Di tích lịch sử
Việt NamNúi Thiên Ấn
Núi Thiên Ấn, hay còn gọi là núi Hó, là di tích lịch sử - văn hóa và là biểu tượng thiêng liêng hàng đầu của tỉnh Quảng Ngãi. Nằm bên tả ngạn sông Trà Khúc, ngọn núi mang hình thang cân độc đáo này tựa như một chiếc ấn báu của trời đóng xuống lòng sông, tạo nên thế núi “Niêm Ấn Thiên Hà” nổi tiếng trong thơ ca. Trải qua hàng thế kỷ, núi Thiên Ấn là chứng nhân lặng lẽ ghi dấu công cuộc mở cõi phương Nam của tiền nhân. Nơi đây từng lưu lại những dấu tích kiến trúc tháp cổ và giếng đá ong sâu hút của người Chăm. Sự tiếp quản và xây dựng các công trình của người Việt trên nền phế tích cũ là minh chứng lịch sử rõ nét cho sự dung hợp văn hóa giữa hai dân tộc. Tầm vóc của danh thắng càng được khẳng định vào năm 1717, khi đích thân Chúa Nguyễn Phúc Chu ngự đề sắc phong bảng vàng, vinh danh ngọn núi là “đệ nhất thắng cảnh”.Không chỉ mang giá trị phong kiến xa xưa, Thiên Ấn còn là một địa chỉ đỏ cách mạng. Trên đỉnh núi lộng gió, đây chính là nơi an nghỉ của cụ Huỳnh Thúc Kháng – nhà chí sĩ yêu nước vĩ đại, nguyên Quyền Chủ tịch nước. Sự hiện diện của mộ cụ Huỳnh đã hòa quyện hồn sông núi với khí phách kiên trung của một bậc vĩ nhân. Ngày nay, núi Thiên Ấn vẫn sừng sững đứng đó, như một biểu tượng vĩnh cửu về lịch sử, văn hóa và lòng tự hào dân tộc của người dân đất Quảng. Theo: Báo Thanh Niên
Quảng Ngãi
29 lượt xem
Xếp hạng : Di tích cấp quốc gia
Di tích Chiến thắng Vạn Tường
Quần thể di tích quốc gia Chiến thắng Vạn Tường nằm trên địa bàn xã Bình Hải và Bình Hòa, huyện Bình Sơn, tỉnh Quảng Ngãi, được xếp hạng di tích lịch sử văn hóa quốc gia năm 1982. Quần thể gồm 8 điểm di tích, trong đó có chiến hào thép Lộc Tự, đồi Ngọc Hương, bãi biển An Cường, bãi biển Phước Thiện và Sở chỉ huy Trung đoàn 1 Quân giải phóng. Nơi đây ghi dấu trận Vạn Tường ngày 18/8/1965, khi quân và dân ta chiến đấu chống cuộc hành quân “Starlite” của quân đội Mỹ. Với sự phối hợp giữa bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương và dân quân du kích, quân Giải phóng đã tận dụng địa hình, chiến hào và lối đánh linh hoạt để đánh bại cuộc hành quân “tìm diệt” quy mô lớn của đối phương. Chiến thắng Vạn Tường có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, chứng minh quân và dân ta có khả năng đánh bại quân Mỹ dù đối phương có ưu thế về quân số, hỏa lực và phương tiện chiến tranh. Đây được xem là một trong những trận đánh tiêu biểu, mở đầu cho “cao trào diệt Mỹ” trên chiến trường miền Nam. Ngày nay, các điểm di tích và Bảo tàng Chiến thắng Vạn Tường là nơi lưu giữ những hiện vật, hình ảnh về trận đánh lịch sử, đồng thời là địa chỉ giáo dục truyền thống yêu nước, tinh thần chiến đấu kiên cường của quân và dân Quảng Ngãi. Nguồn: Tỉnh Đoàn Quảng Ngãi
Quảng Ngãi
19 lượt xem
Xếp hạng : Di tích cấp quốc gia
Di tích chiến thắng Ba Gia
Chiến thắng Ba Gia – Mốc son lịch sử trên quê hương Quảng Ngãi. Chiến thắng Ba Gia là một trong những chiến công tiêu biểu của quân và dân Quảng Ngãi trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, góp phần làm phá sản chiến lược "Chiến tranh đặc biệt" của Mỹ ở miền Nam. Chiến dịch diễn ra từ tháng 5 đến tháng 7 năm 1965, nổi bật là trận đánh tại Ba Gia (huyện Sơn Tịnh cũ) từ ngày 29 đến 31/5/1965. Chỉ trong hai ngày đêm, quân giải phóng đã tiêu diệt và làm tan rã một chiến đoàn hỗn hợp của quân Mỹ - Ngụy, thu nhiều vũ khí và phương tiện chiến tranh, khẳng định sự trưởng thành của lực lượng vũ trang cách mạng. Ngày nay, khu di tích còn lưu giữ nhiều địa điểm gắn với chiến thắng như núi Tròn, núi Khỉ, núi Chóp Nón, giao thông hào Phước Lộc và điểm cao 47. Tượng đài Chiến thắng Ba Gia được xây dựng dưới chân núi Tròn, trở thành địa chỉ đỏ giáo dục truyền thống yêu nước và cách mạng cho các thế hệ. Với giá trị lịch sử đặc biệt, Di tích Chiến thắng Ba Gia đã được xếp hạng Di tích lịch sử cấp Quốc gia năm 1991, là điểm đến ý nghĩa dành cho du khách muốn tìm hiểu về lịch sử đấu tranh hào hùng của dân tộc. Nguồn: Thư viện Tổng hợp tỉnh Quảng Ngãi
Quảng Ngãi
377 lượt xem
Xếp hạng : Di tích cấp quốc gia
Chùa Ông
Chùa Ông (Quan Thánh Tự ) tọa lạc tại thị tứ Thu Xà, xã Nghĩa Hòa, huyện Tư Nghĩa, cách thành phố Quảng Ngãi 10km về hướng đông. Chùa được 4 bang người Hoa Minh hương (Phúc Kiến, Triều Châu, Hải Nam, Quảng Đông) sống tại vùng Thu Xà kiến lập vào năm Minh Mạng thứ hai (1821) và đã trải qua 4 lần trùng tu vào các năm 1881, 1894, 1920, 1991. Chùa Ông thờ Quan Vũ ở gian chính điện, thờ Quán Thế Âm Bồ Tát (người vùng biển Trung Hoa và Việt Nam gọi là Phật Quan Âm Nam Hải) ở gian hậu cung theo mô hình “Tiền thánh hậu phật”. Ngoài ra ở hậu cung còn thờ Thiên Hậu, Kim Đẩu và 12 bà mụ. Về quy mô, tuy chùa Ông có vẻ khiêm nhường so với các ngôi chùa thờ Quan Công ở Hội An (Quảng Nam), nhưng ở đây có sự kết hợp hài hòa các yếu tố kiến trúc Hoa – Việt trong một tổng thể giàu tính thẩm mỹ. Theo hồ sơ của Bảo tàng Tổng hợp tỉnh Quảng Ngãi, chùa có tổng diện tích 2.730m2, bao gồm vườn chùa, tam quan, sân chùa và chùa. Tất cả được bao bọc bởi vòng 1, thành cao 1,2m, dày 0,5m theo kiểu chấn song con tiện. Chùa quay mặt về hướng đông. Từ ngoài vào, các công trình kiến trúc được bố trí trên một trục đạo, bố cục chặt chẽ, đăng đối theo tuần tự gồm: cổng tam quan, bình phong - trụ biểu, lầu trống - lầu chuông và chùa. Hai bên mặt tiền có hai cổng phụ thấp, phía sau chùa là miếu thờ Tiêu Diện Đại Sỹ. Cổng tam quan cấu trúc một gian, bốn cột, hai bộ vì chống rường trái bí, theo lối tam hoành. Hoành thứ 3 uốn cong hình thuyền trang trí đầu rồng đuôi phượng. Các hoành liên kết với nhau qua các vì chồng và gác qua đầu cột. Mái tam quan lợp ngói âm dương, đỉnh mái uốn cong dáng thuyền, trang trí hình rồng, đuôi phủ dây leo thực vật. Bờ mái trang trí dạng ô hộc với năm ô trang trí. Hai bên tả hữu cổng tam quan là miếu thờ bà Thiên Hậu. Bình phong cao 2m, bằng tam hợp chất, mặt trước đắp nổi hình mãnh hổ nhe răng vểnh đuôi trông rất sống động, mặt sau đắp nổi hình con ly trên cụm mái. Hai bên bình phong là hai trụ biểu. Lầu chuông, lầu trống xây dựng đăng đối qua trục đạo. Chùa Ông hiện còn giữ 6 bia đá, văn bia chữ Hán, tạo dựng vào các năm 1895 (Thành Thái thứ 7 ), 1920 (Khải Định thứ 5), là các năm chùa trùng tu. Bia đá trang trí chạm nổi lưỡng long tranh châu ở trán bia, diềm bia trang trí đầu rồng mình quấn dây leo thực vật. Văn bia ghi lại danh sách những người cúng tiền trùng tu gồm tên người, nơi ở, số tiền cúng. Nhìn chung, nghệ thuật trang trí ở chùa Ông đạt đến trình độ khá tinh xảo, đặc biệt là kỹ thuật đắp nổi, chạm nổi, chạm thủng, chạm lộng trên các bình phong, vách gỗ, khám thờ, vì kèo, bẫy hiên, trụ chồng, tượng, diềm bia...Chùa Ông có sự giao thoa, kết hợp hài hòa các yếu tố kiến trúc của người Việt và người Hoa. Bên cạnh cấu kiện và vật liệu chủ yếu của nhà rường truyền thống ở miền Trung (các vì kèo chồng rường chày cối, vì kèo chồng rường giả thủ) còn có sự xuất hiện vì kèo trốn trính chuyền của đồng bằng Bắc Bộ và bộ vì kèo chồng rường trái bí phong cách Hoa Bắc. Chùa Ông được Bộ Văn hóa Thông tin và Thể thao (nay là Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch) công nhận Di tích quốc gia theo quyết định số 43 Văn Hóa /Quyết Định ngày 7/1/1993. Nguồn Cổng thông tin điện tử tỉnh Quảng Ngãi.
Quảng Ngãi
5118 lượt xem
Xếp hạng : Di tích cấp quốc gia.
Đền thờ Trương Định
Anh hùng Trương Định là một vị anh hùng nổi tiếng trong lịch sử Việt Nam trong công cuộc chống thực dân Pháp trong giai đoạn từ năm 1859 đến năm 1864. Trương Định sinh ra tại làng Tư Cung, tỉnh Quảng Ngãi. Ông theo cha vào nam và lập nên vùng đất Tân An, Định Tường. Trương Định đã lãnh đạo quân đội đột kích vào đồn điền quân Pháp sau khi quân Pháp tiến đánh Gia Định năm 1859. Tuy nhiên, khi triều đình ký kết Hòa ước Nhâm Tuất năm 1862, nhường ba tỉnh miền Đông cho Pháp, Trương Định không chấp nhận việc bãi binh và nhậm chức Lãnh binh ở An Giang như lệnh của triều đình. Thay vào đó, ông tiếp tục cuộc chiến với danh hiệu Bình Tây Đại Nguyên Soái, với sự ủng hộ từ nhân dân và các nhà nho. Cuộc đấu tranh chống Pháp của ông chấn động với nhiều chiến công lẫy lừng. Tuy nhiên, vào ngày 19/8/1864, trong trận Đám Lá Tối Trời tại Gò Công Đông, Trương Định bị thương nặng. Để bảo toàn danh dự, ông đã quyết định tự vẫn tại Ao Dinh, Gò Công, khiến người dân và lính của mình đau lòng và tiếc nuối. Sau khi Trương Định mất, vua Tự Đức đã truy tặng danh hiệu và xây dựng đền thờ tại làng Tư Cung, Quảng Ngãi để tưởng nhớ ông. Đền thờ Trương Định, hiện nằm tại xóm Khê Thuận, xã Tịnh Khê, thành phố Quảng Ngãi, tỉnh Quảng Ngãi, là nơi phụng thờ anh hùng dân tộc Trương Định. Đền được Ủy ban nhân dân tỉnh Quảng Ngãi xếp hạng di tích lịch sử cấp tỉnh năm 2014, và công nhận là di tích lịch sử cấp quốc gia ngày 24 tháng 2 năm 2023. Nguồn Cổng thông tin điện tử tỉnh Quảng Ngãi.
Quảng Ngãi
5400 lượt xem
Xếp hạng : Di tích cấp quốc gia.
Di tích núi Giếng Tiền
Núi lửa Giếng Tiền và Thới Lới là hai ngọn núi độc đáo tại đảo Lý Sơn, Quảng Ngãi, thuộc nhóm 10 ngọn núi lửa phát hiện ở khu vực này. Núi lửa Giếng Tiền, cao 86m, có miệng núi rộng hàng trăm mét, phủ đất đỏ màu mỡ và xanh quanh năm. Dưới chân núi là chùa Đục, với tượng Quan Thế Âm cao 27m, được xem là bảo vệ ngư dân trên biển. Đứng từ đỉnh núi Giếng Tiền, bạn có thể ngắm nhìn toàn cảnh đảo Lý Sơn và thấy đảo Bé giữa biển khơi. Núi Giếng Tiền hay còn được người dân địa phương gọi là núi lửa tọa lạc ở địa phận của thôn Tây, xã An Vĩnh, huyện đảo Lý Sơn, Quảng Ngãi và là ngọn núi lửa lớn thứ hai trên đảo. Ngọn núi lửa này có chiều cao 90m, diện tích khoảng 0,45 km2 và đường kính trong phạm vi hoạt động là 500m. Ngọn núi lửa này có hình dáng miệng rất tròn và nhọn, tựa như hình ảnh của một đồng xu, cũng chính vì hình dáng đặc biệt này mà người dân địa phương đã đặt tên gọi là núi Giếng Tiền. Núi Giếng Tiền cũng có đặc điểm địa chất gần tương tự như núi lửa Thới Lới, khi trải qua hiện tượng xói mòn tạo nên những bức tường đá, mà người dân xưa kia đã tạo thành những bậc thang để dẫn lên miệng núi lửa. Núi Giếng Tiền hình thành từ thời tiền sử khoảng 3.000 đến 4000 năm trước. Chính vì vậy, ngọn núi này đã chứng kiến những sự kiện vô cùng nổi bật về quá trình hình thành địa chất trên đảo. Cũng từ đó, cảnh quan và địa chất ở đây cũng vô cùng đặc biệt, nơi đây có từng lớp tro rơi vào mảnh vụn đã tích tụ khi núi lửa hoạt động trên mặt dốc của núi lửa và hầu như không hề có tàn tích của mực nước biển ở trên các vách đá. Vì sự kiến tạo địa chất theo thời gian, các vách của núi lửa ở đây cũng đã bị bào mòn tạo nên khung cảnh kỳ quan đẹp không thua kém núi lửa Hang Câu - Thới Lới. Vào thời kỳ biển tiến thì đỉnh núi cũng đã bị nhấn chìm dưới là nước biển theo các giai đoạn khác nhau khi các vách đá bị bào mòn, lộ ra những mặt cắt rất đẹp. Một điều rất kỳ lạ là mặc dù núi lửa Giếng Tiền trên đảo Lý Sơn có loại đất đỏ vô cùng màu mỡ, nhưng không hề có một loài cây nào có thể mọc nổi ở trên đó. Lý giải về điều này, người dân huyện đảo cho rằng đây là miền đất thiêng, chính bởi vậy cây cối không thể mọc lên trên đó. Người ta cũng đã mang thứ đất thiêng này để về làm cốt cho những ngôi mộ gió rải rác khắp vùng. Vào tháng 1/2020, di tích núi Giếng Tiền đã được bộ văn hóa thể thao du lịch quyết định công nhận là một trong những di tích lịch sử cấp quốc gia. Nguồn Cổng thông tin điện tử huyện Lý Sơn, tỉnh Quảng Ngãi.
Quảng Ngãi
5449 lượt xem
Xếp hạng : Di tích cấp quốc gia.
Đình làng An Vĩnh
Di tích đình An Vĩnh được xây dựng từ cuối thế kỉ 18, nằm tại đảo Lý Sơn, Quảng Ngãi. Đình không chỉ là nơi lưu giữ văn hóa và lễ tế truyền thống, mà còn là biểu tượng quan trọng của chủ quyền biển đảo Việt Nam. Đình An Vĩnh đã không ít lần chứng kiến những sự kiện lịch sử, từ việc tách biệt phường An Vĩnh đảo Cù Lao Ré đến những cuộc chiến với thực dân Pháp và đế quốc Mỹ. Không chỉ là nơi lưu giữ những cổ vật, di tích đình An Vĩnh còn là nơi ghi lại những dấu ấn lịch sử với Đội Hoàng Sa, một đội người lính đánh cá bảo vệ chủ quyền biển đảo. Đây cũng là điểm xuất phát của họ Võ Văn, Nguyễn, Phạm Quang, Lê, Võ Xuân, Đặng, những dòng họ nổi tiếng tham gia Đội Hoàng Sa. Kiến trúc của đình với hình chữ Tam và mô thức trang trí tứ linh, ngũ phúc thể hiện niềm tin cầu mong sự bình an cho nhân dân. Đình làng An Vĩnh không chỉ là biểu tượng tinh thần cho người dân đảo Lý Sơn, mà còn là di tích lịch sử Quảng Ngãi quan trọng, là minh chứng sống cho chủ quyền biển đảo Việt Nam trên 2 quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Vào năm 2013, di tích đình Lý Sơn Quảng Ngãi đã được nhà nước ta công nhận là di tích lịch sử cấp quốc gia. Nguồn Cổng thông tin điện tử huyện Lý Sơn, tỉnh Quảng Ngãi.
Quảng Ngãi
5294 lượt xem
Xếp hạng : Di tích cấp quốc gia.
Đình An Hải
Di tích đình An Hải nằm trên đảo Lý Sơn, tỉnh Quảng Ngãi. Đình là nơi thờ cúng các thần linh, tiền hiền của Đảo Lý Sơn. Qua đó thể hiện được mối liên hệ giữa văn hóa người Việt đối với nền văn hóa ChămPa cổ. Đình làng An Hải được xây dựng vào năm 1820. Do đó mà đình mang đậm nét phong cách thiết kế, kiến trúc nghệ thuật cổ kính và trang nghiêm. Đình An Hải được 8 dòng họ tiền hiền cùng dân làng cùng nhau xây dựng đình. Tuy nhiên, về sau này họ Lê bị loại khỏi danh sách tiền hiền do vi phạm quy định trong tế Đình. Từ 1820 đến nay, đình An Hải đã trải qua nhiều đợt tu bổ và xây dựng thêm nhiều công trình. Vì vậy mà kiến trúc hiện tại của đình đã có một số thay đổi so với ban đầu. Đình được xây dựng với hướng quay ra biển, đằng sau là núi Thới Lới và trước mặt có hai trụ biểu với con nghê đặt trên đỉnh. Kiến trúc bên trong đình làng An Hải bao gồm tiền đường, hậu tẩm và các chi tiết trang trí như chiêng, trống, bàn thờ cô hồn. Đình mang phong cách bố trí theo quan niệm âm dương, thể hiện mong muốn bình an qua các mô típ thiết kế và trang trí lưỡng long, long phụng, ngũ phúc…Mặc dù đã trải qua nhiều sự thay đổi, nhưng di tích đình An Hải vẫn giữ được vẻ đẹp độc đáo, đặc trưng của phong cách kiến trúc cổ, thể hiện được sự trang nghiêm, cổ kính của đình làng. Vào năm 1995, di tích đình làng An Hải đã được xếp hạng là một trong những di tích lịch sử Quảng Ngãi được công nhận là di tích lịch sử cấp quốc gia. Cổng thông tin điện tử huyện Lý Sơn, tỉnh Quảng Ngãi.
Quảng Ngãi
5089 lượt xem
Xếp hạng : Di tích cấp quốc gia.
Di tích lịch sử cách mạng điểm Cao 601
Cách thị xã Kon Tum 17 km về phía bắc theo Quốc lộ 14, có một địa danh mà trong chúng ta hẳn nhiều người biết đến, đó là Dốc Đầu Lâu. Dốc Đầu Lâu là tên gọi dân gian mới có từ sau ngày xảy ra chiến sự tháng 4 năm 1972 giữa quân cách mạng và quân địch. Người Ba Na Ở vùng này gọi địa danh đó là Kon Loong Phă, có nghĩa là dốc có nhiều cây Trắc và Điểm cao 601 là thuật ngữ quân sự gọi cứ điểm quân sự của địch trên đồi K-Rang Loong Pha. Cho đến đầu năm 1972, điểm cao vẫn là một chốt điểm quân sự quan trọng của địch, gồm có trận địa pháo binh và xe tăng được bố trí trên hai mỏm đồi hình yên ngựa. Phía Bắc có đồn Bảo an Hà Mòn do tiểu đoàn Bảo an số 23 đóng giữ có xe thiết giáp tăng cường. Phía nam có Sở chỉ huy Lữ đoàn dù 3, trận địa pháo lớn, xe tăng, xe bọc thép chốt giữ. Ngoài ra còn có các trận địa pháo, đồn Bảo an của địch ở Kon Trang K-la; Bãi ủi; Bắc thị xã Kon Tum... Với vị trí chiến lược quân sự quan trọng, chiếm được điểm cao 601 là khống chế được phần lớn thị xã Kon Tum cũng như toàn bộ vùng Đăk Tô - Tân Cảnh. Chiếm được Điểm cao 601 là làm chủ được hoàn toàn con đường chiến lược 14, đoạn phía bắc Tây Nguyên. Nhận rõ được tầm quan trọng của Điểm cao 601, ta quyết tâm đánh chiếm, về phía địch chúng cũng bằng mọi cách cố thủ. Trong hai ngày mồng 10 và 11 tháng 4 năm 1972, với tinh thần quyết chiến, quyết thắng, ta đã thắng lớn tại Điểm cao 601. Kết quả thu được: Diệt gọn 2 chi đội thiết giáp địch, một đoàn xe hàng, phá hủy 28 xe (có 14 xe tăng, xe thiết giáp M113 và 14 xe vận tải), phá hủy 72 tấn hàng quân trang, quân dụng, diệt gọn một trung đội bảo an, đánh thiệt hại nặng 2 đại đội dù, đánh thiệt hại sở chỉ huy lữ đoàn dù 23, trận địa súng cối, diệt hàng trăm tên địch, bắn rơi 2 máy bay, phá hủy 2 khẩu cối 106,7 mi-li-mét, thu hơn 15 súng các loại, ta cắt đứt hoàn toàn đường 14. Cùng với bộ đội địa phương và dân quân du kích, đây là trận đánh cắt giao thông có hiệu suất cao của Trung đoàn 28 trong chiến dịch Xuân - Hè 1972 ở Tây Nguyên. Kể từ sau ngày ký Hiệp định Pari (từ đầu năm 1973 đến 1975), khu vực Điểm cao 601, Dốc KRang Loong Pha (Dốc Đầu lâu) và toàn bộ khu vực Đăk La, Hà Mòn là vùng tranh chấp giữa ta và địch. Tại đây đã diễn ra nhiều cuộc đấu tranh chính trị gay gắt quyết liệt, có khi phải dùng cả vũ trang quân sự để giành từng tấc đất với địch: Với chủ trương đúng đắn của cấp trên cộng với trí thông minh mưu lược và lòng dũng cảm của quân và dân ta, mặc dù phải chịu nhiều gian khổ hy sinh, nhưng ta đã giữ vững được toàn bộ vùng giải phóng Đăk Tô - Tân Cảnh đến Diên Bình, Hà Mòn và kiểm soát được khu vực Đăk La góp phần giải phóng thị xã Kon Tum vào mùa xuân 1975. Trong những năm qua, Bảo tàng tổng hợp Kon Tum đã lên danh mục di tích trên địa bàn toàn tỉnh, trong đó Điểm cao 601 là một điểm di tích lịch sử cách mạng được lãnh đạo tỉnh cũng như ngành Văn hóa rất quan tâm.Thời gian qua, Bảo tàng tỉnh đã tiến hành lập hồ sơ khoa học cho di tích lịch sử Điểm cao 601 để đề nghị xếp hạng. Mặc dù chậm trễ, nhưng đây là một việc làm thật sự có ý nghĩa. Đã hơn 30 năm sau sự kiện chiến thắng Điểm cao 601, do tác động của con người, do môi trường tự nhiên khắc nghiệt, di tích chỉ còn là dấu tích tuy vậy nó vẫn còn đầy sức thuyết phục. Di tích lịch sử cách mạng Điểm cao 601 đã được UBND tỉnh xếp hạng Di tích cấp tỉnh ngày 17/5/2003. Nguồn: Cổng thông tin huyện Đăk Hà
Quảng Ngãi
6559 lượt xem
Xếp hạng : Di tích cấp tỉnh
Trường Lũy Quảng Ngãi
Trường Lũy là một di tích đặc biệt với tổng chiều dài 127,4km, trong đó có 113km thuộc địa bàn tỉnh Quảng Ngãi. Di tích Trường Lũy Quảng Ngãi (được xếp hạng di tích cấp Quốc gia vào ngày 9.3.2011), đi qua các huyện Trà Bồng, Sơn Tịnh, Sơn Hà, Tư Nghĩa, Minh Long, Nghĩa Hành, Ba Tơ, Đức Phổ. Trường Lũy là loại hình di tích đặc biệt có quy mô lớn, có những di tích liên quan mật thiết không thể tách rời là lũy - đường cổ - hệ thống đồn/bảo và phong cảnh thiên nhiên. Trường Lũy được xây dựng bằng vật liệu khai thác tại chỗ như đất đồi, đất ruộng, đá tự nhiên với nhiều kỹ thuật đắp, đầm đất, xây, xếp đá... rất đặc trưng của cư dân miền đồng bằng ven chân núi và miền núi phía tây Quảng Ngãi. Do lũy dài và đi qua nhiều địa hình khác nhau, nên trên địa hình bằng phẳng, lũy được đắp bằng đất, còn ở sườn núi có độ dốc thì lũy được đắp cốt đất ở trong và ốp đá ở bên ngoài. Di tích Trường Lũy ở khu vực núi cao hiện vẫn còn gần như nguyên vẹn, nhất là phần lũy xây bằng đá. Theo các nhà nghiên cứu, trên toàn tuyến lũy có hơn 70 di tích đồn/bảo được xây bằng đá, hoặc bằng đất có hào bao quanh. Đa phần các di tích này còn nguyên vẹn, trong đó có những đồn/bảo như Thiên Xuân thuộc xã Hành Tín Đông (Nghĩa Hành), đồn/bảo Kim Long, xã Hành Dũng (Nghĩa Hành) có diện tích khá lớn. Theo hồ sơ di tích, độ cao trung bình của Trường Lũy Quảng Ngãi là 45m. Địa bàn huyện Nghĩa Hành có điểm lũy cao nhất với trên 200m, chủ yếu ở các đèo, đồi núi như đèo Phước Lộc, ở xã Hành Nhân (Nghĩa Hành) với 221m, đèo Chim Hút thuộc xã Hành Dũng (Nghĩa Hành) với 227m... Đặc điểm địa hình của lũy ở Quảng Ngãi chủ yếu chạy men theo chân núi, lưng đồi thấp. Theo các nhà nghiên cứu, Trường Lũy là một ranh giới nhưng không phải là một ranh giới đóng kín. Lũy cắt ngang qua nhiều sông, suối, mỗi chỗ cắt ngang có một cổng, do một bảo canh gác, cho phép điều hành việc đi lại giữa hai bên. Việc đi lại chủ yếu là vì mục đích trao đổi kinh tế (người Hrê mua muối, người Việt mua gạo, quế và lâm sản), nhất là mạng lưới chợ nằm bên phía người Việt. Các đồn/bảo này trong thời bình là các trạm kiểm soát việc buôn bán, thu thuế giữa 2 miền, đây là nét văn hóa đặc biệt của di tích. Các nhà khảo cổ cho rằng đây không chỉ là công trình được xây nên với mục đích phòng vệ, mang yếu tố quân sự, mà còn là con đường giao thương giữa miền xuôi và miền ngược, giữa vùng núi - đồng bằng và miền biển. Ngoài giá trị văn hóa, lịch sử, di tích Trường Lũy còn có tiềm năng để phát triển du lịch, với những con đường cổ bên cạnh một bờ lũy dài dằng dặc, xuyên qua những cộng đồng dân cư với những xóm làng tươi đẹp, lưu giữ nhiều bản sắc văn hóa của dân tộc. Nguồn: Báo điện tử Quảng Ngãi
Quảng Ngãi
6486 lượt xem
Xếp hạng : Di tích cấp quốc gia








