Di tích lịch sử

Việt Nam
Đền tưởng niệm Sông Thạch Hãn – Bến thả hoa đăng

Đền tưởng niệm Sông Thạch Hãn – Bến thả hoa đăng

Sông Thạch Hãn – Dòng sông huyền thoại của mùa Hè đỏ lửa Sông Thạch Hãn là con sông lớn nhất tỉnh Quảng Trị, bắt nguồn từ dãy Trường Sơn và chảy qua trung tâm thị xã Quảng Trị trước khi đổ ra biển Cửa Việt. Không chỉ mang vẻ đẹp hiền hòa của miền Trung, dòng sông còn là biểu tượng lịch sử thiêng liêng, gắn liền với cuộc chiến đấu bảo vệ Thành cổ Quảng Trị trong 81 ngày đêm mùa Hè đỏ lửa năm 1972. Trong chiến dịch lịch sử ấy, sông Thạch Hãn là tuyến đường huyết mạch đưa bộ đội, vũ khí và lương thực vượt qua mưa bom bão đạn vào giữ Thành cổ. Hàng nghìn chiến sĩ đã anh dũng chiến đấu và vĩnh viễn nằm lại dưới lòng sông, khiến Thạch Hãn trở thành dòng sông của ký ức, lòng biết ơn và khát vọng hòa bình. Đến nay, bến thả hoa bên sông là nơi diễn ra nhiều hoạt động tri ân, đặc biệt vào dịp kỷ niệm Ngày Thương binh – Liệt sĩ 27/7, khi hàng nghìn hoa đăng được thả trôi theo dòng nước để tưởng nhớ những người đã hy sinh vì độc lập dân tộc. Ngày nay, đến với sông Thạch Hãn, du khách không chỉ được chiêm ngưỡng khung cảnh yên bình của một dòng sông lịch sử mà còn có cơ hội kết nối hành trình tham quan Thành cổ Quảng Trị, Đền tưởng niệm sông Thạch Hãn - Bến thả hoa đăng, Nghĩa trang Liệt sĩ Quốc gia Trường Sơn và nhiều "địa chỉ đỏ" nổi tiếng khác. Đây là điểm đến giàu giá trị lịch sử, góp phần lan tỏa thông điệp về hòa bình, lòng yêu nước và sự tri ân đối với các thế hệ cha anh đã hy sinh vì Tổ quốc. Nguồn: Theo Phong Nha Discovery

Quảng Trị

39 lượt xem

Xếp hạng : Di tích cấp quốc gia đặc biệt

Mở

Trường Bồ Đề

Trường Bồ Đề

Trường Bồ Đề – Chứng tích lịch sử của 81 ngày đêm bảo vệ Thành cổ Quảng Trị Trường Bồ Đề nằm trên đường Trần Hưng Đạo, phường Quảng Trị, tỉnh Quảng Trị, cách Thành cổ Quảng Trị khoảng 1 km về phía tây nam. Ban đầu là một cơ sở giáo dục, nhưng trong cuộc chiến đấu bảo vệ Thành cổ Quảng Trị năm 1972, ngôi trường đã trở thành một điểm chốt quan trọng của quân và dân ta trong suốt 81 ngày đêm chiến đấu ác liệt. Bom đạn chiến tranh đã khiến công trình bị tàn phá nặng nề. Những bức tường chi chít vết đạn, các dầm bê tông gãy vỡ và dấu tích hư hỏng vẫn được giữ lại như minh chứng chân thực về sự khốc liệt của chiến trường Quảng Trị. Cùng với Thành cổ Quảng Trị, Bến thả hoa sông Thạch Hãn, Nhà thờ Long Hưng và Nhà thờ Tri Bưu, Trường Bồ Đề là một địa điểm tiêu biểu trong hệ thống di tích lưu niệm sự kiện 81 ngày đêm năm 1972. Hiện nay, di tích được bảo tồn theo nguyên tắc giữ gìn tối đa hiện trạng gốc. Hệ thống khung thép được lắp đặt để gia cố kết cấu công trình, đảm bảo an toàn cho du khách nhưng vẫn giữ nguyên những dấu tích chiến tranh. Đồng thời, nơi đây được định hướng trở thành không gian giáo dục truyền thống, giúp các thế hệ hôm nay hiểu hơn về tinh thần chiến đấu kiên cường và sự hy sinh của quân và dân Quảng Trị. Ngày nay, Trường Bồ Đề là điểm dừng chân ý nghĩa trên hành trình về nguồn tại Quảng Trị, góp phần lan tỏa giá trị lịch sử, giáo dục truyền thống yêu nước và tri ân những người đã hy sinh vì độc lập dân tộc. Theo: Bảo tàng Lịch sử Quốc gia

Quảng Trị

330 lượt xem

Xếp hạng : Di tích cấp quốc gia đặc biệt

Mở

Nhà thờ Long Hưng

Nhà thờ Long Hưng

Nhà thờ Long Hưng tọa lạc tại xã Hải Phú, tỉnh Quảng Trị (trước đây thuộc huyện Hải Lăng), nằm ngay trên Quốc lộ 1A. Được xây dựng trong giai đoạn 1955–1956, nhà thờ có kiến trúc bê tông cốt thép kiên cố, từng là nơi sinh hoạt tôn giáo của giáo dân địa phương. Trong cuộc chiến bảo vệ Thành Cổ Quảng Trị năm 1972, nhà thờ trở thành điểm chiến đấu ác liệt của quân và dân ta. Sau nhiều đợt bom đạn, công trình bị tàn phá nặng nề nhưng phần khung kiến trúc vẫn còn tồn tại như một chứng tích sống động về sự khốc liệt của chiến tranh và tinh thần chiến đấu kiên cường của quân dân Quảng Trị trong 81 ngày đêm bảo vệ Thành Cổ. Ngày nay, những bức tường đổ nát, tháp chuông và dấu tích còn sót lại của nhà thờ vẫn được gìn giữ, trở thành địa chỉ đỏ giáo dục truyền thống cách mạng và là điểm tham quan thu hút du khách khi đến Quảng Trị. Nơi đây không chỉ giúp du khách tìm hiểu về lịch sử đấu tranh của dân tộc mà còn là không gian tưởng niệm những người đã anh dũng hy sinh vì độc lập, tự do của Tổ quốc. Với giá trị đặc biệt về lịch sử, Nhà thờ Long Hưng đã được xếp hạng Di tích quốc gia đặc biệt trong cụm di tích gắn với sự kiện 81 ngày đêm bảo vệ Thành Cổ Quảng Trị. Đây là điểm đến ý nghĩa dành cho những ai muốn tìm hiểu về lịch sử và tri ân các thế hệ cha anh đã ngã xuống vì hòa bình hôm nay. Nguồn: Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch.

Quảng Trị

343 lượt xem

Xếp hạng : Di tích cấp quốc gia

Mở

Đình làng cổ Hà Thượng

Đình làng cổ Hà Thượng

Đình làng Hà Thượng nằm về phía Đông của làng Hà Thượng, thị trấn Gio Linh, huyện Gio Linh, tỉnh Quảng Trị; cách quốc lộ 1A chưa đầy 1 km về phía Đông và cách đường 75B khoảng 800m về phía Bắc. Đình có diện tích 8.450m2, nằm tại vị trí đắc địa, lưng tựa vào xóm làng, mặt hướng ra hồ lớn và cánh đồng trù phú. Phía xa xa trước mặt đình là một dải đất cao như tấm bình phong. Vị trí này phù hợp với phong thuỷ của người Việt. Theo các tài liệu lưu trữ, đình làng Hà Thượng được xây dựng năm Chính Hoà thứ 11 (năm 1690). Đến năm Thành Thái thứ 15 (1903), ngôi đình được đại trùng tu và xây mới một số công trình khác như cổng ngõ, tường thành. Phương pháp sử dụng tường gạch và cột xi măng đã được áp dụng. Hệ thống cột cù, cột hiên được thay bằng các trụ gạch đắp vữa và trang trí. Hệ thống tường cũng đã được xây lên xung quanh hai gian tiền sảnh…Toàn bộ khuôn viên bao gồm một tòa đại đình và 4 ngôi miếu thờ 4 vị thần: Miếu thờ Thành hoàng, hai miếu thờ hai vị khai khẩn họ Lê và họ Nguyễn, miếu thờ ông Lê Hiếu. Cấu trúc bộ khung gỗ chịu lực được thực hiện theo mô thức của một ngôi nhà rường 3 gian 2 chái, phân bố theo 6 hàng cột. Trên bộ mái lợp ngói, mái thẳng, độ dốc vừa phải; bờ nóc, bờ quyết, đầu đao gắn các mảng trang trí rồng chầu nguyệt, giao hồi văn, giao lá bằng nghệ thuật đắp vữa và ghép mảnh sành sứ. Bên trong ngôi đình được phân thành hai phần. Phần tiền đường gồm không gian của gian chái trước và hai gian ngoài dùng làm nơi sinh hoạt văn hóa, hội họp, ăn uống. Phần hậu liêu gồm không gian của gian chái sau và một gian trong dùng làm nơi thờ cúng, tế tự. Hệ thống cổng và tường thành phía trước đình được xây bằng gạch, xi măng; nền móng khá cao được xây bằng đá bazan. Các ngôi miếu thờ ở trong khuôn viên đình làng Hà Thượng đều có cổng và tường khép kín. Cấu trúc theo kiểu nhà rường một gian hai chái, các miếu đều có dạng gác lửng dựa trên bốn cột chính của bộ khung gỗ, có chức năng làm bệ thờ. Với lối xây dựng này, đình làng Hà Thượng được xem là sản phẩm tiêu biểu duy nhất còn sót lại thể hiện kiến trúc đình làng của miền Trung vào thế kỷ XVII. Đây là ngôi đình mà theo đánh giá của các nhà nghiên cứu lịch sử và mỹ thuật là cổ nhất, còn sót lại trong hệ thống di tích đình làng tại Quảng Trị với lối kiến trúc độc đáo nhất miền Trung; đây cũng chính là nơi thành lập Chi bộ Cộng sản đầu tiên của huyện Do Linh - Chi bộ Chợ Cầu. Với những giá trị lịch sử và kiến trúc Đình làng cổ Hà Thượng được công nhận di tích quốc gia năm 1991. Nguồn Cổng thông tin điện tử huyện Gio Linh, tỉnh Quảng Trị

Quảng Trị

5560 lượt xem

Xếp hạng : Di tích cấp quốc gia.

Mở

Di Tích Bến Đò Tùng Luật( Bến đò B)

Di Tích Bến Đò Tùng Luật( Bến đò B)

Bến đò Tùng Luật là một trong những khu di tích lịch sử đặc biệt nổi tiếng, góp phần quan trọng trong công cuộc đấu tranh chống Pháp của nhân dân ta. Vào ngày 6/1/1950, ngay chính tại bến đò, Trung đoàn 95 và Đại đội 354 vượt sông, đánh bại quân Pháp tại đồn Cửa Tùng. Qua đó khẳng định sức mạnh, ý chí chiến đấu quật cường và tinh thần đấu tranh giải phóng dân tộc của quân và dân ta. Dưới sự lãnh đạo của Đảng, quân và dân các xã đông Vĩnh Linh và Gio Linh đã hợp lực phá tan các đợt càn quét của giặc Pháp, loại khỏi vòng chiến đấu hàng trăm lính Pháp, tề ngụy, phá hủy nhiều phương tiện quân sự hiện đại của chúng. Bến đò Tùng Luật đã hoàn thành sứ mệnh lịch sử, là cầu nối giữa hai bờ nam bắc, góp phần cùng với nhân dân cả nước đánh tan âm mưu xâm lược của thực dân Pháp. Ngày 21-7-1954, Hiệp định Geneve được ký kết, tưởng chừng đất nước sẽ hưởng hòa bình, độc lập, tuy nhiên, bến đò Tùng Luật lại phải bước vào những trang sử đầy máu, nước mắt. Lịch sử chống Mỹ-ngụy của bến đò Tùng Luật bắt đầu từ những chuyến đò xuyên màn đêm, bí mật đưa chiến sĩ, cán bộ quân báo vào Nam hoạt động trong những năm 1956-1965. Trong những chuyến đò đó có vị khách đặc biệt được bí mật đón qua sông, đó là Bí thư thứ nhất Lê Duẩn. Phải chịu những thất bại cay đắng của ngụy quyền Sài Gòn trước phong trào cách mạng ở miền Nam, quân Mỹ trực tiếp tham chiến. Bến đò Tùng Luật một lần nữa trở thành tâm điểm của cuộc chiến giữa chính nghĩa và bạo tàn. Với mật danh là “Bến đò B”, Bến đò Tùng Luật lại là cầu nối hai bờ bắc-nam sông Hiền Lương, là một trong những điểm xuất phát của đường Hồ Chí Minh trên biển, điểm khởi đầu của tuyến giao thông duy nhất nối đất liền với đảo Cồn Cỏ anh hùng. Đại đội dân quân thôn Tùng Luật được thành lập với quân số 110 người, có nhiệm vụ bảo vệ bến đò, chuyên chở bộ đội, dân quân, dân công hỏa tuyến và lương thực, vũ khí, đạn dược. Bến đò B chuyên chở các đoàn dân công hỏa tuyến của các xã: Vĩnh Long, Vĩnh Tân, Vĩnh Trung, Vĩnh Tú, Vĩnh Thành, Vĩnh Hòa... qua sông vào Nam phục vụ cuộc tấn công cứ điểm đồi 31, 28, Quán Ngang, Cửa Việt. Cũng trong thời gian chiến tranh ác liệt này, Bến đò B Tùng Luật được giao thêm nhiệm vụ vận chuyển, đưa người dân khu vực phía nam sông Bến Hải sơ tán ra miền Bắc. Bến đò B Tùng Luật đưa được gần 1,4 triệu lượt chiến sĩ, dân quân, dân công hỏa tuyến qua lại. Cũng chính bến đò này là điểm xuất phát của Đại đội 22, đơn vị cảm tử vận chuyển vũ khí đạn dược, thuốc men, lương thực cho đảo Cồn Cỏ bị hải quân Mỹ và chính quyền Sài Gòn phong tỏa. Hằng đêm, khi giông tố, biển động, mỗi con thuyền mang trên mình một tiểu đội dân quân được truy điệu sống trước khi lên thuyền ra đảo. Những dân quân vốn là những người dân đánh cá hiền lành bỗng trở thành chiến sĩ, sẵn sàng để “Sóng gọi hồn ta về đảo nhỏ”. Với những chiếc thuyền gỗ, thuyền nan chạy buồm, chèo tay xuyên màn đêm vào những thời khắc biển động, từ năm 1965 đến 1972, Đại đội 22 đã vận chuyển hàng nghìn tấn đạn dược, vũ khí, lương thực, thực phẩm cho đảo Cồn Cỏ, góp phần giữ vững tiền đồn của Tổ quốc trên Biển Đông. Bến đò B là điểm sinh tử vô thường nhất của đất nước thời kỳ chiến tranh chống Mỹ, cứu nước. Biết bao người con của đất Tùng Luật và nhiều miền quê khác của đất nước đã nằm lại nơi đây với máu, xương hòa trộn nước sông Hiền Lương và bùn cát của đáy sông này. Nhờ những đóng góp to lớn trong 2 cuộc chiến tranh chống Pháp và chống Mỹ cứu nước, vào năm 1996, di tích lịch sử bến đò Tùng Luật đã được nhà nước ta công nhận và xếp hạng là di tích lịch sử quốc gia. Để khắc ghi những kỳ tích của quân, dân đã chiến đấu và hy sinh anh dũng, tại bến đò này đã xây dựng tượng đài Bến đò B. Tượng đài được xây trên một diện tích khoảng 100m2. Tuy nhiên, theo các nhân chứng lịch sử và các nhà nghiên cứu, quy mô cấu trúc và hồn phách của tượng đài chưa thật sự tương xứng với những kỳ tích to lớn của quân, dân ta, nhất là sự hy sinh của rất nhiều chiến sĩ trên mảnh đất này. Vì vậy, cán bộ và người dân thôn Tùng Luật, người dân Vĩnh Giang, Vĩnh Linh và những người lính từ nhiều miền đất nước từng chiến đấu nơi đây, những người có con, em đã nằm lại nơi này rất mong muốn và đề nghị chính quyền địa phương, cơ quan chức năng tỉnh Quảng Trị sớm nghiên cứu, tu bổ, nâng tầm di tích lịch sử Bến đò B Tùng Luật cho tương xứng với chiến tích lịch sử hào hùng của địa danh này. Nguồn Cổng thông tin điện tử tỉnh Quảng Trị

Quảng Trị

5661 lượt xem

Xếp hạng : Di tích cấp quốc gia.

Mở

Khu tưởng niệm vụ thảm sát Mỹ Thủy 1948

Khu tưởng niệm vụ thảm sát Mỹ Thủy 1948

Mỹ Thuỷ là một làng nằm phía Nam của xã Hải An, huyện Hải Lăng, tỉnh Quảng Trị, cách thị trấn huyện lỵ Hải Lăng và quốc lộ 1A chừng 15 km về phía Đông theo tỉnh lộ 8. Địa điểm khu vực phía Bắc đường tỉnh lộ 8, đầu làng Mỹ Thuỷ là Trung tâm diễn ra vụ thảm sát làng Mỹ Thuỷ năm 1948 đã được bộ văn hoá thông tin xếp hạng di tích quốc gia theo quyết định số 38-2001/Quyết Định -Văn Hóa Thể Thao ngày 12 tháng 7 năm 2001. Mỹ Thuỷ là một làng biển nằm trên triền Đông của cồn cát đại trường sa được hình thành tương đối muộn từ sau thế kỷ XVII. Cũng như nhiều làng biển khác trên vùng đất Quảng Trị, người dân Mỹ Thủy từ lâu đời đã gắn chặt cuộc sống của mình với biển bằng sự chống chọi với sóng gió và những nỗi lo toan vất vã cực nhọc trong kế mưu sinh. Chính trong hoàn cảnh đó đã hun đúc nên trong con người Mỹ Thuỷ đức tính chịu thương, chịu khó, đôn hậu, bao dung và một tấm lòng khẳng khái, kiên trinh, bất chấp kẻ thù để đi theo cách mạng. Trong những năm 1930-1945, phong trào cách mạng ở Mỹ Thuỷ dưới sự chỉ đạo của chi bộ Triệu Lăng đã có những hoạt động tích cực, góp phần cùng cả vùng Hải Lăng làm nên thắng lợi của cuộc tổng khởi nghĩa tháng 8 năm 1945. Sau cách mạng tháng 8 thắng lợi, Mỹ Thuỷ là một thôn của xã Hải Châu. Từ khi thực dân Pháp quay trở lại bình định Quảng Trị (tháng 01 năm 1947), do có nhiều ưu thế về chiến lược nên Mỹ Thuỷ vừa là vùng giáp ranh vừa là vùng tự do) để khống chế và làm chủ địa bàn nhưng vẫn không thể lập được hội tề. Phong trào cách mạng vẫn luôn duy trì và phát triển. Dựa vào vị trí giao thông thuỷ bộ thuận lợi lại xa trung tâm chính trị của Mỹ Thuỷ, bộ đội chủ lực, cán bộ kháng chiến đã chọn đây làm địa bàn dừng chân, củng cố lực lượng, tiến hành chiến tranh du kích. Nhân dân Mỹ Thuỷ một lòng theo Đảng, theo kháng chiến. Đặc biệt, sau năm 1947, chiến trường Trị Thiên gặp nhiều khó khăn: dân đói , cán bộ, bộ đội thiếu lương thực, thuốc men, đạn dược ... Quân khu IV đã tổ chức vận động các tỉnh Thanh Hoá, Nghệ An, Hà Tĩnh chi viện để giúp Trị Thiên tiếp tục kháng chiến. Do không có điều kiện vận chuyển đường bộ nên hàng hoá phải vận chuyển bằng đường biển và tập kết ở các vùng bãi ngang, xa tầm kiểm soát, khống chế của chính quyền Pháp và tay sai. Ở Mỹ Thuỷ đường giao thông liên lạc tiếp tế vận tải Bình Trị Thiên đã nhiều lần tập kết và phân tán hàng hóa, vũ khí trót lọt. Chính điều này đã làm cho quân Pháp vô cùng cay cú và điên cuồng tìm cách tiêu diệt phong trào cách mạng tại Mỹ Thuỷ, liên tục tổ chức các cuộc càn quét, đốt phá và gây ra những tội ác dã man. Kể từ khi tiến quân bình định Quảng Trị ( tháng 01 năm 1947 – ngày 08 tháng 4 năm 1948), quân Pháp đã tiến hành 3 lần càn quét, đốt phá thôn Mỹ Thuỷ . Ngày 05 tháng 3 năm 1947 (ngày 2 tháng 2 năm Đinh Hợi), quân Pháp tràn vào làng Mỹ Thuỷ đốt cháy gần hết nhà cửa, giết chết 3 người. Trong các ngày 17,18 và 19/3 /1948, thực dân Pháp đã huy động lực lượng đồng loạt càn quét vào các thôn xóm thuộc vùng đồng bằng Hải Lăng với chiến dịch mang tên “Tuần lễ Hải Lăng”. Trong đợt càn quét quy mô này, chúng đã giết hại hơn 1.300 người, đốt cháy hàng ngàn ngôi nhà, cướp đi rất nhiều tài sản, trong đó có làng Mỹ Thuỷ. Ngày 19/3/1948, Chỉ sau 1 giờ đồng hồ gây tội ác rồi rút đi, quân đội Pháp và tay sai đã giết chết 74 người dân Mỹ Thuỷ vô tội; Trong đó phần lớn là đàn ông trung niên, trụ cột gia đình. Hàng trăm mét lưới, ngư cụ và hơn 20 xuồng đánh cá bị phá huỷ hoàn toàn. Đây vừa là cuộc thảm sát vừa là đòn đánh vào kinh tế hồng đè bẹp tinh thần, ý chí kháng chiến của nhân dân Mỹ Thuỷ. Chưa đầy 20 ngày sau vụ thảm sát, khi cỏ trên những nấm mồ của những người bị giết ngày 19 tháng 3 còn chưa kịp mọc thì ngày 08 tháng 4 năm 1948, thực dân Pháp lại tiến hành một cuộc tàn sát, đốt phá dã man hơn, tàn bạo hơn theo đúng nghĩa “3 sạch” vào dân làng Mỹ Thuỷ. Sau hơn 3 giờ thoả sức đốt phá, hãm hiếp cướp bóc, quân Pháp mới chịu rút quân để lại một làng Mỹ Thuỷ hoang tàn, tang tóc; cát trắng loang lổ máu người, hàng đống thịt xương ngập ngụa trong những ngôi nhà đang cháy. Cả làng chỉ sót lại một vài đứa trẻ và chưa đầy 20 người. Có 452 người dân vô tội đã bị sát hại cùng toàn bộ nhà cửa, ngư cụ của dân làng Mỹ Thuỷ bị huỷ hoại hoàn toàn. Đây là một vụ thảm sát dã man và có số lượng người chết nhiều nhất mà thực dân Pháp đã gây ra cho đồng bào Quảng Trị. Vụ thảm sát Mỹ Thuỷ năm 1948 là bằng chứng hùng hồn về tội ác giết người dã man của thực dân Pháp đối với nhân dân Mỹ Thuỷ nói riêng và nhân dân Quảng Trị nói chung; là nỗi đau thương mất mát, nhưng cũng là biểu thị một truyền thống đấu tranh anh dũng, kiên cường của những người đã hy sinh vì độc lập dân tộc. Nguồn Cổng thông tin điện tử tỉnh Quảng Trị.

Quảng Trị

5302 lượt xem

Xếp hạng : Di tích cấp quốc gia.

Mở

Chiến thắng Khe Sanh - Làng Vây

Chiến thắng Khe Sanh - Làng Vây

Đầu năm 1968, Khe Sanh - Hướng Hóa bỗng nhiên được cả thế giới chú ý, theo dõi khi Bộ Chính trị, Quân ủy Trung ương quyết định mở Chiến dịch Đường 9 - Khe Sanh. Không chỉ đội ngũ cố vấn quân sự của Mỹ ở Sài Gòn mà ngay cả những chuyên gia quân sự hàng đầu của nước Mỹ cũng bị “mất phương hướng” khi cho rằng sẽ có một “Điện Biên phủ khác” ở Khe Sanh. Tổng thống Mỹ B.Johnson chỉ đạo thiết lập “Phòng tình hình đặc biệt”, làm sa bàn Khe Sanh ở Washington, yêu cầu tướng Westmoreland - Tư lệnh Bộ chỉ huy cố vấn quân sự Mỹ tại miền Nam Việt Nam phải ký giấy cam đoan không được để mất Khe Sanh bằng mọi giá vì đó là danh dự của nước Mỹ. Thung lũng Khe Sanh nằm ở vùng rừng núi heo hút phía tây Quảng Trị, được xác định là một trong những địa bàn chiến lược ở khu vực giáp ranh giới tuyến. Năm 1966, tại khu vực nam vĩ tuyến 17 đến đường 9 - Khe Sanh, Mỹ đã cho xây dựng tuyến phòng thủ vô hình, lấy tên là hàng rào điện tử McNamara. Ở vị trí “mỏ neo” khu vực ngã ba biên giới, Khe Sanh được định vị là một trong ba mắt thần của hàng rào điện tử McNamara, nơi Mỹ tập trung xây dựng một tập đoàn cứ điểm mạnh gồm Chi khu quân sự Hướng Hóa, cụm cứ điểm Làng Vây và sân bay Tà Cơn, được trang bị đầy đủ các loại vũ khí hiện đại, tối tân nhất lúc bấy giờ với nhiều hệ thống công sự dày đặc có sự yểm trợ bằng máy bay B52, cùng với đội quân tinh nhuệ nhằm cắt đứt tuyến chi viện trên đường mòn Hồ Chí Minh, ngăn chặn quân ta từ Bắc vào, từ Lào sang và làm tấm bình phong che chắn cho khu vực phòng thủ của chúng ở phía Đông đường 9. Vào thời điểm đầu năm 1968, có nhiều nguyên nhân khiến người Mỹ tin rằng quân giải phóng sẽ thực hiện trận quyết chiến chiến lược ở Khe Sanh. Đầu tiên, từ sự tương đồng về yếu tố địa hình và vai trò chiến lược giữa lòng chảo Điện Biên Phủ và Khe Sanh. Tiếp đến, Mỹ tin rằng với sự “từ bỏ” địa bàn truyền thống nông thôn của ta thì rừng núi sẽ là bàn đạp để ta đánh vào đồng bằng và đô thị. Từ cấp chỉ huy cho đến viên đại sứ Mỹ, tất cả đều phán đoán quân giải phóng không đủ sức tấn công vào các thành phố, đô thị mà đó chỉ là “đòn nghi binh”; chiến trường chính nhất định sẽ diễn ra ở Khe Sanh. Trung ương Cục miền Nam còn cố ý để rơi những tài liệu khiến Mỹ càng tin rằng Khe Sanh chính là nơi diễn ra một cuộc quyết chiến chiến lược. Về phía ta, sau những thắng lợi giành được trong mùa khô 1965 - 1966, 1966 - 1967, Hội nghị Bộ Chính trị tháng 12/1967 nhận định: Chúng ta đã thắng địch cả về chiến lược và chiến thuật, lực lượng quân sự và chính trị của ta ở miền Nam đã lớn mạnh hơn bất cứ thời kỳ nào, ta đang nắm quyền chủ động trên khắp chiến trường. “Diễn biến cơ bản của tình hình là ta đang ở thế thắng, thế chủ động và thuận lợi, địch đang ở thế thua, thế bị động và khó khăn”. Trên cơ sở đó, Bộ Chính trị chủ trương mở: “đòn tiến công của bộ đội chủ lực ở hướng phối hợp chiến lược đặc biệt quan trọng là Đường 9 - Khe Sanh nhằm thu hút, giam chân lực lượng chiến lược của địch…” Thực hiện chủ trương chiến lược trên, thể theo đề nghị của Bộ Tổng Tham mưu, Bộ Chính trị quyết định mở Chiến dịch tiến công Đường 9 - Khe Sanh xuân hè 1968. Bộ Tổng tư lệnh điều động cho chiến dịch một lực lượng mạnh, gồm 4 sư đoàn (304, 320, 324 và 325), Trung đoàn 270 và 2 tiểu đoàn bộ đội địa phương tỉnh Quảng Trị, 1 tiểu đoàn và 5 đại đội đặc công, 5 trung đoàn pháo binh (45, 84, 164, 204 và 675), 3 trung đoàn pháo phòng không (128, 282, 241), 1 tiểu đoàn xe tăng (4 đại đội), 1 tiểu đoàn thông tin, 1 tiểu đoàn trinh sát, 1 tiểu đoàn phòng hóa, 1 trung đoàn và 2 tiểu đoàn công binh, 1 đại đội súng phun lửa, 6 tiểu đoàn vận tải và lực lượng vũ trang địa phương các huyện Gio Linh, Cam Lộ, Hướng Hóa. Toàn bộ lực lượng trên được chỉ huy thống nhất của Bộ Tư lệnh Chiến dịch, do Thiếu tướng Trần Quý Hai - Phó Tổng Tham mưu trưởng làm Tư lệnh, Thiếu tướng Lê Quang Đạo - Phó Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị làm Chính ủy. Tại thời điểm ta mở chiến dịch, lực lượng địch phòng ngự ở Đường 9 - Khe Sanh có khoảng 45.000 quân, trong đó có 28.000 quân Mỹ (10 tiểu đoàn của Sư đoàn 3 thủy quân lục chiến, 9 tiểu đoàn pháo, 3 tiểu đoàn và 1 đại đội cơ giới; được bố trí thành tuyến trước ở phía đông: từ cứ điểm 31, Dốc Miếu, Cồn Tiên, Quán Ngang đến miếu Bái Sơn; tuyến sau là Đông Hà, Cam Lộ, Ái Tử và thị xã Quảng Trị; tuyến giữa là các cứ điểm Tân Lâm, Ca Lu, 241 (phía tây thị xã Quảng Trị); khu vực phía tây gồm các cứ điểm Hướng Hóa, Làng Vây, Huội San và cụm cứ điểm Tà Cơn (gồm các cứ điểm Động Tri, 832, 845…). Với quyết tâm “Biến Khe Sanh thành địa ngục trần gian của quân Mỹ”, ngày 20/01/1968, ta mở chiến dịch đường 9 - Khe Sanh. Sau 170 ngày đêm liên tục tiến công, vây hãm, quân ta đã loại khỏi vòng chiến đấu 17.000 tên địch, bắn rơi và phá hủy 480 máy bay, 120 xe quân sự, 65 đại bác và súng cối cỡ lớn, 55 kho xăng và đạn, thu hàng ngàn súng các loại, kết thúc thắng lợi Chiến dịch đường 9 - Khe Sanh lịch sử, huyện Hướng Hóa được giải phóng hoàn toàn với hơn 10.000 dân. Thắng lợi của chiến dịch đường 9 - Khe Sanh đã chứng tỏ sự đúng đắn, sáng tạo của Đảng ta trong việc đấu trí, đấu lực với kẻ thù, không chỉ với Bộ chỉ huy quân sự Mỹ mà còn cả với những nhà hoạch định chiến lược “sừng sỏ” ở Nhà Trắng. Chiến thắng Khe Sanh là kết quả của đường lối lãnh đạo đúng đắn, sáng tạo của Đảng ta, đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh. Nguồn Cổng thông tin điện tử huyện Hướng Hóa, tỉnh Quảng Trị.

Quảng Trị

5731 lượt xem

Xếp hạng : Di tích cấp quốc gia.

Mở

Trụ Sở Chính phủ Cách mạng Lâm thời Cộng hòa Miền Nam Việt Nam (6/1973 -  5/1975).

Trụ Sở Chính phủ Cách mạng Lâm thời Cộng hòa Miền Nam Việt Nam (6/1973 -  5/1975).

Địa điểm khu trụ sở Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam (từ tháng 6/1973 đến tháng 5/1975) nằm ở thôn Tân Hòa thuộc địa phận thị trấn Cam Lộ, huyện Cam Lộ; cách quốc lộ 9 hơn 200m về phía Bắc, cách thị xã Đông Hà 12km về phía Tây. Di tích đã được Bộ Văn Hóa Thể Thao xếp hạng quốc gia theo Quyết định số 154/Quyết Định - Văn Hóa ngày 25 tháng 01 năm 1991. Thuộc thị trấn Cam Lộ, cách Uỷ Ban Nhân Dân huyện Cam Lộ 150 m về phía Bắc, được khởi công xây dựng từ ngày 06/05/1973, đến ngày 30/05/1973 thì hoàn thành. Mặc dù được xây dựng khẩn trương trong một thời gian ngắn nhưng vẫn mang dáng vẻ bề thế, khang trang và đầy đủ các tiện nghi sinh hoạt thiết yếu. Tại đây, ngày 06/06/1973, Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam đã làm lễ ra mắt nhân dân trong buổi lễ mít tinh long trọng, trước sự chứng kiến của đông đảo phóng viên báo chí trong và ngoài nước. Đại biểu của 19 nước anh em bầu bạn khắp 5 châu tới dự và cổ vũ nhiệt tình cuộc đấu tranh hy sinh gian khổ của nhân dân Miền Nam như đồng chí Phiden Catxtơrô - Chủ tịch Đảng cộng sản CuBa, đồng chí Gioóc-giơ-mác-xen - Bí thư Đảng cộng sản Pháp, ... Khu Chính phủ Cách Mạng Lâm Thời từ khi ra đời đã tập hợp các lực lượng dân chủ đấu tranh đòi dân chủ và độc lập dân tộc, đại diện cho nhân dân Miền Nam nói lên tiếng nói của mình, là nơi đặt quan hệ ngoại giao với tất cả các nước anh em bạn bè gần xa trên thế giới. Chính phủ Cách Mạng Lâm Thời với những chiến lược, sách lược nhạy bén, sáng suốt đã lãnh đạo nhân dân Miền Nam đấu tranh đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác. Đưa cuộc kháng chiến thần thánh chống đế quốc Mỹ đến thắng lợi hoàn toàn. Hiện nay, trụ sở được Bảo tàng Quảng Trị xây dựng tượng đài kỷ niệm vào tháng 5/1993 và khôi phục lại Nhà Trình quốc thư. Nguồn Cổng thông tin điện tử huyện Cam Lộ, tỉnh Quảng Trị.

Quảng Trị

4882 lượt xem

Xếp hạng : Di tích cấp quốc gia.

Mở

Các địa điểm liên quan đến Dinh Chúa Nguyễn (1558-1626)

Các địa điểm liên quan đến Dinh Chúa Nguyễn (1558-1626)

Di tích lịch sử các địa điểm liên quan đến Dinh Chúa Nguyễn (1558-1626) xã Triệu Ái, xã Triệu Giang, thị trấn Ái Tử, huyện Triệu Phong. Tháng Mười năm Mậu Ngọ (1558), Nguyễn Hoàng được vua Lê cử vào trấn thủ xứ Thuận Hóa. Nguyễn Hoàng đã cùng đoàn tùy tùng theo đường biển tiến đến cửa Việt Yên (Cửa Việt) sau đó đi ngược sông Thạch Hãn (Quảng Trị) và dừng chân tại bãi cát có tên là Sa Khưu (sau này gọi là bãi Cồn Cờ) thuộc xã Ái Tử, huyện Vũ Xương, phủ Triệu Phong. Vừa đặt chân lên vùng đất mới, Nguyễn Hoàng được quan lại và nhân dân địa phương ủng hộ và ông đã quyết định chọn bãi cát này để đóng doanh trại. Đây là dinh phủ đầu tiên của Chúa Nguyễn tại huyện Vũ Xương, phủ Triệu Phong. Trong 68 năm trấn nhậm trên đất Vũ Xương, Triệu Phong, Nguyễn Hoàng đã 2 lần di dời dinh phủ. Lần thứ nhất là vào năm 1570, sau 12 năm đóng tại Ái Tử, ông cho chuyển dinh trấn của mình sang Trà Bát; lần thứ hai vào năm 1600, ông cho chuyển dinh phủ từ Trà Bát sang Dinh Cát. Việc di dời dinh phủ/dinh trấn là quá trình mở rộng quy mô và kiên cố hóa lỵ sở chứ không phải thay đổi không gian lỵ sở. Trước sau Nguyễn Hoàng vẫn chọn vùng đất Ái Tử - Trà Bát, huyện Vũ Xương làm trung tâm chính trị - hành chính, là nơi tập trung bộ máy đầu não cai quản toàn xứ Thuận - Quảng. Năm 1613, Nguyễn Hoàng qua đời, Chúa Sãi Nguyễn Phúc Nguyên kế vị và ông tiếp tục thực hiện những dự định còn dang dở của cha mình. Đến năm 1626, Chúa Nguyễn Phúc Nguyên cho chuyển dinh phủ vào vùng Phước Yên (nay thuộc huyện Quảng Điền, tỉnh Thừa Thiên - Huế), chấm dứt 68 năm vùng đất Ái Tử - Trà Bát, huyện Vũ Xương, phủ Triệu Phong là lỵ sở của chính quyền họ Nguyễn ở Đàng Trong. Trong hành trình 68 năm đặt lỵ sở tại huyện Vũ Xương, phủ Triệu Phong, ngoài việc cho xây dựng các dinh phủ đảm bảo việc điều hành quản lý của chính quyền, Chúa Tiên Nguyễn Hoàng và Chúa Sãi Nguyễn Phúc Nguyên đã tập trung cho việc thiết lập các thiết chế phục vụ hoạt động quân sự, thương mại và văn hóa mà dấu vết ngày nay còn để lại qua các địa danh như: Bãi Trận, Mô Súng, Cồn Kho, Cồn Tập, Tàu Tượng, Chợ Hôm, Gềnh Phủ, Miếu Trảo Trảo phu nhân… nhằm biến lỵ sở Ái Tử - Trà Bát thành trung tâm đầu não của cả Ðàng Trong; tạo nền móng vững chắc cho công cuộc mở cõi về phương Nam. Với những ý nghĩa và giá trị lịch sử văn hóa đó, các địa điểm liên quan đến Dinh Chúa Nguyễn (1558-1626) trên đất Triệu Phong đã được xếp hạng đặc cách là di tích cấp tỉnh theo Quyết định số 707/Quyết Định -Uỷ Ban ngày 12/7/1996. Tuy nhiên, hơn 20 năm qua, do điều kiện khách quan và chủ quan, sự tàn phá của chiến tranh, thiên tai nên các di tích thời Chúa Nguyễn trên đất Triệu Phong, Quảng Trị hầu như chưa được quan tâm đúng mức về việc bảo tồn và đầu tư, tôn tạo, chưa được đưa vào khai thác để phát huy giá trị lịch sử văn hóa của nó nên chưa khơi dậy, đánh thức tinh thần tự hào của nhiều thế hệ nhân dân Triệu Phong, Quảng Trị về mảnh đất khởi nghiệp của Chúa Nguyễn. Chính điều này là một trong nhiều nguyên nhân làm cho di tích mất dấu vết. Ngày 20/6/2018, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch ban hành Quyết định số 2328/Quyết Định -Bộ Văn Hóa Thể Thao Du Lịch Quyết định xếp hạng di tích Quốc gia Di tích lịch sử các địa điểm liên quan đến Dinh Chúa Nguyễn (1558-1626) xã Triệu Ái, xã Triệu Giang, thị trấn Ái Tử, huyện Triệu Phong. Từ đây, di tích lịch sử các địa điểm liên quan đến Chúa Nguyễn trên đất Triệu Phong đã có cơ sở khoa học trong việc xây dựng quy hoạch, kế hoạch bảo tồn, đầu tư tôn tạo và đặc biệt phát huy giá trị lịch sử, văn hóa, xứng tầm với vai trò và vị thế trong việc giáo dục truyền thống yêu nước, lòng tự hào và tấm lòng tri ân sâu sắc tới các thế hệ tiền nhân đã cống hiến cho sự phát triển của dân tộc. Nguồn Cổng thông tin điện tử tỉnh Quảng Trị.

Quảng Trị

5053 lượt xem

Xếp hạng : Di tích cấp quốc gia.

Mở

DI TÍCH LỊCH SỬ TRẬN CHIẾN THẮNG XUÂN BỒ

DI TÍCH LỊCH SỬ TRẬN CHIẾN THẮNG XUÂN BỒ

Trên đường quốc lộ 1A qua địa phận tỉnh Quảng Bình, từ ngã ba Cam Liên, đi theo hướng Tây Nam khoảng 7km đến Trung tâm huyện Lệ Thủy. Từ đó đi qua cầu chợ Tréo đến thôn Xuân Bồ - xã Xuân Thủy - huyện Lệ Thủy. Hơn 55 năm trước, trên mảnh đất giàu truyền thống văn hóa, truyền thống cách mạng này đã xảy ra một trận chiến quyết liệt giữa ta và quân Pháp, đó là chiến thắng Xuân Bồ (20-5-1950). Để đối phó với âm mưu thủ đoạn của địch, Đảng ủy và Bộ Tư lệnh Bình Trị Thiên quyết định mở các chiến dịch Lê Lai và chiến dịch Thu Đông 1949. Mục đích của các chiến dịch này là mở rộng và củng cố các vùng căn cứ đồng bằng mà trọng điểm là hai huyện Quảng Ninh và Lệ Thủy, quyết tâm bảo vệ mùa màng. Để thực hiện chiến dịch, Bộ Tư lệnh cũng đã tăng cường cho hai huyện Quảng Ninh và Lệ Thủy, Trung đoàn 18 và Trung đoàn 95, thuộc Sư đoàn 325. Trung đoàn 18 được bố trí đóng quân ở xã Xuân Thủy, Tiểu đoàn 436 thuộc Trung đoàn 18 đóng ở thôn Xuân Bồ, xã Xuân Thủy. Sáng 19-5-1950, các đơn vị của Trung đoàn 18 cùng với nhân dân Xuân Bồ tổ chức mít tinh kỷ niệm ngày sinh nhật Bác Hồ đồng thời mừng thắng lợi chiến dịch Lê Lai. Nhận được tin này, tướng Lơ-Brít của Pháp từ Thừa Thiên- Huế bay ra Đồng Hới, quyết định bất ngờ mở cuộc tấn công, âm mưu tiêu diệt Trung đoàn 18. Tiểu đoàn 6 Spha-hy khét tiếng gian ác, được báo chí Pháp luôn khoe khoang là “rất thiện chiến” và “chưa gặp đối thủ” cũng được điều động từ đồng bằng Bắc bộ vào trước đó. Nắm được âm mưu và kế hoạch của địch, các đồng chí lãnh đạo của Trung đoàn 18 lập tức cho giải tán cuộc mít tinh để chuẩn bị chống càn. 8 giờ sáng ngày 20-5-1950, Tiểu đoàn 6 Spha-hy từ đồn Mỹ Trạch, Tiểu đoàn ứng chiến Quảng Bình từ đồn Thượng Phong đều vượt sông sang cùng phối hợp tấn công thôn Xuân Bồ. Cùng lúc đó, pháo binh từ đồn Hòa Luật Nam cũng dồn dập bắn tới. Nhận định cuộc chiến không cân sức giữa ta và địch, đồng chí Trung đoàn trưởng Phùng Duy Phiên đã bố trí Tiểu đoàn 436 bám trụ tại chỗ phối hợp cùng quân dân đánh trả địch, đồng thời quyết định điều thêm Tiểu đoàn 724 (lúc này đang đóng ở thôn Uẩn Áo, đối diện thôn Xuân Bồ) vượt sông sang tiếp viện thêm. Do có sự bố trí lực lượng hợp lý, khi địch vừa tấn công Xuân Bồ, lập tức chúng đã vấp phải sự chống trả quyết liệt của ta. Các cánh quân của ta, với lối đánh mưu trí, dũng cảm, lúc lừa địch lọt sâu vào trận địa rồi tổ chức phản công; lúc đánh bật chúng ra cánh đồng rồi dùng hỏa lực sát thương, ta đã liên tục bẻ gãy nhiều đợt tấn công của địch. Trận đánh diễn ra hết sức quyết liệt. Sau nửa ngày, ta từ thế phòng ngự chuyển sang tấn công. Bộ đội ta xông vào đánh giáp la cà với địch bằng lưỡi lê, báng súng. Cuộc chiến đấu kéo dài đến sẩm tối và chuyển dần từ làng Xuân Bồ ra ngoài cánh đồng. Trước khí thế tấn công dũng mãnh của các lực lượng của ta, địch phải lùi dần. Trên đà thắng lợi, quân ta đuổi đánh địch đến cùng. Kết quả, sau 13 giờ đồng hồ, bằng sự mưu trí, dũng cảm và tinh thần quyết chiến quyết thắng, Trung đoàn 18 cùng với bộ đội địa phương đã bẻ gãy hoàn toàn cuộc tấn công với âm mưu thủ đoạn vô cùng thâm độc của thực dân Pháp, khiến cho kế hoạch của chúng bị thất bại thảm hại. Từ trong cuộc đọ sức quyết liệt với địch đã xuất hiện nhiều tấm gương chiến đấu và hy sinh anh dũng. Đồng chí Lâm Úy, Tiểu đội trưởng của Đại đội 2 đã giằng co quyết liệt với địch, sau khi súng gãy, anh đã dùng lưỡi lê đâm chết hàng chục tên lính Pháp. Lê gãy, anh tiếp tục xông vào vật lộn với tên sĩ quan Pháp, quật hắn cùng ngã xuống sông. Anh đã hy sinh bên dòng Kiến Giang. Cha con bác lão quân Dương Né đã chèo thuyền như con thoi chở bộ đội vượt sông giữa làn mưa đạn của giặc. Các bà mẹ chiến sĩ và chị em phụ nữ không quản hiểm nguy, tiếp cơm nước cho bộ đội và chăm sóc thương binh. Tất cả đã làm nên chiến thắng oanh liệt: chiến thắng Xuân Bồ. Sau trận chiến thắng Xuân Bồ, tập thể cán bộ, chiến sĩ của Sư đoàn 325 đã được Quốc hội, Chính phủ tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân. Trung đoàn 18 được tặng thưởng Huân chương Quân công hạng Nhì. Và, để ghi nhận công lao to lớn cũng như sự hy sinh anh dũng của đồng chí Lâm Úy, Nhà nước đã truy tặng anh danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân. Năm 1992, Bộ Văn hóa-Thông tin đã ký Quyết định xếp hạng di tích lịch sử Chiến thắng Xuân Bồ. Tại địa điểm nơi diễn ra trận đánh, nơi anh hùng Lâm Úy hy sinh đều đã được xây dựng bia đài tưởng niệm, ghi dấu chiến công hào hùng mà lớp cha ông đã phải đổ máu, hy sinh để giành lại từng mảnh ruộng, bờ tre, để nhắc nhở bao thế hệ con em luôn biết cách gìn giữ, bảo vệ, xây dựng quê hương trong thời đại mới. Nguồn Cổng thông tin điện tử xã Xuân Thủy , huyện Lệ Thủy, tỉnh Quảng Bình.

Quảng Trị

5342 lượt xem

Xếp hạng : Di tích cấp quốc gia.

Mở