Di tích lịch sử

Việt Nam
Khu lưu niệm Cát Tường

Khu lưu niệm Cát Tường

Khu lưu niệm Cát Tường – nơi lưu giữ ký ức về Bác Hồ. Khu lưu niệm Cát Tường, xã Bình Mỹ, tỉnh Ninh Bình, được xây dựng trên chính nơi Bác Hồ về thăm và động viên nhân dân chống hạn vào ngày 14/1/1958. Tại đây, Bác đã biểu dương tinh thần lao động của nhân dân và động viên bà con đẩy nhanh tiến độ đắp đập, đưa nước về cứu hàng nghìn mẫu lúa đang bị khô hạn. Thực hiện lời căn dặn của Bác, nhân dân địa phương đã hoàn thành đập Cát Tường trong chưa đầy 5 ngày. Ngày nay, khu lưu niệm có nhà bia, đền thờ Bác Hồ và khu trưng bày nhiều hình ảnh, tư liệu quý về chuyến thăm năm 1958. Đặc biệt, cây đa được nhân dân trồng tại nơi Bác từng đứng nói chuyện vẫn xanh tốt, trở thành một dấu ấn thiêng liêng của khu di tích. Năm 2018, Khu lưu niệm Cát Tường được Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch công nhận là Di tích lịch sử văn hóa cấp quốc gia. Đây không chỉ là nơi tưởng niệm, ghi nhớ tình cảm của Bác Hồ dành cho nhân dân mà còn là “địa chỉ đỏ” giáo dục truyền thống, thu hút nhiều đoàn viên, thanh thiếu nhi đến tham quan, dâng hương và tìm hiểu lịch sử quê hương. Nguồn: Báo Nhân Dân

Ninh Bình

311 lượt xem

Xếp hạng : Di tích cấp quốc gia

Mở

Đền Cây Quế

Đền Cây Quế

Đền Cây Quế tọa lạc tại xã Mỹ Tân, tỉnh Ninh Bình (trước đây thuộc xã Mỹ Tân, huyện Mỹ Lộc, tỉnh Nam Định), nằm bên bờ sông Đào, gần nơi hợp lưu giữa sông Hồng và sông Đào. Đây là ngôi đền cổ thờ Đức Thánh Linh Lang Đại Vương – vị thần có công giúp triều Lý đánh giặc giữ nước, đồng thời được nhân dân tôn thờ là vị thủy thần bảo hộ cuộc sống của cư dân vùng sông nước. Theo thần tích, Linh Lang Đại Vương là Hoàng tử Hoàng Lang, con vua Lý Thái Tông. Từ nhỏ đã có tư chất khác thường, khi đất nước có giặc ngoại xâm, Hoàng Lang xin vua giao voi và cờ để ra trận, lập nhiều chiến công hiển hách. Sau khi dẹp yên giặc, ngài hóa về thủy cung và được triều đình sắc phong là Linh Lang Đại Vương Thượng đẳng Phúc thần, cho phép nhiều địa phương lập đền thờ phụng. Đền Cây Quế được xây dựng theo kiểu chữ Tam gồm tiền đường, trung đường và cung cấm. Mặc dù đã qua nhiều lần trùng tu, di tích vẫn bảo tồn được nhiều giá trị kiến trúc nghệ thuật cùng hệ thống hiện vật quý như đại tự, câu đối, bia đá, chuông đồng và các mảng chạm khắc mang phong cách nghệ thuật thời Nguyễn. Ngoài thờ Linh Lang Đại Vương, đền còn phối thờ Bố Cái Đại Vương Phùng Hưng cùng một số vị thủy thần và sơn thần. Hằng năm, lễ hội Đền Cây Quế được tổ chức vào ngày 22 tháng Tám âm lịch với nhiều nghi lễ truyền thống, nổi bật là nghi thức rước nước từ ngã ba sông Hồng – sông Đào về đền để dâng lễ, cầu cho quốc thái dân an, mưa thuận gió hòa và mùa màng bội thu. Nguồn: Báo điện tử Pháp luật Việt Nam

Ninh Bình

360 lượt xem

Xếp hạng : Di tích cấp quốc gia

Mở

Đền Thái Vi

Đền Thái Vi

Đền Thái Vi thuộc thôn Văn Lâm, xã Ninh Hải, tỉnh Ninh Bình. Di tích nằm trong khu vực danh thắng Tam Cốc - Bích Động, giữa vùng núi đá vôi với nhiều hang động, sông ngòi và cảnh quan thiên nhiên đặc sắc. Nơi đây còn lưu giữ nhiều dấu ấn lịch sử gắn với triều Trần và vùng căn cứ Vũ Lâm trong thế kỷ XIII. Đền Thái Vi là nơi thờ các vị vua triều Trần gồm Trần Thái Tông, Trần Thánh Tông, Hiển Từ Hoàng Thái hậu và phối thờ vua Trần Nhân Tông, Trần Anh Tông. Theo sử liệu, vùng Vũ Lâm từng là căn cứ địa quan trọng của quân dân Đại Việt trong cuộc kháng chiến chống quân Nguyên - Mông. Sau khi đất nước thái bình, các vua Trần đã khuyến khích nhân dân khai khẩn đất hoang, mở mang ruộng đồng, lập nên làng xã, góp phần phát triển vùng đất này. Đền Thái Vi được xây dựng để tưởng niệm công lao to lớn của các vị vua triều Trần đối với đất nước nói chung và vùng Vũ Lâm nói riêng. Đền Thái Vi là công trình kiến trúc mang phong cách thời Nguyễn. Tòa chính gồm một tòa ba cung với 28 cột đá cao khoảng 3,2m, trong đó có 22 cột đá vuông. Các cột đá tròn ở cung đệ tam được chạm khắc hình tứ linh và long cuốn thủy với đường nét tinh xảo, điêu luyện. Hệ thống xà, rui, mè đều được làm bằng gỗ lim. Trong khuôn viên di tích còn có gác chuông được xây dựng dưới thời vua Duy Tân, có kiến trúc hai tầng tám mái với 32 cột gỗ lim. Hệ thống cột, xà, bẩy và kết cấu đỡ mái đều được làm bằng gỗ lim. Di tích hiện còn lưu giữ nhiều hiện vật có giá trị về lịch sử, văn hóa và nghệ thuật. Đền Thái Vi không chỉ là căn cứ kháng chiến của quân dân Đại Việt trong cuộc kháng chiến chống quân Nguyên - Mông ở thế kỷ XIII mà còn là cơ sở phục vụ cách mạng trong thời kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp. Ngày nay, di tích là nơi sinh hoạt văn hóa tâm linh của nhân dân địa phương, đồng thời là nơi diễn ra lễ hội truyền thống hằng năm, góp phần gìn giữ và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc. Nguồn: Trang thông tin điện tử Sở Du lịch tỉnh Ninh Bình

Ninh Bình

414 lượt xem

Xếp hạng : Di tích cấp quốc gia

Mở

Đền Lăng

Đền Lăng

Đền Lăng – Di tích lịch sử linh thiêng ở Ninh Bình Nằm tại xã Liêm Hà, tỉnh Ninh Bình, Đền Lăng (hay còn gọi là đền Ninh Thái) là di tích lịch sử - văn hóa cấp quốc gia, gắn liền với công lao của vua Đinh Tiên Hoàng và vua Lê Đại Hành. Đây là điểm đến tâm linh, đồng thời là nơi lưu giữ nhiều giá trị lịch sử và kiến trúc truyền thống. Theo truyền thuyết, vùng đất Liêm Hà từng là nơi Đinh Bộ Lĩnh và Lê Hoàn tụ nghĩa, luyện quân. Đền hiện nay là ngôi đền còn lại trong quần thể ba đền Thượng, Trung, Hạ xưa. Công trình được trùng tu dưới thời Nguyễn nhưng vẫn bảo tồn nhiều nét kiến trúc cổ cùng các hiện vật quý như ngai thờ, sập thờ và nhiều đồ thờ có giá trị. Hằng năm, từ ngày mùng 6 đến mùng 8 tháng 3 âm lịch, lễ hội Đền Lăng được tổ chức với các nghi lễ dâng hương, tế lễ và hoạt động văn hóa dân gian, thu hút đông đảo người dân và du khách về dâng hương, tưởng nhớ công lao các bậc tiền nhân. Nguồn: Trung tâm Thông tin Xúc tiến Du lịch Ninh Bình

Ninh Bình

589 lượt xem

Xếp hạng : Di tích cấp quốc gia

Mở

Trận địa pháo phòng không Lam Hạ

Trận địa pháo phòng không Lam Hạ

Di tích lịch sử Trận địa pháo phòng không Lam Hạ – Địa chỉ đỏ ghi dấu bản hùng ca của 10 nữ dân quân. Nằm tại phường Phủ Lý, tỉnh Ninh Bình (trước đây thuộc phường Lam Hạ, thành phố Phủ Lý, tỉnh Hà Nam), Di tích lịch sử Trận địa pháo phòng không Lam Hạ là một trong những địa chỉ đỏ tiêu biểu, ghi dấu tinh thần chiến đấu anh dũng của quân và dân Hà Nam trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước. Nơi đây gắn liền với sự hy sinh cao cả của 10 nữ dân quân Lam Hạ – những người con ưu tú đã viết nên bản anh hùng ca bất diệt bằng lòng yêu nước và ý chí kiên cường. Trong những năm 1965 – 1972, Lam Hạ là địa bàn có vị trí chiến lược quan trọng với nhiều tuyến giao thông huyết mạch như Quốc lộ 1A, đường sắt Bắc – Nam, cầu Phủ Lý và sông Châu. Đây là những mục tiêu bị không quân Mỹ đánh phá ác liệt nhằm cắt đứt tuyến chi viện từ hậu phương miền Bắc vào chiến trường miền Nam. Để bảo vệ các tuyến giao thông và phối hợp cùng lực lượng phòng không chủ lực, Đại đội Dân quân phòng không Lam Hạ được thành lập với nhiều chiến sĩ trẻ, trong đó có những nữ dân quân tuổi đời còn rất trẻ. Trong các trận chiến đấu ác liệt diễn ra vào tháng 10 năm 1966 và tháng 7 năm 1967, 10 nữ dân quân Lam Hạ đã anh dũng chiến đấu và hy sinh ngay trên trận địa pháo khi làm nhiệm vụ bảo vệ quê hương. Sự hy sinh của các chị đã trở thành biểu tượng sáng ngời của chủ nghĩa anh hùng cách mạng, góp phần làm nên truyền thống vẻ vang của lực lượng dân quân tự vệ Việt Nam. Để tri ân những người đã ngã xuống, tỉnh Hà Nam đã xây dựng Đền thờ 10 nữ dân quân Lam Hạ, tượng đài tưởng niệm cùng khuôn viên di tích ngay trên nền trận địa năm xưa. Không gian di tích hôm nay được quy hoạch trang nghiêm, là nơi nhân dân và du khách đến dâng hương tưởng niệm, tìm hiểu lịch sử và giáo dục truyền thống yêu nước cho thế hệ trẻ. Nguồn: Theo Cổng Thông tin điện tử tỉnh Hà Nam (Ninh Bình)

Ninh Bình

436 lượt xem

Xếp hạng : Di tích cấp quốc gia

Mở

Chùa Long Đọi (Đọi Sơn)

Chùa Long Đọi (Đọi Sơn)

Quần thể di tích chùa Đọi Sơn, xã Đọi Sơn, huyện Duy Tiên, tỉnh Hà Nam, trấn Sơn Nam xưa. Chùa được xây dựng trên đỉnh núi Đọi, trong khuôn viên 2 ha vườn rừng. Theo sử liệu thành văn và các truyền thuyết có liên quan, chùa Đọi Sơn vốn là một am nhỏ tồn tại từ thế kỷ 10 đến 11. Thời kỳ này, chùa gắn với tên tuổi của vị sư Đàm Cứu Chỉ, ông chính là người thay kiến trúc tranh tre, nứa lá của thời trước để xây dựng chùa bằng gạch ngói là vật liệu bền vững hơn. Đến thế kỷ XII, vua Lý Nhân Tông trên đường kinh lý qua đây thấy cảnh sắc còn đó mà chùa đã bị đổ nát nên đã cho xây dựng lại chùa và dựng tháp Sùng Thiện Diên Linh. Công trình bắt đầu xây dựng năm 1118 đến năm 1121 hoàn thành. Từ đó, chùa Đọi Sơn trở thành đại danh lam kiêm hành cung, một trong những trung tâm Phật giáo quan trọng thời Lý với ý nghĩa trấn giữ phía Nam kinh thành Thăng Long. Chùa Đọi Sơn đứng vững hơn 300 năm. Đầu thế kỷ 15, khi giặc Minh xâm lược nước ta, chùa và tháp bị phá hủy hoàn toàn. Đến các triều hậu Lê, nhà Mạc, nhà Nguyễn, chùa Đọi Sơn đã được xây dựng và tu tạo liên tục, dần dần được khôi phục với 125 gian, được xây theo kiểu nội công ngoại quốc gồm có tòa bái đường, thiên hương và thượng điện, hai dãy hành lang hai bên thờ thập bát La hán. Trong kháng chiến chống Pháp, một lần nữa ngôi chùa cổ kính này lại bị tàn phá. Sau ngày hòa bình lập lại ở miền Bắc, chính quyền cùng nhân dân địa phương đã tích cực tiến hành trùng tu lại ngôi chùa. Lần sửa chữa lớn vào năm 1958 đã hoàn tất những công trình chính tại đây. Trải qua bao biến cố thăng trầm của lịch sử, ngôi chùa vẫn giữ được nét cổ kính, linh thiêng, mang đậm phong cách kiến trúc, mỹ thuật thời Lý. Đây là ngôi chùa có lịch sử lâu đời, phản ánh một thời kỳ hưng thịnh của Phật giáo trong lịch sử dân tộc và là niềm tự hào của người dân nơi đây. Một trong số những hiện vật có giá trị lịch sử văn hóa nổi bật được lưu giữ tại chùa Đọi Sơn hiện nay chính là tấm bia Sùng Thiện Diên Linh. Tấm bia với nghệ thuật chạm khắc độc đáo chứa đựng nhiều thông tin quý hiếm cho việc nghiên cứu lịch sử, văn hóa thời Lý. Đặc biệt, tấm bia Sùng Thiện Diên Linh còn là tấm bia duy nhất cung cấp những thông tin quý hiếm về Hội đèn Quảng Chiếu ở kinh thành Thăng Long, nghệ thuật múa rối nước, nghi lễ phật giáo, việc tu sửa chùa Diên Hựu (chùa Một Cột), quá trình xây dựng tháp Sùng Thiện Diên Linh. Chùa Đọi Sơn cũng là một trong số ít những ngôi chùa hiện nay còn lưu giữ được nhiều hiện vật mỹ thuật thời Lý có giá trị như: Tượng Đà Bảo Như Lai, tượng Kim Cương, tượng đầu người mình chim (kinari) - tác phẩm thể hiện sự giao thoa văn hóa giữa hai nền kiến trúc nghệ thuật Chămpa và Đại Việt thời Lý. Cùng với các hạng mục kiến trúc và hệ thống hiện vật, đồ thờ tự, chùa Đọi Sơn còn lưu giữ kho tàng di sản Hán Nôm phong phú, đa dạng và rất có giá trị. Đây là nguồn tư liệu quý giá đã đúc kết tinh hoa văn hoá ở nhiều triều đại, từ tri thức dân gian đến tri thức bác học, là tài sản hết sức độc đáo có giá trị vô giá mà ít nơi có được. Với chiều dài lịch sử cùng nhiều biến cố, chùa còn mang đậm giá trị khảo cổ học. Trong hố khai quật nằm giữa hậu cung của chùa và nhà hậu đã tìm thấy nền móng, các vật liệu kiến trúc cùng nhiều hiện vật thời Lý như tiêu bản trang trí, đồ gốm, đồ sành, kim khí. Di tích lịch sử chùa Đọi Sơn thể hiện sự sáng tạo về khoa học xây dựng công trình, sản xuất vật liệu xây dựng cũng như kỹ thuật khai thác, tận dụng điều kiện tự nhiên của các thế hệ cha ông ở các triều đại phong kiến với kỹ thuật xây dựng khéo léo các vật liệu gỗ, đá, gạch tạo nên những công trình kiến trúc có giá trị nghệ thuật cao. Với những giá trị lịch sử, văn hóa tiêu biểu trên, ngày 23/12/2017, di tích chùa Đọi Sơn, huyện Duy Tiên, tỉnh Hà Nam đã được Thủ tướng Chính phủ ký quyết định xếp hạng là Di tích quốc gia đặc biệt. Nguồn: Báo Hà Nam điện tử

Ninh Bình

7693 lượt xem

Xếp hạng : Di tích quốc gia đặc biệt

Mở

Chùa Tháp Phổ Minh

Chùa Tháp Phổ Minh

Chùa Phổ Minh tên chữ là Phổ Minh tự, là một ngôi chùa tọa lạc ở thôn Tức Mặc , phường Lộc Vượng, thành phố Nam Định. Căn cứ vào văn bia sắc phong cũng như các thư tịch cổ thì ngôi chùa được xây dựng từ thời Lý, đến năm 1262 nhà Trần mở mang quy mô bề thế hơn. Năm 2012 chùa Phổ Minh đã được thủ tướng chính phủ xếp hạng là Di tích Quốc gia đặc biệt. Bởi vì phía trước chùa Phổ Minh có một cây tháp nên chùa còn có tên gọi khác là Chùa Tháp, Tháp hay được gọi là Tháp Phổ Minh. Tháp Phổ Minh là một công trình kiến trúc độc đáo. Đây là ngôi tháp lớn nhất, cổ nhất và còn nguyên vẹn nhất của nước Việt Nam. Sách Nam Định tỉnh địa dư chí của tác giả Khiếu Năng Tĩnh có ghi về chùa như sau: “ Thời Trần, vua Nhân Tông sửa lại xuất gia cư trú. Lúc vua mất, Anh Tông xây tòa tháp cao 14 tầng gồm 53 thước, chân mỗi bề 10 thước để cất xá lỵ. Thời Tây Sơn, quan trấn giữ vùng này phá đỉnh tháp hồ lô bằng đồng. Khi phá tới tầng thứ 13 nơi hòn đá thì thấy có một vật hình dải lụa đỏ bay lên trời, bèn không phá nữa…” Ngoài ra trong dân gian còn truyền ngôn nhau câu nói của Phật hoàng Trần Nhân Tông : “ Dù ai tranh bá đồ vương Trẫm xin gửi lại nắm xương chùa này” Vì thế các nhà nghiên cứu cho rằng đây là tháp mộ. Hiện nay trong cả nước chỉ còn ba cây tháp được xây từ thời Trần đó là tháp Phổ Minh (Nam Định), tháp Huệ Quang (Yên Tử, Quảng Ninh) và tháp Bỉnh Sơn (Lập Thạch, Vĩnh Phúc), song Tháp Phổ Minh vẫn là ngọn tháp bề thế hơn, xây dựng công phu, mỹ thuật, kỹ thuật hơn cả. Tháp xây dựng ngay trước khu nhà bái đường nằm theo trục Bắc – Nam. Tháp cao tổng cộng 19,51m gồm 1 kiệu bát cống và 13 tầng. Tháp được xây trên một sân nhỏ hình vuông, mỗi chiều là 8,6m và nằm thấp hơn so với mặt đất 0,45m. Kiệu bát cống là phần đế của tháp được thiết kế hoàn toàn bằng đá xanh mỗi cạnh dài 5,20m. Dưới chân tháp có một băng hoa sen có cánh to cánh nhỏ từ giữa nghiêng dần về góc tháp biểu tượng một đài sen nâng kiệu. Phần dưới bệ đá được tạo dáng cong lên về hai phía làm người ta lầm tưởng do đá bị lún nhưng thực chất là dụng ý xây dựng để tạo đà cho hơn một chục tầng phía trên đều có độ cong như vậy. Nhìn toàn bộ cây tháp người ta sẽ liên tưởng đến một bông hoa Sen đang vươn lên và nở ra giữa hồ nước. Từ kiệu bát cống trở lên có 13 tầng tháp xây bằng gạch đỏ trổ 4 cửa Đông, Tây, Nam, Bắc. Trước đây, các tầng đều để mộc lộ họa tiết Rồng chầu cùng hoa lá trang trí khá đẹp mắt, các tầng tháp càng lên cao thì chiều cao và chiều rộng của mặt tháp càng nhỏ dần.Trên cùng cây tháp là một hình khối có dáng một đóa hoa Sen chưa nở bằng đất nung già. Rất tiếc rằng vào những năm đầu thế kỷ XX khi tu sửa cây tháp người ta đã cho khoác bên ngoài cây tháp một tấm áo khoác bằng vật liệu xi măng làm mất đi những hoa văn trên viên gạch. Năm 1987, do một số tầng tháp phía trên bị rễ cây xâm thực làm nứt rạn, ngành văn hóa đã sửa chữa, tu bổ. Trong quá trình tu sửa người ta phát hiện tại vị trí tầng 11, 12 của cây tháp có một quách bằng đá vây quanh một hộp đồng mà theo nhân dân truyền tụng thì đây có thể là hộp đựng xá lỵ của Phật hoàng Trần Nhân Tông. Tháp Phổ Minh đã tồn tại qua 7 thế kỷ, mặc dù trải qua nhiều sóng gió, thiên tai giặc giã nhưng cây tháp vẫn được bảo tồn gần như nguyên vẹn trở thành một kỳ quan quý hiếm làm nên nét độc đáo không chỉ riêng của chùa Phổ Minh mà còn cả tỉnh Nam Định nói chung. Nguồn: Ban Quản Lý Di Tích Lịch sử- Văn hóa Đền Trần, Chùa Tháp

Ninh Bình

8197 lượt xem

Xếp hạng : Di tích quốc gia đặc biệt

Mở

Đền thờ Trương Hán Siêu

Đền thờ Trương Hán Siêu

Đền thờ Trương Hán Siêu nằm ở phía Tây Nam của núi Dục Thúy, một bên dựa vào núi, bên dưới là dòng sông Đáy trữ tình lững lờ trôi, uốn lượn từ phải qua trái, ôm lấy khu Đền tạo nên khung cảnh trữ tình, thanh bình mà uy nghiêm. Trương Hán Siêu (không rõ năm sinh) quê ở huyện Yên Ninh, phủ Trường Yên, nay là thành phố Ninh Bình, tỉnh Ninh Bình. Ông là người có tài văn, võ, giàu lòng yêu nước, được các vua đời Trần tôn quý. Ông cùng với Nguyễn Trung Ngạn đã soạn ra Bộ Luật "Hình thư" và sách "Hoàng triều đại điển", đặt nền tảng cho chế độ phong kiến Việt Nam vận hành theo pháp luật. Khi chết, ông được truy tặng chức Thái phó, cho thờ tự ở Văn Miếu - Quốc Tử Giám. Khi ông mất, đã được lập đền thờ ở phía Đông Nam gần mộ ông. Nhưng trải qua thời gian do chiến tranh, đền Trương Hán Siêu đã bị san lấp. Đầu năm 1993 trong quá trình thi công xây dựng nhà ở phường Vân Giang, người dân thành phố đã phát hiện ra bài vị đá và những tấm bia đá, chân cột, bậc thềm đá của đền vùi sâu trong lòng đất. Ngày 24/4/1998, công trình xây dựng đền thờ Trương Hán Siêu đã chính thức khởi công tại khu đất phía Tây Nam núi Dục Thúy. Đền thờ Trương Hán Siêu có kiến trúc theo kiểu chữ đinh, gồm 3 gian Bái Đường và 2 gian Hậu cung, hai tầng mái lợp bằng ngói ta, các góc có các đầu đao cong vút lên. Nhìn bán diện rìa mái cuộn lên ở hai đầu như hình ảnh một chiếc thuyền rồng ngoạn mục. Trên nóc đền là hai con rồng chầu mặt nguyệt. Mặt tiền của đền có tấm đại tự bằng chữ Hán "Trương Thăng Phủ Từ". Bên trong gian thờ là bức tượng Trương Hán Siêu bằng đồng với tỷ lệ 1 1, đặt ngồi trên bệ trong trang phục triều Trần. Bái đường có cửa võng, hương án và hai giá ở hai bên cắm bát bửu. Gian cuối của hậu cung có hương án để bài vị của Trương Hán Siêu. Mỗi dịp đầu xuân, Đền thờ Trương Hán Siêu còn là nơi đông đảo tầng lớp nhân dân trong tỉnh đến thắp nén hương thơm, thành tâm xin chữ đầu năm mới, với ước mong về những điều tốt đẹp và may mắn trong năm mới. Đền thờ Trương Hán Siêu nằm ngay bên núi Non Nước, là một trong những địa điểm du lịch Ninh Bình được nhiều người biết đến. Đền thờ Trương Hán Siêu – một vị danh nhân Văn hóa và cũng là một người con của Ninh Bình. Ông là một người “văn võ song toàn”, đã cùng với tiền sĩ Nguyễn Trung Ngạn soạn ra bộ luật “Hình Thư”. Đền thờ Trương Hán Siêu sẽ vẫn luôn là những tư liệu sống mãi cho đến muôn đời sau. Nếu ghé thăm mảnh đất cố đô, quý khách đừng quên đến thăm đền thờ Trương Hán Siêu để tìm hiểu thêm về cội nguồn lịch sử Việt Nam. Thế hệ mai sau cần gìn giữ những di tích văn hóa mang ý nghĩa lịch sử bởi đây không chỉ đơn thuần là lưu giữ những kiến trúc cổ mà còn liên quan để cả lịch sử văn hóa của cả một dân tộc. Nguồn: Trang Thông Tin Điện Tử Trung Tâm Thông Tin Sở Du Lịch Ninh Bình

Ninh Bình

6720 lượt xem

Xếp hạng : Di tích cấp quốc gia

Mở

Chùa Bà Đanh

Chùa Bà Đanh

Chùa Bà Đanh- núi Ngọc thuộc địa phận thôn Đanh Xá, xã Ngọc Sơn, huyện Kim Bảng, tỉnh Hà Nam. Chùa Bà Đanh còn có tên chữ là Bảo Sơn tự. Ngoài thờ Phật, chùa Bà Đanh còn tín ngưỡng thờ Tứ Pháp (Pháp Vân, Pháp Vũ, Pháp Điện, Pháp Phong là Thần mây, Thần mưa, Thần sấm, Thần sét) một tín ngưỡng thờ thiên nhiên rất gần gũi với đời sống nông nghiệp ở nước ta. Còn về tên gọi chùa Bà Đanh thì theo truyền thuyết của địa phương, chùa thờ nữ thần linh thiêng trông coi việc điều mưa khiển gió, giúp dân trừ lũ lụt, đem lại mưa thuận gió hòa, mùa màng bội thu nên được gọi là chùa Đức Bà làng Đanh, gọi tắt là chùa Bà Đanh như tên gọi ngày nay. Đi qua chiếc cầu treo Cấm Sơn khá bề thế bắc qua sông Đáy, vòng lên một đoạn đường đê vắng vẻ, sẽ bắt gặp tấm biển bằng đá ghi “Di tích lịch sử văn hoá chùa Bà Đanh và núi Ngọc". Cổng tam quan của chùa được xây dựng khá uy nghi, hoành tráng. Cổng có ba gian, hai tầng, ở trên là gác chuông, ở dưới là hệ thống cửa gỗ hoa văn đơn giản. Tuy nhiên cổng này chỉ mở khi chùa có đại lễ, những ngày thường du khách phải đi qua hai cổng nhỏ hai bên với mái ngói cong như hình bán nguyệt. Bước qua cánh cửa cổng khép hờ là khuôn viên rộng rãi, lát gạch tinh tươm rất sạch sẽ. Trong khuôn viên chùa có đặt nhiều chậu cây cảnh, giỏ phong lan tạo và đặc biệt là những hàng cau khẳng khiu vươn cao. Cũng giống kiến trúc của nhiều ngôi chùa vùng đồng bằng Bắc Bộ, chùa Bà Đanh là một quần thể kiến trúc liên hoàn gồm nhà bái đường, nhà thượng điện, nhà trung đường, phủ thờ Mẫu, nhà tổ…, ngôi chùa thuộc dòng Phật giáo Đại Thừa này có những nét riêng độc đáo. Trong chùa không chỉ có tượng Phật mà còn có tượng của Đạo giáo như Thái Thượng Lão Quân, Nam Tào, Bắc Đẩu, các tượng Tam Phủ, Tứ Phủ, Pháp Vũ. Nếu đến thăm quan, vãn cảnh chùa, du khách nên dành thời gian chiêm ngưỡng pho tượng Bà Đanh, được tạc theo tư thế tọa thiền trên chiếc ngai đen bóng với khuôn mặt đẹp, hiền từ, đầy nữ tính, gần gũi và thân thiết. Sự hài hoà giữa pho tượng và chiếc ngai tạo nên vẻ hấp dẫn của nghệ thuật điêu khắc chùa Bà Đanh. Năm 1994, Chùa Bà Đanh đã được Bộ Văn hóa thể thao & Du lịch công nhận là Di tích lịch sử cấp quốc gia. Nhiều năm nay, người ta đã không còn thấy cảnh vắng vẻ, hiu quạnh ở ngôi chùa này, câu “vắng như chùa bà Đanh" trước đây giờ đã được cải biên thành: “Ngày xưa vắng ngắt vắng ngơ. Bây giờ tấp nập như chùa Bà Đanh"… Nối giữa chùa Bà Đanh và núi Ngọc là một bãi rộng trồng cây lưu niên, chủ yếu là vải thiều, nhãn, tùy thời vụ có xen cả ngô lúa. Nằm hoàn toàn biệt lập với khu dân cư, trên núi, dưới sông, gần đền, gần chùa, núi Ngọc quả là một thắng cảnh của đất Kim Bảng, một địa điểm du lịch đầy hấp dẫn. Chùa Bà Đanh được biết đến rộng rãi không phài vì ngôi chùa này đông người tìm về hành hương hay đông khách thăm quan du lịch mà di tích này được biết đến bởi câu ví von “Vắng như chùa Bà Đanh". Nguồn: Cổng Thông Tin Điện Tử Huyện Kim Bảng Tỉnh Hà Nam

Ninh Bình

7558 lượt xem

Xếp hạng : Di tích cấp quốc gia

Mở

Đình Lũng Xuyên

Đình Lũng Xuyên

Đình Lũng Xuyên thuộc thôn Lũng Xuyên, xã Yên Bắc, huyện Duy Tiên, tỉnh Hà Nam. Đình Lũng Xuyên thờ vị anh hùng dân tộc Lý Thường Kiệt. Theo truyền thuyết của người dân địa phương, con sông Châu chảy qua địa phận Lũng Xuyên là con đường thủy mà Lý Thường Kiệt cùng các chiến binh của ông thường qua lại khi đóng quân ở vùng Thịnh Châu hạ và An Xá. Trong các lần tuần binh qua, ông và quân sĩ đã có lần nghỉ tại đây. Xung quanh làng Lũng Xuyên còn thấy có nhiều các gò đống, tương truyền đây là nơi để buộc thuyền chiến và để đồ dùng của các đạo quân do Lý Thường Kiệt chỉ huy. Nhân dân địa phương cho rằng, Lý Thường Kiệt đã từ Thăng Long, theo sông Hồng, vào sông Châu (có nghỉ lại Lũng Xuyên), rồi ra sông Đáy. Hiện nay, tại đình vẫn còn nhiều bài văn tế ca ngợi công lao, nhân đức của Thái úy, ở hai cung còn có hàng chữ khắc trên xà ngang của vì kèo thứ nhất giáp với tiền đường “Phát Tống bình Chiêm, an dân muôn thuở”, chính là để ngợi ca công lao to lớn của ông đối với đất nước. Đình được xây dựng trên mảnh đất rộng, cao ráo, thoáng đãng. Đình quay hướng nam, được kiến trúc theo lối chữ đinh, tiền đường 5 gian, hậu cung 3 gian. Tòa tiền đường dài 17 mét 20, rộng 8 mét 80, mái cong, lợp ngói nam, đứng hàng, thẳng lối, ngói lợp kiểu móng rồng. Mặt tiền của tòa tiền đường là dãy cửa bức bàn, khung được tạo bằng các gờ chỉ, giữa là ván bưng tạo kiểu panô. Hai bên xây bít bằng tường gạch, giữa bức tường có hai cửa sổ. Hai hàng cột trong tòa tiền đường được làm kiểu búp đòng, giữa to hai đầu nhỏ, đặt chân trên tảng đá xanh hình vuông, trên mặt đá tảng nổi gương tròn tương xứng với đường kính của chân cột. Dàn mái còn giữ được một số hoành tròn đường kính 12cm, các lần trùng tu sau này bổ sung nhiều hoành vuông có cạnh 12cm. Hậu cung 3 gian bắt mái với gian giữa của tòa tiền đường, cửa giữa của hậu cung có mảng chạm hai con long mã chầu, mặt hổ phù với chân nắm lấy đầu của hai con long mã. Dưới bức chạm là bức đại tự khắc 4 chữ Hán lớn: "Sơn xuyên chung tú" (sáng đẹp cùng sông núi). Ở sân đình còn có hệ thống cột đồng trụ, gồm có đế trụ đắp theo kiểu thắt cổ bổng, thân cột được đắp gờ nổi ở bốn cạnh, phía trên là đèn lồng và trên cùng là trục đỡ hai quả dành dành lớn. Tiếp đến là tả môn và hữu môn đăng đối, mỗi cửa có 4 mái cong với đầu đao, ngói ống. Trong sân là hai dãy tảo xá, mỗi dãy 3 gian dùng để đón khách trong các kỳ lễ hội. Tại nơi đây, đêm 19 tháng 8 năm 1945 lực lượng chính của đội quân cách mạng giành chính quyền của huyện đã tập trung để chờ lệnh xuất phát. Sáng sớm ngày 20 tháng 8 năm 1945, tại sân đình Lũng Xuyên 3 tiểu đội vũ trang của huyện đã làm lễ tuyên thệ trước lá cờ tổ quốc, sau đó tiến quân theo kế hoạch đã định. Trước đây đình Lũng Xuyên có nhiều đồ thờ tự đẹp. Qua năm tháng chiến tranh, nhiều hiện vật bị mất mát. Hiện nay trong hậu cung chỉ còn cỗ ngai thờ thần hoàng Lý Thường Kiệt là tiêu biểu, ngai cao 1,1m chạm khắc tập trung trên thân và tay ngai. Trong hậu cung còn có chiếc chuông nhỏ cao 50cm, đáy 30cm, quai chuông tạo hình hai đầu rồng một thân. Ngoài ra, đình Lũng Xuyên còn có một bộ tam sự bằng đồng gồm đỉnh hương và hai cây nến. Đỉnh hương cao 50cm, thân hình bầu, có gắn hai quai, 3 chân tạo hình chân ly, nắp tạo hình con nghê đang cười. Những hiện vật trên góp phần tạo nên giá trị văn hóa của đình Lũng Xuyên. Nguồn: Cổng Thông Tin Điện Tử Tỉnh Hà Nam

Ninh Bình

7229 lượt xem

Xếp hạng : Di tích cấp quốc gia

Mở