đây là nơi ghi dấu sự kiện thành lập Chi bộ Đảng Cộng sản đầu tiên của tỉnh Cao Bằng vào ngày 1 tháng 4 năm 1930, đánh dấu bước ngoặt quan trọng trong lịch sử cách mạng của địa phương. Với ý nghĩa to lớn về lịch sử và giáo dục truyền thống, Nặm Lìn đã trở thành điểm đến không thể bỏ qua đối với những ai muốn tìm hiểu về cội nguồn cách mạng của vùng đất Cao Bằng. Cách đây hơn 90 năm, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam và sự chỉ đạo trực tiếp của đồng chí Hoàng Đình Giong, Chi bộ Đảng Cộng sản đầu tiên của tỉnh Cao Bằng được thành lập tại Nặm Lìn với ba đảng viên: Hoàng Văn Nọn, Lê Đoàn Chu và Nông Văn Đô. Đồng chí Hoàng Văn Nọn được bầu làm Bí thư Chi bộ. Từ đây, phong trào cách mạng ở Cao Bằng được tổ chức và phát triển mạnh mẽ, góp phần quan trọng vào sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc. Để ghi nhận giá trị lịch sử đặc biệt của địa điểm này, ngày 13 tháng 2 năm 1995, Bộ Văn hóa – Thông tin đã công nhận Nặm Lìn là Di tích lịch sử cấp quốc gia. Ngày nay, khu di tích được bảo tồn và tôn tạo khang trang, trở thành nơi lưu giữ những tư liệu, hình ảnh và dấu ấn về sự ra đời của tổ chức Đảng đầu tiên tại Cao Bằng. Không gian di tích mang vẻ trang nghiêm, yên tĩnh, hài hòa với cảnh quan thiên nhiên của vùng trung du, tạo điều kiện thuận lợi cho các hoạt động tham quan, tìm hiểu lịch sử. Đến với Khu di tích lịch sử Nặm Lìn, du khách không chỉ được nghe giới thiệu về quá trình hình thành Chi bộ Đảng đầu tiên của tỉnh mà còn có cơ hội hiểu rõ hơn về truyền thống yêu nước, tinh thần đoàn kết và ý chí đấu tranh kiên cường của nhân dân các dân tộc Cao Bằng. Đây là nơi thường xuyên diễn ra các hoạt động về nguồn, dâng hương, sinh hoạt chuyên đề, kết nạp đảng viên, đoàn viên và các chương trình giáo dục truyền thống dành cho học sinh, sinh viên, cán bộ và lực lượng vũ trang. Theo báo Cao Bằng điện tử
Cao Bằng
563 lượt xem
Xếp hạng : Di tích cấp quốc gia
Đền thờ Tô Thị Hoạn
Đền thờ Tô Thị Hoạn Nằm tại xóm Đồng Tâm, xã Lý Quốc, tỉnh Cao Bằng, Đền thờ Tô Thị Hoạn là một điểm đến mang đậm giá trị lịch sử, văn hóa và tâm linh. Với khung cảnh yên bình dưới chân núi Xuân Sơn cùng kiến trúc truyền thống đặc sắc, ngôi đền không chỉ là nơi nhân dân địa phương gửi gắm niềm tin tín ngưỡng mà còn là điểm tham quan hấp dẫn đối với du khách khi đến với vùng đất biên cương Cao Bằng. Đền được xây dựng để thờ bà Tô Thị Hoạn (Tô Thị Huệ), một nhân vật gắn liền với truyền thuyết về lòng thủy chung của người phụ nữ Việt Nam. Sau khi bà qua đời, nhân dân đã lập đền thờ để tưởng nhớ và tri ân đức hạnh của bà. Trải qua nhiều thế kỷ, ngôi đền luôn được người dân gìn giữ, trở thành nơi sinh hoạt văn hóa, tín ngưỡng và là biểu tượng cho truyền thống "uống nước nhớ nguồn" của cộng đồng địa phương. Năm 2011, Đền thờ Tô Thị Hoạn được UBND tỉnh Cao Bằng xếp hạng là Di tích lịch sử – văn hóa cấp tỉnh. Trước sự xuống cấp của công trình theo thời gian, năm 2025 địa phương đã triển khai dự án tu bổ, phục hồi với tổng kinh phí 6 tỷ đồng. Sau quá trình tôn tạo, ngôi đền được xây dựng khang trang theo kiến trúc truyền thống gồm ba gian, mái lợp ngói âm dương, sân chính điện, bậc lên đền và hệ thống tường kè kiên cố. Nội thất bên trong được bài trí trang nghiêm với hoành phi, câu đối, cửa võng, tượng thờ, sập thờ và các đồ thờ bằng gốm, đá, tạo nên không gian linh thiêng, cổ kính. Đến với Đền thờ Tô Thị Hoạn, du khách không chỉ được chiêm ngưỡng vẻ đẹp của một công trình kiến trúc truyền thống mà còn có cơ hội tìm hiểu về lịch sử, văn hóa và tín ngưỡng của người dân địa phương. Không gian thanh tịnh, hòa quyện với cảnh quan núi rừng xanh mát tạo cảm giác yên bình, thích hợp cho những chuyến tham quan, dâng hương và khám phá văn hóa bản địa. Theo báo điện tử Cao Bằng
Cao Bằng
620 lượt xem
Xếp hạng : Di tích cấp tỉnh
Chùa Sùng Phúc
Chùa Sùng Phúc Tọa lạc tại thị trấn Thanh Nhật, huyện Hạ Lang, tỉnh Cao Bằng, Chùa Sùng Phúc là một trong những ngôi chùa cổ nổi tiếng của vùng Đông Bắc, có lịch sử hơn 700 năm. Chùa được xây dựng từ thời vua Trần Nhân Tông với tên gọi ban đầu là Sùng Khánh, nhằm phát triển Phật giáo và khẳng định chủ quyền vùng biên sau chiến thắng chống quân Nguyên – Mông. Đến năm 1782, chùa được trùng tu, di dời về vị trí hiện nay và đổi tên thành Sùng Phúc. Chùa mang đậm kiến trúc thời Lê với chính điện hình chữ Nhị, mái lợp ngói truyền thống và khuôn viên cổ kính. Không chỉ là nơi thờ Phật Quan Âm, chùa còn thờ Nghĩa Thành Vương Nguyễn Đình Bá – người có công khai phá, bảo vệ vùng biên giới Cao Bằng, và gắn với Nguyễn Thị Duệ, nữ tiến sĩ đầu tiên của Việt Nam, người từng tu hành và giảng dạy tại đây. Di tích hiện còn lưu giữ nhiều hiện vật quý như bia đá, sắc phong triều Nguyễn và nhiều tư liệu lịch sử có giá trị. Hằng năm, từ ngày 14 đến 16 tháng Giêng âm lịch, lễ hội Chùa Sùng Phúc được tổ chức với các nghi lễ dâng hương, rước Phật cùng nhiều hoạt động văn hóa dân gian đặc sắc, thu hút đông đảo nhân dân và du khách. Với những giá trị nổi bật về lịch sử, kiến trúc và tín ngưỡng, Chùa Sùng Phúc đã được Bộ Văn hóa – Thông tin xếp hạng Di tích lịch sử – văn hóa cấp Quốc gia vào ngày 29/1/1993. Ngày nay, ngôi chùa không chỉ là điểm đến tâm linh nổi tiếng của Cao Bằng mà còn là biểu tượng của truyền thống yêu nước, tinh thần hiếu học và bản sắc văn hóa vùng biên cương. Nguồn: Tạp chí Nghiên cứu Phật học (tổng hợp)
Cao Bằng
580 lượt xem
Xếp hạng : Di tích cấp quốc gia
Di Tích Lịch Sử Cách Mạng Đông Bó Lình
Di tích lịch sử cách mạng Đông Bó Lình Ngày 08/3/1932 đồng chí Dương Công Hoạt thay mặt Ban chấp hành Đảng bộ tỉnh Cao Bằng đã giới thiệu và kết nạp các đồng chí vào Đảng Cộng sản Việt Nam: 1. Đồng chí Ma Kiên Kiện (Tức Ma Trung Lâm) sinh năm 1914, dân tộc Tày 2. Đồng chí Ma Kiên Mới (Tức Hồng Hải) sinh năm 1917, dân tộc Tày 3. Đồng chí Ma Kiên Hoạch (Tức Hồng Chi) sinh năm 1914, dân tộc Tày 4. Đồng chí Ma Kiên Tích (Tức Hồng Lạc) sinh năm 1914, dân tộc Tày Chi bộ Cốc Coóc là chi bộ Liên châu Quảng Uyên - Phục Hoà đồng thời là chi bộ Đảng cộng sản đầu tiên ở miền đông tỉnh Cao Bằng, được BCH Đảng bộ tỉnh Cao Bằng chính thức công nhận; đồng chí Ma Trung Lâm được bầu làm Bí thư chi bộ. Nhiệm vụ đầu tiên của chi bộ Cốc Coóc đã thực hiện ngay những nhiệm vụ mà Chi bộ Hải Ngoại Long Châu (Trung Quốc ) và chi bộ Nặm Lìn đang thực hiện đó là: Bí mật chuyển sách báo, tài liệu, đưa đón các chiến sĩ hoạt động cách mạng, học tập giữa các vùng, tích cực phát triển đảng, đẩy mạnh phong trào chống thuế, chống phụ phu, lạm bổ, chống bắt phu ngày mùa, đi phu phải được tiền, gạo. Di tích lịch sử cách mạng Đông Bó Lình được xây dựng từ ngày 07/3/2012, hoàn thành ngày 19/5/2013. Quyết định số 2917/Quyết Định -Uỷ Ban Nhân Dân ngày 11/11/2005 của Ủy ban nhân dân tỉnh công nhận Đông Bó Lình là Di tích lịch sử cách mạng – nơi thành lập chi bộ Đảng cộng sản đầu tiên của Liên châu Quảng Uyên – Phục Hòa (nay là huyện Quảng Hòa) ngày 08/3/1932. Nguồn Cổng thông tin điện tử huyện Quảng Uyên , tỉnh Cao Bằng .
Cao Bằng
6007 lượt xem
Xếp hạng : Di tích cấp tỉnh
Miếu Quan Đế
Tại xã Ngọc Động (Quảng Uyên) có miếu Quan Đế đã được Uỷ ban nhân dân tỉnh công nhận Di tích lịch sử - văn hóa cấp tỉnh. Ngôi miếu có ý nghĩa và gắn bó với từng giai đoạn lịch sử thăng trầm ở vùng đất này. Miếu Quan Đế được xây dựng tại đầu chợ Đống Đa, xã Ngọc Động thờ nhân vật Quan Vân Trường, một vị tướng thời Tam Quốc (Trung Quốc). Theo quan niệm của người Việt, thờ Quan Công là do cảm phục và ngưỡng mộ tài đức của ông. Tại Cao Bằng hiện nay có nhiều miếu, đền thờ Quan Công ở các huyện: Bảo Lạc, Trà Lĩnh, Trùng Khánh… và miếu Quan Đế tại xã Ngọc Động. Theo kết quả khảo sát của Bảo tàng tỉnh, miếu có thể được xây dựng vào năm Tự Đức thứ 36 (tức năm 1882) dựa vào niên đại được ghi trên bức đại tự trong miếu và hoa văn trang trí một số mảng kiến trúc còn lại của miếu. Nhìn tổng thể, ngôi miếu có một gian nhà diện tích trên 40 m2, bên cạnh miếu có một gian nhỏ thờ thổ địa. Tổng diện tích 2 gian trên 57 m2 đều được xây dựng theo kiểu nhà trình tường. Vật liệu chính tạo nên những bức tường trình vững chắc là loại đất sét đỏ mịn kết hợp với vôi và mật mía được nhào thật kỹ tạo nên hỗn hợp có độ kết dính cao, lớp tường dày 30 đến 35 cm. Hệ thống mái lợp ngói máng, kếu cấu vì kèo bằng gỗ. Hệ thống bệ thờ, tượng thờ trong miếu, gồm: Bệ thờ ngoài được xây dựng bằng gạch cao 73 cm, dài 2,2 m dùng để đựng bát hương, nến và đồ cúng khác. Bệ thờ trong cao 62 cm, dài 1,8 m, rộng 1,4 m có 4 bức tượng: Tượng trong cùng là tượng Quan Công cao 120 cm mặc áo vàng, đội mũ cánh chuồn màu đỏ, râu đen dài, đang trong tư thế ngồi; hai tượng binh sỹ hai bên cao 50 cm, tượng bên phải mặc áo đỏ nhạt tay cầm đao, tượng bên trái mặc áo vàng tay cầm lao, 2 tượng đều trong tư thế đứng; 1 tượng phụ giúp việc Quan Công cao 57 cm mặc áo xanh trong tư thế ngồi. Các tượng đều được tạo tác thủ công bằng chất liệu đất sét, trát xi măng, phủ màu bên ngoài. Trong miếu còn có nhiều hoành phi, câu đối bằng chữ Hán, ngoài miếu có bia đá ghi lại ân đức vị thần được thờ trong miếu. Ông La Văn Quỳnh đã sinh sống nhiều đời giáp phía Tây miếu chia sẻ: Hằng năm tại miếu có tổ chức những ngày lễ trong năm, như: Ngày 2/2 làm lễ cúng thần; ngày Thanh Minh; ngày 13/5 giỗ Quan Công; ngày 2/8 kỷ niệm ngày sửa miếu… nhằm cầu may, cầu phúc và an lành cho nhân dân. Vào những ngày lễ, mọi người dân trong vùng góp tiền, gạo mua lễ vật mang đến miếu. Để chuẩn bị cho mỗi dịp lễ người dân phân thành tổ, nhóm luân phiên nhau đứng ra chuẩn bị mâm lễ, gồm: 1 con lợn, xôi, gà, hoa quả, bánh kẹo… Phần lễ do các cụ cao tuổi tiến hành. Chỉ riêng ngày lễ mùng 2/2 có mời thầy cúng đến làm lễ. Sau khi tiến hành phần lễ mọi người cùng nhau tổ chức ăn chung và khi ra về có phần lộc chia cho các gia đình. Ngoài những ngày lễ chính trong năm, vào ngày mùng 1, ngày Rằm hằng tháng hoặc khi trong nhà có việc lớn người dân trong vùng vẫn đến thắp hương, cầu an lành, tài phúc. Tháng 4 năm 2018, miếu được Uỷ ban nhân dân tỉnh công nhận là Di tích lịch sử - văn hóa cấp tỉnh. Nhưng do trải qua thời gian dài, ảnh hưởng của nhiều yếu tố: thời tiết, khí hậu, con người…, miếu Quan Đế không còn giữ được hiện trạng như ban đầu. Các di vật trong di tích, như: trống, chuông… đã bị mất năm 1978, hệ thống tượng cũ bị phá năm 1979. Mặt khác, do nền miếu thấp hơn so với mặt đường 20 cm nên ẩm thấp dẫn đến hệ thống tường, mái, kèo… đều đang trong tình trạng xuống cấp nên rất cần được tu sửa. Theo lãnh đạo xã Ngọc Động, từ đầu năm 2019 bà con trong khu vực miếu đã tự nguyện quyên góp tiền và sẽ tiến hành tu sửa, tiếp tục bảo tồn, gìn giữ và phát huy giá trị Di tích lịch sử - văn hóa miếu Quan Đế hiệu quả. Nguồn Cổng thông tin điện tử tỉnh Cao Bằng
Cao Bằng
6436 lượt xem
Xếp hạng : Di tích cấp tỉnh
Miếu Bách Linh.
Miếu Bách Linh (người dân địa phương còn gọi là chùa Bách Linh) tọa lạc tại Phố Cũ, thị trấn Quảng Uyên (Quảng Hòa). Miếu thờ 100 điều linh thiêng nhất của nhiều loại vật, trong đó đứng đầu là rồng - một con vật thần linh với sức mạnh thần kỳ, biểu tượng của sự cao sang huyền bí nhả ngọc, phun châu, đứng đầu tứ linh Long, Ly, Quy, Phụng. Con rồng ở miếu được thần thánh hóa tới mức siêu phàm, cùng với những điều linh quý trở thành giá trị tinh thần vô giá, niềm tin, ngưỡng vọng cầu được ước thấy của nhân dân địa phương khi đến cầu bái. Tới nay, các nhà nghiên cứu xã hội nhân văn vẫn chưa xác định được ngôi miếu được khởi dựng từ bao giờ, chỉ biết là đã xuất hiện từ rất lâu và hằn sâu trong ký ức dân gian, gắn với Lễ hội Pháo hoa được tổ chức dịp đầu xuân hằng năm. Thực trạng của miếu Bách Linh khá tương trùng với các đền, chùa, miếu trên địa bàn tỉnh là trải qua quá trình lịch sử thăng trầm của các triều đại nên có sự đổi thay, không còn nguyên vẹn như ban đầu. Tương truyền rằng, kiến trúc miếu gồm 3 phần: tam quan, tiền đường, hậu cung mang dáng dấp kiến trúc thời nhà Nguyễn. Phần tam quan của ngôi miếu được xây dựng bằng vật liệu gạch, có 3 cửa theo kiểu vòng cuốn nhưng vì nguyên do nào đó mà cửa nhỏ hai bên đã bị bịt lại, chỉ còn cửa chính giữa. Trên các cột cổng tam quan đều có hoành phi, câu đối hiện đã bị mờ, không đọc được. Giữa cổng chính chỉ còn dòng chữ “Bách Linh miếu” và trên đó có đắp nổi hình rồng uốn lượn sinh động. Bước qua tam quan là đến tiền đường. Kết nối giữa tam quan và tiền đường là một khoảng sân khá rộng (nay được láng xi măng), có tường đá bao quanh sân cao khoảng 1,5 m. Tiền đường có nền cao hơn mặt sân 0,65 m, cột, kèo bằng gỗ; mái, hiên lợp bằng ngói máng và có bức trạm trổ rồng ngậm ngọc, đầu rồng với những nét hoa văn tinh xảo cách điệu. Chính giữa tiền đường là cửa bằng gỗ rộng 1,6 m, cao 2,2 m; trong tiền đường có 3 bệ thờ. Miếu Bách Linh gắn liền với Lễ hội Pháo hoa ở thị trấn Quảng Uyên tổ chức vào ngày 2/2 âm lịch hằng năm. Trước khi vào phần hội là phần lễ được tổ chức từ chiều 30 tháng Giêng âm lịch. Mở đầu là Lễ khai quang tại mỏ nước Cốc Chủ gần miếu Bách Linh, chủ lễ là một cụ già cao tuổi có uy tín trong cộng đồng, gia đình, dòng tộc vượng con cháu. Chiều 1/2 âm lịch, Ban Tổ chức lễ hội và người dân đến miếu Bách Linh dâng lễ cúng, vọng bái, cầu khấn thần linh phù hộ cho mọi nhà, mọi người năm mới làm ăn phát đạt, thịnh vượng. Sáng 2/2 làm lễ rước thần, gồm 4 kiệu theo thứ tự: kiệu rước ảnh Bác Hồ, kiệu thần địa phương, kiệu pháo hoa, kiệu con lợn quay, sau cùng là đoàn rước rồng. Lễ rước xuất phát từ miếu Bách Linh đến Đền thờ Nùng Trí Cao, Đền thờ Trần Hưng Đạo rồi đi qua các ngõ phố, từng gia đình, cơ quan, trường học, cơ sở sản xuất, kinh doanh. Đây được xem như thần linh vi hành, kiểm tra, quan sát nhân dân làm ăn và mang lộc cùng niềm vui may mắn đến cho họ. Vì vậy, đoàn rước đi đến đâu đều được mọi người trân trọng đón tiếp nồng nhiệt trong niềm vui hân hoan, phấn khởi. Phần hội được tổ chức vào chiều 2/2 âm lịch với nhiều trò chơi dân gian múa rồng, múa kỳ lân, tung còn, hát sli, lượn giao duyên, võ dân tộc, cờ tướng, kéo co, đẩy gậy, bóng chuyền, bóng đá… cuốn hút người dân tham gia. Đặc biệt trò chơi dân gian tranh đầu pháo là sôi nổi nhất, đây là trò chơi thể hiện sức mạnh thể chất cường tráng và rèn luyện bản lĩnh, quyết đoán, nhanh nhẹn, năng động, tinh thần thượng võ, hào hiệp của thanh niên. Ban Tổ chức lễ hội tập hợp các đội thanh niên thành hình vòng tròn vây quanh khu vực trung tâm sân chơi, ai giành được vòng lộc ở đầu pháo thì cả năm sẽ phát tài lộc, bình an, may mắn. Phần thưởng là con lợn quay lá mác mật cho cả đội chơi và chiếc thủ lợn hoàn toàn thuộc về chủ nhân vòng lộc. Ngày hôm đó, ở đâu cũng gặp bà con đồ xôi ngũ sắc và thịt lợn quay, đặc sản ở lễ hội và các loại bánh kẹo, đồ ăn, thức uống bản địa. Miếu Bách Linh còn là nơi làm kho lương thực, vũ khí, lớp học trong 2 cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và chống đế quốc Mỹ xâm lược. Cùng với những giá trị về tập quán, tín ngưỡng, tâm linh mang đậm bản sắc văn hóa dân tộc, miếu được Uỷ ban nhân dân tỉnh công nhận xếp hạng di tích cấp tỉnh theo Quyết định số 2856/Quyết định -Uỷ Ban ngày 2/12/2003. Nguồn Cổng thông tin điện tử tỉnh Cao Bằng.
Cao Bằng
6596 lượt xem
Xếp hạng : Di tích cấp tỉnh
Khu di tích lịch sử Đồn Đồng Mu
Là di tích lịch sử quan trọng của cách mạng Việt Nam. Nơi đây diễn ra trận đánh của Đội Việt Nam Tuyên truyền giải phóng quân đêm ngày 4 tháng 2, rạng sáng 5/2/1945. Để đánh đồn, tiêu diệt quân địch, đồng chí Xuân Trường (tên thật là Hoàng Văn Nhủng) đã anh dũng hy sinh, là liệt sỹ đầu tiên của Quân đội nhân dân Việt Nam. Hơn 70 năm qua, di tích lịch sử đồn Đồng Mu luôn là chứng tích quan trọng, là dấu ấn lịch sử cách mạng của địa phương và dân tộc. Trước Cách mạng Tháng Tám năm 1945, thực dân Pháp cho xây dựng đồn tại Đồng Mu khá kiên cố, Đồn Đồng Mu nằm trên gò nổi lên giữa cánh đồng của hai xóm Nà Đoỏng và Bản Thán thuộc xã Ân Quang nay là xã Xuân Trường, huyện Bảo Lạc. Theo hồi ký của Đại tướng Võ Nguyên Giáp: “So với đồn Phai Khắt và Nà Ngần, đồn Đồng Mu “rắn” hơn nhiều cả về công sự và hỏa lực. Đồn đóng trên một quả đồi, được xây bằng đá và tường trình dày, có nhiều lô cốt, tường trình và bằng đá dày với lỗ châu mai”… Từ đồn này, quân địch ngăn chặn, đàn áp phong trào cách mạng và truy lùng, bắt bớ cán bộ cách mạng. Vì ở gần biên giới Việt - Trung, thường phải đối phó với bọn thổ phỉ, nên địch xây dựng hệ thống phòng thủ khá vững chắc. Đêm mùng 4, rạng sáng ngày 5/12/1945, Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân sau khi giành thắng lợi ở đồn Phai Khắt, Nà Ngần đã tiến quân về tấn công, tiêu diệt đồn Đồng Mu. Lợi dụng đêm tối, Đội Việt nam tuyên truyền giải phóng quân đã bí mật đột nhập. Trận đánh diễn ra ác liệt từ 11 giờ đêm mùng 4 đến 3 giờ sáng ngày 5/2/1945. Đội quan ta đã tiêu diệt nhiều tên địch, thu 5 khẩu súng và một số đạn dược khác. Đồng chí tiểu đội trưởng Hoàng Văn Nhủng bí danh Xuân Trường, dân tộc Tày, quê ở xã Sóc Hà, huyện Hà Quảng đã anh dũng chiến đấu và hy sinh. Năm 1958, bí danh Xuân Trường đã được đặt tên cho xã Ân Quang để tỏ lòng biết ơn và ghi nhớ công lao của đồng chí đối với lịch sử đấu tranh cách mạng của Đảng bộ, nhân dân các dân tộc huyện Bảo Lạc nói chung và xã Xuân Trường nói riêng. Đồn Đồng Mu trở thành địa chỉ đỏ của xã Xuân Trường cũng như huyện Bảo Lạc. Di tích đồn Đồng Mu đã được Bộ Văn hoá – Thông tin nay là Bộ Văn hoá - Thể thao và Du lịch xếp hạng Di tích lịch sử Quốc gia năm 1995. Trong những năm qua có rất nhiều đoàn đến tham và tìm hiểu lịch sử của đồn Đồng Mu, bày tỏ lòng khâm phục ý chí chiến đấu của quân và dân ta. Nguồn Cổng thông tin điện tử huyện Bảo Lạc , tỉnh Cao Bằng .
Cao Bằng
6321 lượt xem
Xếp hạng : Di tích cấp quốc gia
Đền Quan Thánh
Di tích lịch sử văn hóa cấp tỉnh đền Quan Thánh tọa lạc dưới chân núi Phja Phủ, tổ 2, thị trấn Trùng Khánh (Trùng Khánh). Di tích gắn với lễ hội đền Quan Thánh (hay còn gọi là lễ hội phố Co Sầu) được tổ chức hằng năm vào ngày 15 tháng 2 âm lịch. Đền Quan Thánh khởi nguyên thờ thần núi Phja Phủ với quan niệm cầu mong thần linh che chở, bảo vệ cho nhân dân trước thiên tai. Hiện nay, trên vách núi Phja Phủ sau đền còn khắc dòng chữ Hán được phiên âm “Quan Sơn vệ dân” (tạm dịch là núi bảo vệ nhân dân). Theo lịch sử ghi lại, năm 1868, Ngô Côn - giặc “cờ vàng” từ bên kia biên giới tràn sang cướp phá, giết hại dân lành ở vùng Cao Bằng, Lạng Sơn, Tuyên Quang, trong đó có khu vực Trùng Khánh. Để đối phó với bọn giặc, nhiều thanh niên trai tráng có sức khỏe trong vùng tập hợp lại, chọn miếu Phja Phủ làm nơi tập luyện ra quân. Tương truyền, vào một đêm có một quả cầu lửa to bay qua phố Co Sầu và rơi xuống trước cửa miếu Phja Phủ đúng vào dịp các tráng sĩ đi dẹp giặc “cờ vàng” chiến thắng trở về. Nhân dân thấy vậy cho rằng miếu linh thiêng nên cùng nhau đóng góp công sức, tiền của sửa sang lại miếu thờ để ghi nhớ công lao của các tráng sĩ anh dũng chiến đấu chống lại giặc. Đồng thời, đưa tượng Quan Vân Trường (Quan Vũ, Quan Công), một vị tướng thời kỳ Đông Hán vào thời Tam Quốc có công lớn trong việc thành lập nhà Thục Hán vào thờ. Theo quan niệm người Việt, thờ Quan Công là do cảm phục và ngưỡng mộ đức tính trung hiền, trượng nghĩa của ông và tin rằng khi thờ Quan Công sẽ đem lại vận khí tốt, tránh được những điều không may mắn. Từ đó đến nay, ngôi miếu có tên đền Quan Thánh. Ngoài thờ Quan Công, Sơn Thần, Bách Linh, Phật Bà Quan Âm, trong kháng chiến chống Pháp, Mỹ, đền Quan Thánh còn là nơi sơ tán của nhân dân địa phương và tổ chức các lớp bình dân học vụ. Di tích có ý nghĩa trong việc giáo dục truyền thống yêu nước. Hiện nay, chưa có tư liệu nào khẳng định niên đại xây dựng đền Quan Thánh. Tuy nhiên, dựa vào niên đại khắc trên tấm bia đá trước gian hậu cung cho thấy đền được trùng tu vào năm Thành Thái thứ 6, Giáp Ngọ (tức năm 1894). Trải qua những biến cố, thăng trầm lịch sử, đền nhiều lần bị tàn phá và xây dựng lại. Đến nay, nhiều hạng mục trong di tích đền Quan Thánh được trùng tu, sửa sang, tạo diện mạo khá khang trang nhưng vẫn giữ được nét cổ kính, thâm nghiêm. Ngôi đền được xây bằng gạch, mái lợp ngói máng, kết cấu kèo bằng gỗ theo kiểu “Nội công ngoại quốc”, trước có tiền đường, sau là hậu cung. Nối tiền đường và hậu cung là một khoảng sân. Gian tiền đường có kiến trúc nhà cấp 4, kèo gỗ, mái lợp ngói máng, tường xây gạch, nền lát gạch vuông màu nâu. Ở gian giữa tiền đường có một ban thờ, trên ban thờ có một bát hương bằng đá, khắc một số chữ Hán. Phía trên ban thờ có treo đôi lọng vải màu vàng. Qua gian tiền đường bước lên 4 bậc là tới khoảng sân dài hơn 9 m, rộng 64 m lát gạch vuông màu sẫm, chính là không gian ngăn cách giữa tiền đường và hậu cung, tạo cho quang cảnh ngôi đền thêm thoáng đãng nhưng vẫn giữ được sự tĩnh mịch, thâm nghiêm. Gian hậu cung được chia làm 3 khoang là nơi thờ Quan Vân Trường, Quan Âm, Bách Linh và Sơn Thần. Khoang giữa có bệ thờ tam cấp, trên cùng chính giữa là tượng Quan Vân Trường ngồi trên ngai. Phía trái thờ Quan Âm, phía phải là bệ thờ thần Bách Linh. Khoang trái là nơi thờ Sơn Thần được ngăn cách bởi bức trướng bằng gạch có 2 cửa ngách làm bằng gỗ. Khoang phải dùng làm lối lên thắp hương, đồng thời, đây còn là cửa thông ra phía sau để lên hang Phja Phủ. Di tích lịch sử văn hóa đền Quan Thánh được xếp hạng di tích cấp tỉnh theo Quyết định số 2268/Quyết định của Ủy Ban nhân dân tỉnh ngày 30/12/2014 của Uỷ Ban nhân dân tỉnh. Nguồn Cổng thông tin điện tử tỉnh Cao Bằng .
Cao Bằng
6281 lượt xem
Xếp hạng : Di tích cấp tỉnh
Đền Hoàng Lục
Đền thờ danh tướng Hoàng Lục nằm ở xóm Đoỏng Luông - Chi Choi, xã Đình Phong, huyện Trùng Khánh (tỉnh Cao Bằng), được người dân xây dựng từ thế kỷ XI để thờ An Biên tướng quân Hoàng Lục nhằm giáo dục tình yêu nước, quyết tâm bảo vệ từng tấc đất thiêng liêng của Tổ quốc. Tương truyền, tướng quân Hoàng Lục là một tù trưởng người Tày, sinh vào thế kỷ XI tại vùng Lũng Đính, châu Thượng Lang (nay là xã Đình Phong, huyện Trùng Khánh). Ông là người tài giỏi, am hiểu sử sách, tinh thông binh pháp. Năm 18 tuổi, ông đã được cử làm thổ tù cai quản một vùng. Trong cuộc kháng chiến chống quân Tống xâm lược lần thứ hai, thực hiện kế sách “Tiên phát chế nhân” của Lý Thường Kiệt, tướng Hoàng Lục đưa quân đánh vào đất Tống, đột phá nhiều thành trì, đập tan các căn cứ hậu cần phục vụ cuộc chiến xâm lược Đại Việt của giặc. Khi quân Tống tiến vào nước ta, với lối đánh du kích táo bạo, đội quân do ông chỉ huy đã đánh phá phía sau và gây tổn hao nhiều sinh lực địch, góp phần vào chiến thắng chung của cả dân tộc. Với công lao to lớn đó, ông đã được triều đình phong là An Biên tướng quân và giao trấn giữ một dải biên ải rộng lớn từ Cao Bằng đến tận Lạng Sơn ngày nay. Để ghi nhớ công lao khi ông mất, nhân dân đã lập đền thờ ông ngay tại quê hương Lũng Đính. Đền thờ danh tướng Hoàng Lục gồm 2 ngôi nhà cấp 4 với diện tích khoảng hơn 100m2 sắp theo hình chữ “Nhị”. Đền lợp mái ngói âm dương, kèo làm bằng tre, gỗ. Đặc biệt, ngôi đền vẫn giữ được những bức tường trình bằng đất sét như lúc xây dựng. Theo các cụ xưa kể lại, khi xây dựng người dân đã dùng đất sét trộn mật mía đường phên, đóng khuôn ván sau đó dập, nện hỗn hợp đất đó tạo thành các bức tường xung quanh. Nhiều thế kỷ đã trôi qua, ngôi đền vẫn còn đó bên dòng sông Quây Sơn như một địa chỉ văn hóa, lịch sử của đất nước. Ông Hà Đình Toàn, người dân xóm Đoỏng Luông-Chi Choi, xã Đình Phong cho biết, hàng năm, ngày 28/2 âm lịch, bà con đến lễ rất đông. Gia đình ông sống ở gần Đền nên cứ vài ngày lại lên thắp hương cho danh tướng Hoàng Lục. Tự hào về một vị một tướng quân trấn giữ biên cương, người dân nơi đây tiếp tục phát huy truyền thống yêu nước, đoàn kết xây dựng quê hương ngày càng giàu mạnh; tham gia các phong trào đảm bảo an ninh biên giới, bảo vệ chủ quyền lãnh thổ quốc gia… Hàng năm vào ngày tưởng nhớ tướng quân Hoàng Lục, nhiều con em xã Đình Phong xa quê vẫn luôn hướng về cội nguồn và có những đóng góp tích cực góp phần xây dựng địa phương ngày càng phát triển giàu mạnh. Ngôi đền cũng đang dần trở thành địa chỉ quen thuộc với du khách mỗi khi đến viễn cảnh Cao Bằng. Đến xã Đình Phong, du khách có thể hòa mình vào thiên nhiên của một vùng quê non nước hữu tình; trải nghiệm cuộc sống yên ả của người dân ven dòng Quây Sơn nên thơ; đặc biệt là được thắp nén hương tưởng nhớ những người có công đóng góp trong bảo vệ biên cương Tổ quốc... Với nhiều ý nghĩa lịch sử và giáo dục truyền thống yêu nước, năm 2004, Đền thờ danh tướng Hoàng Lục được UBND tỉnh Cao Bằng xếp hạng Di tích lịch sử văn hóa cấp tỉnh. Nguồn Cổng thông tin điện tử tỉnh Cao Bằng.
Cao Bằng
6578 lượt xem
Xếp hạng : Di tích cấp tỉnh









