Danh sách điểm di tích (58)
Khu tưởng niệm Chiến thắng Thượng Đức
Khu tưởng niệm Chiến thắng Thượng Đức – Địa chỉ đỏ giữa miền đất anh hùng. Khu tưởng niệm Chiến thắng Thượng Đức nằm tại xã Đại Lãnh, thành phố Đà Nẵng, là nơi ghi dấu chiến thắng Thượng Đức vang dội ngày 7/8/1974 – một trong những trận đánh có ý nghĩa chiến lược trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước. Năm 1974, Thượng Đức là căn cứ quân sự kiên cố của chính quyền Sài Gòn, được mệnh danh là "cánh cửa thép" bảo vệ phía tây Đà Nẵng. Sau 10 ngày chiến đấu quyết liệt, quân và dân ta đã làm chủ cứ điểm vào ngày 7/8/1974, mở toang tuyến phòng thủ quan trọng của đối phương. Chiến thắng không chỉ tạo bước ngoặt trên chiến trường Quảng Nam mà còn góp phần quan trọng để Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương hoạch định chiến lược, tiến tới cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân năm 1975, giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước. Để tưởng nhớ các anh hùng liệt sĩ đã anh dũng hy sinh, Khu tưởng niệm Chiến thắng Thượng Đức được đầu tư xây dựng với quy mô khang trang trên nền quận lỵ Thượng Đức cũ. Công trình gồm tượng đài chiến thắng bằng đá granite, sân hành lễ, khuôn viên cây xanh cùng hệ thống hầm hào, lô cốt được bảo tồn, tái hiện một phần chiến trường năm xưa. Tượng đài cao hơn 18 m, hướng về phía Ái Nghĩa – Đà Nẵng, thể hiện khí thế tiến công và khát vọng hòa bình của dân tộc. Nguồn: Báo và Phát thanh, Truyền hình Đà Nẵng.
Đà Nẵng
84 lượt xem
Xếp hạng : Di tích cấp quốc gia
Khu di tích vụ thảm sát Vĩnh Trinh
Khu di tích vụ thảm sát Vĩnh Trinh – Chứng tích lịch sử về tội ác chiến tranh. Khu di tích vụ thảm sát Vĩnh Trinh nằm tại xã Thu Bồn, thành phố Đà Nẵng, là nơi ghi dấu một trong những vụ thảm sát đau thương nhất ở Quảng Nam trong thời kỳ đầu sau Hiệp định Giơnevơ năm 1954. Đêm 21/1/1955 (tức đêm 29 rạng ngày 30 Tết Ất Mùi), chính quyền Mỹ - Diệm đã sát hại dã man 38 cán bộ, chiến sĩ và đồng bào yêu nước tại đập Vĩnh Trinh nhằm đàn áp phong trào cách mạng. Các nạn nhân bị tra tấn, trói đá rồi dìm xuống lòng hồ để phi tang. Tội ác này đã gây chấn động dư luận trong nước và quốc tế, trở thành biểu tượng về sự tàn bạo của chế độ Mỹ - Diệm cũng như tinh thần bất khuất của những người con yêu nước. Sau ngày đất nước thống nhất, Đài tưởng niệm Vĩnh Trinh được xây dựng ngay gần nơi xảy ra vụ thảm sát. Công trình nổi bật với tượng đài người chiến sĩ hiên ngang, hồ nước có 38 bông sen tượng trưng cho 38 nạn nhân, trong đó một búp sen chưa nở tưởng nhớ người phụ nữ đang mang thai đã hy sinh. Không gian trang nghiêm giữa đồi thông và hồ nước vừa là nơi tri ân các anh hùng liệt sĩ, vừa góp phần giáo dục truyền thống yêu nước cho các thế hệ hôm nay. Với những giá trị lịch sử đặc biệt, Địa điểm vụ thảm sát Vĩnh Trinh đã được Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch xếp hạng Di tích lịch sử quốc gia theo Quyết định số 309/QĐ-BVHTTDL ngày 26/01/2011. Ngày nay, nơi đây là "địa chỉ đỏ" thu hút nhiều đoàn khách, học sinh, sinh viên và du khách đến dâng hương, tìm hiểu lịch sử và tưởng nhớ những người đã hy sinh vì độc lập, tự do của dân tộc. Nguồn: Trang Thông tin điện tử xã Thu Bồn
Đà Nẵng
183 lượt xem
Xếp hạng : Di tích cấp quốc gia
Mộ Phạm Phú Thứ
Mộ Phạm Phú Thứ – Di tích ghi dấu nhà canh tân tiêu biểu thế kỷ XIX. Mộ Phạm Phú Thứ tọa lạc tại xã Gò Nổi, thành phố Đà Nẵng (theo địa giới hành chính mới), là nơi an nghỉ của danh nhân Phạm Phú Thứ (1821–1882) – vị đại thần triều Nguyễn, nhà ngoại giao, nhà văn hóa và là một trong những người tiên phong đề xướng tư tưởng canh tân đất nước trong thế kỷ XIX. Sinh ra tại vùng đất Quảng Nam xưa, Phạm Phú Thứ nổi tiếng thông minh, học rộng, đỗ đạt cao và từng đảm nhiệm nhiều chức vụ quan trọng dưới triều vua Thiệu Trị và Tự Đức. Ông cùng Nguyễn Trường Tộ được xem là những nhà tư tưởng cải cách tiêu biểu với nhiều đề xuất về phát triển kinh tế, khoa học kỹ thuật, giáo dục, ngoại giao và thương mại nhằm đưa đất nước phát triển, tăng cường nội lực trước nguy cơ xâm lược của thực dân Pháp. Trong suốt cuộc đời làm quan, Phạm Phú Thứ luôn được biết đến là vị quan thanh liêm, chính trực, tận tụy vì dân. Ông từng tham gia phái bộ sang Pháp và Tây Ban Nha năm 1863, từ đó ghi chép nhiều tư liệu quý trong Tây hành nhật ký, đồng thời để lại nhiều tác phẩm có giá trị về lịch sử, văn hóa và tư tưởng cải cách, góp phần quan trọng vào kho tàng di sản học thuật Việt Nam. Sau khi qua đời năm 1882, ông được triều đình truy tặng hàm Nhất phẩm và ghi nhận những cống hiến to lớn đối với đất nước. Mộ Phạm Phú Thứ ngày nay không chỉ là nơi tưởng niệm một danh nhân văn hóa mà còn là địa chỉ giáo dục truyền thống yêu nước, tinh thần đổi mới và khát vọng phát triển dân tộc. Nguồn: Cục Di sản văn hóa
Đà Nẵng
238 lượt xem
Xếp hạng : Di tích cấp quốc gia
Lăng Ông Ngư Cù Lao Chàm
Lăng Ông Ngư Cù Lao Chàm Lăng Ông Ngư tọa lạc tại thôn Bãi Làng, xã đảo Tân Hiệp (Cù Lao Chàm), thành phố Đà Nẵng (trước đây thuộc TP. Hội An, Quảng Nam). Công trình được xây dựng vào cuối thế kỷ XIX, nằm cách bờ biển khoảng 10 m, lưng tựa núi, mặt hướng ra biển theo quan niệm phong thủy truyền thống của cư dân vùng biển. Theo tín ngưỡng dân gian, cá Ông (cá voi) được ngư dân tôn kính là vị thần Nam Hải, luôn che chở, cứu giúp người gặp nạn trên biển. Khi cá Ông dạt vào bờ, người dân tổ chức tang lễ trang trọng theo nghi thức truyền thống, sau đó cải táng và đưa cốt vào lăng để thờ phụng, thể hiện lòng biết ơn đối với vị thần bảo hộ của ngư dân. Lăng được xây bằng gạch, vôi và san hô, mang kiến trúc truyền thống với mái ngói âm dương, mái cuốn vòm thấp và hậu tẩm lưu giữ xương cá Ông. Trên bờ mái trang trí các họa tiết tứ linh, chim phượng và quy thư. Phía trước là bình phong đắp nổi hình "Thần Ngư hí nguyệt". Bên trong gồm ba gian: gian chính thờ cá Ông với 13 bài vị sơn son thếp vàng; hai gian bên thờ các vị tả hữu ban và thần linh phụ trợ. Lăng Ông Ngư không chỉ là nơi sinh hoạt tín ngưỡng của cộng đồng ngư dân Cù Lao Chàm mà còn là công trình kiến trúc nghệ thuật tiêu biểu, phản ánh đời sống văn hóa biển của cư dân địa phương. Hằng năm, vào ngày mùng 3 và 4 tháng 4 âm lịch, lễ Cầu Ngư được tổ chức tại đây với các nghi lễ truyền thống nhằm tưởng nhớ cá Ông, cầu mưa thuận gió hòa, biển yên sóng lặng và những chuyến ra khơi bình an, bội thu. Với những giá trị nổi bật về lịch sử, kiến trúc và văn hóa tín ngưỡng, ngày 13/12/2006, Lăng Ông Ngư Cù Lao Chàm được Bộ Văn hóa – Thông tin (nay là Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch) xếp hạng Di tích lịch sử – văn hóa cấp quốc gia. Nguồn: Ban Quản lý Khu bảo tồn biển Cù Lao Chàm
Đà Nẵng
500 lượt xem
Xếp hạng : Di tích cấp quốc gia
Đình Tiền hiền Tân Hiệp
Đình Tiền hiền Tân Hiệp – Di tích ghi dấu công lao khai lập làng trên Cù Lao Chàm Đình Tiền hiền Tân Hiệp (người dân địa phương thường gọi là Lăng Tiền hiền) tọa lạc tại thôn Bãi Làng, xã Tân Hiệp (Cù Lao Chàm), thành phố Hội An, tỉnh Quảng Nam. Đây là công trình tín ngưỡng tiêu biểu của cư dân trên đảo, được xây dựng vào khoảng cuối thế kỷ XVIII để thờ các bậc tiền hiền, hậu hiền có công khai phá, lập làng, đồng thời phối thờ các vị thần bảo hộ ngư dân trong cuộc sống và quá trình mưu sinh trên biển. Theo các tư liệu lịch sử, Cù Lao Chàm từ lâu giữ vị trí quan trọng tại cửa ngõ biển của Hội An, là nơi tàu thuyền trong và ngoài nước thường dừng chân lấy nước ngọt, củi và tránh gió trước khi tiếp tục hải trình. Sự hình thành cộng đồng cư dân trên đảo gắn liền với quá trình khai hoang, lập ấp và phát triển nghề biển. Vì vậy, việc xây dựng đình để tưởng nhớ các bậc tiền nhân cũng như cầu mong biển yên sóng lặng là nét đẹp văn hóa được lưu truyền qua nhiều thế hệ. Đình được xây dựng theo lối kiến trúc cuốn vòm đặc trưng, sử dụng các vật liệu địa phương như đá, gạch, san hô, vôi vữa; mái lợp ngói âm dương. Bờ nóc trang trí hình "lưỡng long tranh châu", đầu đao uốn cong mềm mại với các họa tiết hoa lá, mặt rồng và đuôi cá, phản ánh sự giao thoa giữa nghệ thuật kiến trúc truyền thống và văn hóa biển đảo. Không gian bên trong rộng rãi, chia thành nhiều nếp thờ. Gian chính đặt các bài vị thờ Phục Ba Tướng quân cùng một số vị thần liên quan đến nghề biển. Theo quan niệm xưa, "Phục Ba" là tước hiệu dành cho những vị tướng có công chinh phục sóng gió hoặc có tài hàng hải, được nhân dân tôn thờ như những vị thần che chở cho ngư dân trong mỗi chuyến ra khơi. Với những giá trị đặc sắc về lịch sử, văn hóa và kiến trúc, Đình Tiền hiền Tân Hiệp được xếp hạng Di tích cấp Quốc gia năm 2006. Nguồn: Trung tâm Quản lý Bảo tồn Di sản Văn hóa Hội An.
Đà Nẵng
266 lượt xem
Xếp hạng : Di tích cấp quốc gia
Khu mộ Thứ phi vua Quang Trung và các tướng Tây Sơn
Khu mộ Thứ phi vua Quang Trung và các tướng Tây Sơn Khu mộ Thứ phi vua Quang Trung và các tướng Tây Sơn nằm tại thôn Thanh Đông, xã Cẩm Thanh, thành phố Hội An, tỉnh Quảng Nam. Di tích tọa lạc trên gò Rừng Rẫy, là nơi an táng Thứ phi Trần Thị Quỵ cùng một số tướng lĩnh, quan lại của triều Tây Sơn thuộc tộc Trần Thanh Châu. Theo gia phả tộc Trần và tư liệu địa phương, Trần Thị Quỵ là người làng Thanh Châu, được vua Quang Trung tuyển làm thứ phi. Sau khi nhà Tây Sơn suy vong, bà trở về quê sinh sống và được an táng tại Cẩm Thanh. Trong khu mộ còn có mộ của Trần Công Thức – Đại Đô đốc, Quận công Đại tướng quân và nhiều thành viên khác của tộc Trần từng giữ chức vụ dưới triều Tây Sơn. Khu mộ không chỉ phản ánh loại hình mộ cổ đặc trưng của Hội An mà còn là minh chứng cho vai trò của làng Thanh Châu và tộc Trần trong phong trào Tây Sơn. Đây là nguồn tư liệu có giá trị phục vụ nghiên cứu lịch sử địa phương và giai đoạn cuối thế kỷ XVIII. Năm 1991, Khu mộ Thứ phi vua Quang Trung và các tướng Tây Sơn được xếp hạng Di tích lịch sử cấp quốc gia. Nguồn: Theo Trung tâm Quản lý Bảo tồn Di sản Văn hóa Hội An.
Đà Nẵng
132 lượt xem
Xếp hạng : Di tích cấp quốc gia
Mộ tổ tộc Lê
Mộ tổ tộc Lê – Di tích ghi dấu quá trình khai khẩn vùng đất Cẩm Thanh Mộ tổ tộc Lê tọa lạc tại thôn Thanh Đông, xã Cẩm Thanh, thành phố Hội An, tỉnh Quảng Nam. Đây là di tích mộ táng của thủy tổ tộc Lê – ông Lê Duy Trì, hậu duệ đời thứ năm của triều Hậu Lê, người đã đến vùng đất Thanh Châu lập nghiệp vào đầu thế kỷ XVII. Theo tư liệu lịch sử, ông Lê Duy Trì là con trưởng của Thế Tông Hoàng đế Lê Duy Đàm, anh của vua Kính Tông Lê Duy Tân. Năm 1623, do biến động chính trị và bị chúa Trịnh Tùng truy bức, ông cùng gia quyến vào phương Nam, dừng chân tại vùng Thanh Châu (nay thuộc xã Cẩm Thanh). Tại đây, ông cùng dòng tộc khai hoang, mở đất, lập ấp, phát triển sản xuất và trở thành những bậc tiền hiền có công khai khẩn vùng đất này. Quần thể mộ hiện nay được xây dựng quy mô vào năm 1930 (Bảo Đại ngũ niên). Bia mộ khắc tên các vị tổ của tộc Lê và ghi nhận công lao khai khẩn các vùng đất Thanh Châu xưa. Di tích không chỉ là nơi tưởng niệm tiền nhân mà còn là minh chứng quan trọng cho quá trình di dân, mở cõi của cư dân Đại Việt vào vùng đất Hội An trong thế kỷ XVII. Với những giá trị nổi bật về lịch sử và văn hóa, Mộ tổ tộc Lê là nguồn tư liệu quý phục vụ nghiên cứu lịch sử hình thành cộng đồng cư dân Cẩm Thanh nói riêng và Hội An nói chung. Di tích đã được xếp hạng Di tích lịch sử cấp quốc gia năm 1991. Nguồn: Theo Trung tâm Quản lý Bảo tồn Di sản Văn hóa Hội An.
Đà Nẵng
544 lượt xem
Xếp hạng : Di tích cấp quốc gia
Mộ thương nhân Nhật Bản Tani Yajirobei
Mộ thương nhân Nhật Bản Tani Yajirobei nằm tại Hội An Đông, TP Đà Nẵng, là minh chứng cho mối quan hệ giao thương giữa Việt Nam và Nhật Bản trong thời kỳ Hội An là thương cảng quốc tế sầm uất vào cuối thế kỷ XVI, đầu thế kỷ XVII. Ông Tani Yajirobei, quê ở Hirado (gần Nagasaki), đến Hội An buôn bán, định cư và qua đời tại đây. Bia mộ được lập năm 1647, ghi rõ quê quán Nhật Bản, là tư liệu quý về sự hiện diện của cộng đồng người Nhật tại Hội An. Ngôi mộ được xây dựng theo lối mộ cổ Hội An với nấm mộ bằng hợp chất truyền thống từ vôi, vỏ sò, vỏ hến, mật mía và nhựa cây bời lời tạo độ bền cao qua hàng trăm năm. Đây là một trong những di tích có giá trị về lịch sử, văn hóa và kiến trúc, góp phần minh chứng cho sự giao lưu kinh tế, văn hóa Việt Nam – Nhật Bản trong lịch sử. Mộ được xây trên một gò đất cao, quay hướng Đông Bắc theo quan niệm phong thủy truyền thống. Công trình gồm thành bao bằng sa thạch, nấm mộ hình yên ngựa và bia mộ bằng đá sa thạch. Năm 1991, Mộ thương nhân Nhật Bản Tani Yajirobei được xếp hạng Di tích lịch sử cấp Quốc gia. Ngày nay, di tích là điểm tham quan hấp dẫn, đặc biệt đối với du khách Nhật Bản và những người yêu thích tìm hiểu lịch sử thương cảng Hội An. Nguồn: Đô thị cổ Hội An
Đà Nẵng
322 lượt xem
Xếp hạng : Di tích cấp quốc gia
Miếu Tổ nghề Yến Cù Lao Chàm
Nằm tại thôn Bãi Hương, xã Tân Hiệp, Cù Lao Chàm (thành phố Đà Nẵng), Miếu Tổ nghề Yến (Yến Nghệ Tổ Miếu) là di tích tín ngưỡng đặc sắc, gắn liền với lịch sử hình thành và phát triển nghề khai thác yến sào Thanh Châu – một nghề truyền thống có lịch sử từ thế kỷ XVI. Không chỉ là nơi thờ các bậc tiền nhân khai sáng nghề yến, di tích còn phản ánh sự gắn bó bền chặt giữa cư dân vùng biển đảo với tài nguyên thiên nhiên và chủ quyền biển đảo Việt Nam. Miếu được xây dựng quy mô vào năm 1848 (năm Tự Đức thứ nhất) do ông Hồ Văn Hòa cùng các chức dịch làng Thanh Châu đứng ra xây dựng để thờ Tổ nghề khai thác yến và các vị thần bảo hộ nghề. Theo nhiều tư liệu lịch sử, từ thời Gia Long, ông Hồ Văn Hòa được giao quản lý việc khai thác yến sào tại Cù Lao Chàm và được các thế hệ sau tôn vinh là Tổ nghề yến. Di tích được xây dựng trên một gò cát cách bờ biển Bãi Hương khoảng 150 m, mặt tiền hướng ra biển. Kiến trúc mang đậm phong cách truyền thống với cổng tam quan, bình phong kiểu cuốn thư, hai nếp nhà liên hoàn lợp ngói âm dương cùng hệ thống cột kèo bằng gỗ được chạm khắc tinh xảo. Không gian thờ tự lưu giữ nhiều hiện vật quý như hoành phi, khám thờ sơn son thếp vàng, bài vị các bậc tiền hiền và bia đá thời Tự Đức, phản ánh giá trị lịch sử, nghệ thuật và tín ngưỡng của cộng đồng cư dân biển. Đến với Miếu Tổ nghề Yến, du khách không chỉ được tìm hiểu về lịch sử nghề khai thác yến sào – một nghề truyền thống nổi tiếng của Cù Lao Chàm, mà còn có cơ hội khám phá đời sống văn hóa của ngư dân Bãi Hương, lắng nghe những câu chuyện, truyền thuyết về nghề yến và cảm nhận sự gắn kết giữa con người với biển đảo qua nhiều thế hệ. Hằng năm, vào ngày 10 tháng 3 âm lịch, lễ Giỗ Tổ nghề Yến được tổ chức trang trọng tại di tích nhằm tưởng nhớ công lao các bậc tiền nhân, cầu mong mùa khai thác thuận lợi, bình an và bội thu. Ngày nay, lễ hội còn kết hợp với nhiều hoạt động văn hóa, du lịch, góp phần quảng bá nghề khai thác yến sào Thanh Châu – Di sản văn hóa phi vật thể quốc gia, đồng thời nâng cao ý thức bảo tồn tài nguyên thiên nhiên và phát huy giá trị của Khu Dự trữ sinh quyển thế giới Cù Lao Chàm – Hội An. Theo báo mới
Đà Nẵng
482 lượt xem
Xếp hạng : Di tích cấp quốc gia
Giếng cổ Xóm Cấm
Giếng cổ Xóm Cấm – Dấu ấn văn hóa Chăm giữa lòng Cù Lao Chàm Nằm tại thôn Cấm, Hội An, Đà Năng, Giếng cổ Xóm Cấm là một trong những công trình kiến trúc cổ tiêu biểu của Cù Lao Chàm, gắn liền với lịch sử hình thành và phát triển của cư dân trên đảo suốt nhiều thế kỷ. Đây không chỉ là nguồn nước ngọt quý giá mà còn là minh chứng sinh động cho sự giao thoa văn hóa giữa người Chăm và người Việt trên tuyến thương cảng quốc tế Hội An. Các kết quả khảo cổ học cho thấy Cù Lao Chàm đã có cư dân sinh sống từ hơn 3.000 năm trước. Đến các thế kỷ VII – X, nơi đây trở thành địa bàn cư trú của người Chăm, đồng thời là điểm dừng chân quan trọng trên tuyến hàng hải quốc tế, nơi diễn ra hoạt động giao thương sôi động với các thương nhân từ Trung Quốc, Trung Đông và nhiều quốc gia khác. Sau thế kỷ XVII, cộng đồng người Việt đến sinh sống, tiếp tục kế thừa, gìn giữ và sử dụng các công trình do người Chăm xây dựng, trong đó có hệ thống giếng cổ. Giếng Xóm Cấm mang đậm phong cách kiến trúc Chăm với miệng giếng đường kính khoảng 1,18 m, sâu 4,5 m, lòng giếng xây bằng gạch theo dạng "cổ áo" (vành khăn), kết dính bằng vữa vôi truyền thống. Đặc biệt, dưới đáy giếng còn lưu giữ hệ thống bốn thanh gỗ lim ghép thành hình vuông, góp phần gia cố nền móng và bảo đảm độ bền vững của công trình qua hàng trăm năm. Theo nhiều tư liệu cổ, trong thời kỳ hưng thịnh của thương cảng Hội An, các thương thuyền quốc tế thường ghé Cù Lao Chàm để bổ sung lương thực và lấy nước ngọt từ các giếng cổ trên đảo trước khi tiếp tục hành trình. Đến ngày nay, Giếng Xóm Cấm vẫn luôn đầy nước, trong xanh và mát lành quanh năm, tiếp tục phục vụ đời sống sinh hoạt của người dân địa phương, trở thành biểu tượng của sự trường tồn và sức sống bền bỉ giữa biển khơi. Không chỉ mang giá trị lịch sử và kiến trúc, Giếng cổ Xóm Cấm còn phản ánh quá trình kế thừa và hòa quyện văn hóa giữa các cộng đồng cư dân trên đảo, góp phần làm nên bản sắc độc đáo của Khu dự trữ sinh quyển thế giới Cù Lao Chàm – Hội An. Với những giá trị đặc biệt về lịch sử, khảo cổ và văn hóa, Giếng cổ Xóm Cấm được Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch xếp hạng Di tích lịch sử cấp quốc gia năm 2006. Ngày nay, đây là điểm tham quan hấp dẫn, nơi du khách có thể tìm hiểu về lịch sử lâu đời của Cù Lao Chàm, khám phá dấu ấn văn minh Chăm Pa và cảm nhận nét đẹp bình yên của hòn đảo giữa biển Đông. Theo Đô thị cổ Hội An
Đà Nẵng
1030 lượt xem
Xếp hạng : Di tích cấp quốc gia
Di tích tưởng niệm Ông Ích Đường
Di tích tưởng niệm Ông Ích Đường gắn với cuộc đời và sự hy sinh của Ông Ích Đường (1890–1908), người con của làng Phong Lệ, nay thuộc phường Hòa Thọ Tây, thành phố Đà Nẵng. Ông là cháu nội của Ông Ích Khiêm và sinh ra trong một gia đình có truyền thống yêu nước, sớm nổi tiếng là người nghĩa hiệp, giỏi văn võ và luôn đứng về phía người dân nghèo. Năm 1908, hưởng ứng phong trào chống sưu thuế Trung Kỳ, Ông Ích Đường đã lãnh đạo nhân dân Hòa Vang tham gia đấu tranh chống áp bức. Sau khi cuộc khởi nghĩa thất bại, ông bị thực dân Pháp bắt và xử chém tại chợ Túy Loan khi mới 18 tuổi. Trước khi hy sinh, khí phách hiên ngang và tinh thần bất khuất của ông đã trở thành biểu tượng của lòng yêu nước và ý chí đấu tranh vì độc lập dân tộc. Sự hy sinh của Ông Ích Đường đã gây xúc động sâu sắc trong nhân dân địa phương. Người dân đã lập miếu thờ ngay tại nơi ông tuẫn nạn để tưởng nhớ công lao và khí tiết của người chí sĩ yêu nước. Trải qua thời gian, khu vực di tích tiếp tục được gìn giữ, tôn tạo với nhà bia tưởng niệm bên cạnh cây đa lịch sử – chứng nhân gắn liền với sự kiện năm 1908. Ngày nay, Di tích tưởng niệm Ông Ích Đường là địa chỉ đỏ giáo dục truyền thống yêu nước và tinh thần đấu tranh cách mạng cho các thế hệ, đồng thời là điểm đến giúp du khách tìm hiểu về phong trào chống sưu thuế Trung Kỳ và lịch sử đấu tranh của nhân dân Đà Nẵng đầu thế kỷ XX. Theo: Báo Đà Nẵng
Đà Nẵng
914 lượt xem
Xếp hạng : Di tích cấp quốc gia
Khu căn cứ cách mạng Huyện ủy Hòa Vang
Khu căn cứ cách mạng Huyện ủy Hòa Vang nằm tại khu vực tam giác núi Phú Túc – Ô Rây – Tống Cói, thuộc phường Hòa Vang. Với địa hình rừng núi hiểm trở, nơi đây từng là căn cứ địa quan trọng của lực lượng cách mạng trong hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ. Từ những năm 1947–1949, khu vực Đồng Xanh – Đồng Nghệ được lựa chọn làm nơi đặt cơ quan lãnh đạo của Huyện ủy Hòa Vang. Đến năm 1955, Tỉnh ủy Quảng Đà xây dựng căn cứ cách mạng cánh Tây Hòa Vang (mật danh B1), biến nơi đây thành trung tâm chỉ đạo phong trào cách mạng của khu vực phía tây và tây bắc. Trong thời gian này, Hòn đá Đà Nẵng và Hòn đá Non Nước trở thành những biểu tượng thiêng liêng của tinh thần yêu nước và ý chí đấu tranh kiên cường. Từ năm 1960, khu vực tam giác Phú Túc – Ô Rây – Tống Cói tiếp tục được chọn làm căn cứ địa kháng chiến của Huyện ủy Hòa Vang. Đây là nơi làm việc, chỉ đạo và hoạt động của nhiều cán bộ lãnh đạo huyện, đồng thời là địa điểm tổ chức các hội nghị, đại hội Đảng bộ, huấn luyện quân sự và chính trị cho lực lượng cách mạng trong những năm kháng chiến chống Mỹ. Địa hình rừng núi hiểm trở đã góp phần che chở, bảo vệ các cơ quan đầu não trước nhiều cuộc càn quét của đối phương. Trong suốt hai cuộc kháng chiến, Khu căn cứ cách mạng Huyện ủy Hòa Vang giữ vai trò là trung tâm lãnh đạo, chỉ huy và hậu cứ quan trọng của phong trào cách mạng địa phương, gắn liền với nhiều sự kiện lịch sử và hoạt động của các cán bộ lãnh đạo cấp tỉnh, khu và huyện. Để gìn giữ những giá trị lịch sử đó, khu di tích đã được đầu tư xây dựng nhà trưng bày, bia tưởng niệm cùng các hạng mục phục vụ tham quan. Ngày nay, nơi đây trở thành địa chỉ đỏ giáo dục truyền thống yêu nước, tưởng nhớ các thế hệ cách mạng đi trước và là điểm đến giúp du khách tìm hiểu về lịch sử đấu tranh anh dũng của quân và dân Hòa Vang trong sự nghiệp giải phóng dân tộc. Theo: Báo Đà Nẵng
Đà Nẵng
348 lượt xem
Xếp hạng : Di tích cấp quốc gia
Hải Vân Quan
Hải Vân Quan là công trình quân sự phòng thủ được xây dựng vào năm 1826, dưới triều vua Minh Mạng. Di tích nằm trên đỉnh Đèo Hải Vân ở độ cao khoảng 496 m so với mực nước biển, tại ranh giới giữa thành phố Huế và thành phố Đà Nẵng. Đây là vị trí chiến lược trên tuyến giao thông Bắc – Nam, đồng thời là cửa ngõ bảo vệ kinh đô Huế từ phía nam. Từ thời các chúa Nguyễn, đèo Hải Vân đã được xem là vùng đất hiểm yếu, giữ vai trò quan trọng về quân sự và phòng thủ. Khi nhà Nguyễn chọn Huế làm kinh đô, nơi đây càng được coi là "yết hầu" của đất nước. Chính vì vậy, vua Minh Mạng đã cho xây dựng Hải Vân Quan nhằm kiểm soát con đường thiên lý và tăng cường bảo vệ kinh thành. Công trình gồm hai cổng thành lớn xây bằng gạch đá theo kiến trúc vòm cuốn. Cổng quay về phía Đà Nẵng khắc ba chữ "Hải Vân Quan", còn cổng hướng về Huế khắc sáu chữ "Thiên hạ đệ nhất hùng quan" – lời ca ngợi vẻ đẹp hùng vĩ và vị thế hiểm yếu của đèo Hải Vân. Bao quanh cửa quan là hệ thống tường thành kiên cố cùng các hạng mục quân sự như đồn trú, kho vũ khí và vị trí quan sát. Trải qua nhiều biến động lịch sử, đặc biệt trong thời kỳ Pháp thuộc và chiến tranh, Hải Vân Quan bị cải tạo thành cứ điểm quân sự, nhiều hạng mục kiến trúc gốc bị phá hủy hoặc xuống cấp. Đến năm 2017, di tích được xếp hạng Di tích quốc gia, và từ năm 2021, Huế và Đà Nẵng đã phối hợp triển khai dự án trùng tu, phục hồi các hạng mục quan trọng, góp phần khôi phục diện mạo vốn có của công trình. Ngày nay, Hải Vân Quan không chỉ là di tích lịch sử có giá trị đặc biệt mà còn là điểm dừng chân nổi tiếng trên cung đường đèo Hải Vân. Từ đây, du khách có thể phóng tầm mắt ngắm toàn cảnh núi non, biển cả và một trong những cung đường ven biển đẹp nhất Việt Nam. Với giá trị lịch sử, kiến trúc và cảnh quan độc đáo, Hải Vân Quan là điểm đến không thể bỏ qua trong hành trình khám phá miền Trung. Theo: Thông tấn xã Việt Nam
Đà Nẵng
1040 lượt xem
Xếp hạng : Di tích cấp quốc gia
Mộ ông Banjiro - thương nhân Nhật Bản
Mộ ông Banjiro - thương nhân Nhật Bản - Khối Trường Lệ - Xã Cẩm Hà Ông Banjiro là một thương gia Nhật Bản mất tại Hội An. Mộ ở gần đường từ phố cổ đi xuống biển An Bàng và còn giữ được những dấu vết nguyên thuỷ xây dựng từ thế kỷ XVII. Bia mộ có niên đại 1665. Phía sau mộ có một tấm bia bằng xi măng khắc chìm chữ Nhật, nội dung như sau: “Năm Chiêu Hoà thứ 3 (1928) theo đề xuất của giáo sư văn học Kuroita Katsumi, tập thể người Nhật cư trú tại Đông Dương (nay là Việt Nam, Campuchia, Lào) đề nghị ông Nakayama phụ trách giám sát việc tu sửa ngôi mộ này”. Gần đây Hội An tiếp tục tu bổ giữ gìn chu đáo ngôi mộ này. Di tích được xếp hạng di tích quốc gia năm 1991. Mộ ông Banjiro xây bằng hợp chất vôi, cát, nước vỏ cây, mật mía... Nấm mộ hình yên ngựa, quay hướng Đông Bắc, kích thước 190cm x 85cm. Trước mặt mộ có một tấm bia làm bằng đá muối, hai bên có 2 hàng chữ. Trước đây ngôi mộ này không có người trông nom, tu sửa. Sau khi Bộ Văn hóa ra quyết định công nhận Khu phố cổ Hội An, khu mộ này thường xuyên được Ban Quản lý Di tích Hội An quan tâm bảo quản và tu sửa. Hiện tại ngôi mộ được gia đình ông Nguyễn Nước thường xuyên trông nom, thắp hương. Di tích góp phần làm sáng tỏ quá trình hình thành Khu phố cổ Hội An, nhất là thời kỳ thương nhân Nhật Bản đến Hội An trao đổi buôn bán. Nguồn: Đô thị cổ Hội An
Đà Nẵng
332 lượt xem
Xếp hạng : Di tích cấp quốc gia
Khu di tích Đặc Khu ủy Quảng Đà
Khu di tích Đặc Khu ủy Quảng Đà Hòn Tàu là dãy núi giáp ranh giữa Duy Xuyên, Nông Sơn và Quế Sơn. Với vị trí chiến lược, nơi đây đã được Đặc Khu ủy Quảng Đà chọn làm căn cứ cách mạng trong 8 năm cuối cuộc chiến chống Mỹ (1967-1975). Với quyết tâm “Tất cả cho tổng công kích, tất cả cho tổng khởi nghĩa Xuân Mậu Thân 1968”, Đặc Khu ủy Quảng Đà chủ trương chỉ đạo tập trung huy động mọi lực lượng chuẩn bị nổi dậy. Căn cứ Hòn Tàu là nơi quan và dân ta chịu nhiều hy sinh, mất mát. Nhiều đồng chí là lãnh đạo Đặc Khu ủy và hàng trăm cán bộ, chiến sĩ đã anh dũng hy sinh. Đặc biệt, có 10 cán bộ, nhân viên của Ban Tuyên huấn hy sinh do bị bom B52 của Mỹ đánh sập nơi ở và làm việc vào sáng 22/5/1972. Mặc dù chịu nhiều hy sinh, mất mát, cán bộ, chiến sĩ Đặc Khu ủy Quảng Đà vẫn vững vàng tiếp tục thực hiện việc chỉ đạo các cuộc tiến công chiến lược, quyết định nhiều chủ trương quan trọng, hợp đồng chặt chẽ với các cánh quân chủ lực giải phóng các huyện phía Tây của tỉnh Quảng Nam, tạo thế gọng kìm, góp phần hoàn thành chiến dịch giải phóng Đà Nẵng năm 1975. Năm 2012, di tích Hòn Tàu được Bộ VHTT&DL xếp hạng Di tích Lịch sử cấp quốc gia. Sau khi có quyết định xếp hạng di tích, Sở VHTT&DL tỉnh Quảng Nam đã lập hồ sơ trình Bộ VHTT&DL phê duyệt và triển khai lập dự án phục dựng di tích. Qua hơn 2 năm triển khai thực hiện, đến nay Khu di tích Đặc Khu ủy Quảng Đà cơ bản đã hoàn thành đúng dịp kỷ niệm 50 năm thành lập Đặc Khu ủy (tháng 10/1967 - tháng 10/2017). Nguồn: Báo Chính Phủ
Đà Nẵng
481 lượt xem
Xếp hạng : Di tích cấp quốc gia
Địa điểm diễn ra cuộc đấu tranh Cây Cốc năm 1954
Di tích "Địa điểm diễn ra cuộc đấu tranh Cây Cốc năm 1954" là nơi ghi dấu sự kiện lịch sử quan trọng được ghi vào sử sách về cuộc đấu tranh của đồng bào ta đòi thi hành Hiệp định Giơ-ne-vơ tại Quảng Nam. Sáng 27-9, tại xã Tiên Thọ, huyện Tiên Phước, tỉnh Quảng Nam đã diễn ra Lễ đón nhận Bằng Di tích lịch sử cấp Quốc gia “Địa điểm diễn ra cuộc đấu tranh Cây Cốc năm 1954” và tưởng niệm 65 năm cuộc đấu tranh Cây Cốc (29/9/1954 - 29/9/2019). Di tích “Địa điểm diễn ra cuộc đấu tranh Cây Cốc năm 1954” là nơi ghi dấu sự kiện lịch sử quan trọng được ghi vào sử sách về cuộc đấu tranh của đồng bào ta đòi thi hành Hiệp định Giơ-ne-vơ tại Quảng Nam. Theo sử liệu ghi lại, 9h ngày 29-9-1954, nhân dân từ Quế Sơn, Tam Kỳ, Quảng Ngãi lên chợ Cây Cốc (xã Tiên Thọ, huyện Tiên Phước) để buôn bán. Khi nghe tin địch bắt giam, đàn áp người dân và các cán bộ cách mạng nên họ đã tập hợp, nổi trống mõ kêu gọi đồng bào quanh chợ Cây Cốc cùng đi đấu tranh. Đến khoảng 10h cùng ngày, khi vừa đến cầu Vôi, 3 chiếc máy bay khu trục của quân độ Pháp quần lượn trên bầu trời, địch đã ban hành mệnh lệnh đàn áp, liền sau đó lính của Tiểu đoàn 601 nổ súng vào nhân dân,... khiến hơn 330 đồng bào, chiến sĩ đã ngã xuống. Việc công nhận “Địa điểm diễn ra cuộc đấu tranh Cây Cốc năm 1954” là Di tích lịch sử cấp Quốc gia ngoài việc trở thành địa điểm giáo dục truyền thống cách mạng cho thế hệ trẻ còn là nơi kết nối du lịch, văn hóa lịch sử của tỉnh Quảng Nam. Nguồn Cổng thông tin điện tử huyện Tiên Phước, tỉnh Quảng Nam.
Đà Nẵng
4837 lượt xem
Xếp hạng : Di tích cấp quốc gia.
Địa điểm khởi phát phong trào chống sưu thuế năm 1908 ở miền Trung
Phong trào chống sưu cao, thuế nặng ở Quảng Nam và các tỉnh miền Trung đã trải qua hơn một thế kỷ song những giá trị lịch sử mà phong trào mang lại vẫn còn vẹn nguyên cho đến ngày hôm nay…. “Sòng dân Đại Lộc”… Năm 1858, thực dân Pháp nổ tiếng súng đầu tiên vào cửa biển Đà Nẵng mở đầu cho việc xâm lược nước ta. Các phong trào yêu nước liên tục nổ ra ở khắp nơi nhưng cuối cùng bị thất bại. Năm 1897, thực dân Pháp tiến hành chính sách “khai thác thuộc địa” lần thứ nhất bằng những chính sách thực dân phản động và bảo thủ, bóc lột nhân dân ta hết sức thậm tệ, tàn ác đặc biệt là chính sách sưu thuế. Người dân không những phải nộp thuế mà còn phải đi phu, lao dịch, đắp đường… Biết bao nhiêu người bỏ mạng, biết bao nhiêu người mang thương tật cả đời.. Những hình ảnh tang thương đó đã đi vào ca dao: Từ ngày Tây lại cửa Hàn Đào sông Cu Nhí, bòn vàng Bồng Miêu Huyện Đại Lộc là một trong những địa phương của tỉnh Quảng Nam mà nhân dân chịu nhiều thống khổ bởi chính sách cai trị tàn bạo thực dân phong kiến. Đói khát, bệnh tật cộng thêm thiên tai, hạn hán liên miên đã dìm cuộc sống của những người nông dân xuống tận cùng của đau khổ. Tên tri huyện lúc đó lại lợi dụng chính sách tăng thuế để khai khống số dân nhằm thu lợi cho cá nhân. Trước tình cảnh đó, vào đầu tháng 3 năm 1908, tại một bữa đám giỗ tộc Trương làng Phiếm Ái, xã Đại Nghĩa; một số hào lý đã bàn nhau làm đơn lấy chữ ký của các lý trưởng các làng xã trong huyện gửi quan huyện xin giảm nhẹ sưu cùng các món thuế bởi nhân dân quá khổ trước chính sách sưu, thuế hiện hành; nếu không được sẽ gửi lên Tòa Công sứ Pháp tại Hội An. Do việc làm xuất phát từ sự thương dân, vì quyền lợi chính đáng của đa số nhân dân, nên những người "làm đơn lấy chữ ký ", được nhân dân trong huyện gọi là "Đồng dân" và cuộc "Xin sưu" do họ khởi xướng được gọi là "Sòng Đồng Dân" hay là "Sòng dân Đại Lộc". Ngày 11-3-1908, hơn 400 người dân ăn mặc rách rưới kéo xuống huyện đường, nhưng viên Tri huyện không dám nhận đơn, lại cấp báo với viên quan tỉnh và Công sứ Pháp nên đoàn biểu tình bèn kéo nhau đi vây dinh Tổng đốc rồi vây luôn cả tòa Công sứ. Nhân dân các phủ huyện như Điện Bàn, Duy Xuyên, Tam Kỳ, Hội An, Hòa Vang… cũng đồng loạt hưởng ứng tại địa phương mình, và còn kéo về Hội An nên số người biểu tình ở đây mỗi lúc một đông. Trước sức ép của quần chúng nhân dân, chính quyền thực dân phong kiến đã thẳng tay đàn áp, bắt một số người lãnh đạo phong trào đày đi các nhà tù hoặc xử trảm. Phong trào đấu tranh chống sưu cao, thuế nặng sau một thời gian cũng bị chính quyền thực dân, phong kiến đàn áp. Tuy nhiên, phong trào nhận được sự hưởng ứng, tham gia của đông đảo quần chúng nhân dân bởi vì đây là phong trào đấu tranh vì quyền lợi chính đáng của những người dân nghèo khổ chống lại sự bóc lột của bộ máy cai trị thối nát lúc bấy giờ. Phong trào chống sưu thuế năm 1908 cũng thể hiện được lòng yêu nước, tinh thần, sức mạnh đoàn kết của nhân dân. Xuất phát từ lòng căm thù bọn thực dân xâm lược, bè lũ phong kiến tay sai bán nước hại dân, dưới sự lãnh đạo của những sĩ phu yêu nước, những người nông dân “áo rách nón cời” đã vùng lên tranh đấu. Lúc đầu, phong trào chỉ xuất phát ở một huyện, sau đó nhanh chóng lan ra các huyện, phủ trong tỉnh Quảng Nam và các tỉnh miền Trung. Lòng yêu nước, tinh thần đoàn kết của nhân dân ta từ xưa đến nay cũng chính là giá trị bất biến, góp phần quan trọng vào sự thành công trong quá trình xây dựng và bảo vệ quê hương, đất nước. Phong trào chống sưu thuế đã giáng một đòn rất mạnh vào bộ máy chính quyền thực dân phong kiến đương thời. Ở Quảng Nam và các tỉnh miền Trung, nhân dân nổi dậy phá buồng giam, đốt dụng cụ tra tấn, giải phóng tù nhân; hàng loạt những tên tay sai gian ác bị quần chúng nhân dân vây bắt, có những tên ác ôn còn bị trừng trị thích đáng. Dù ở đâu, các cuộc nổi dậy của nhân dân đều có sự “dẫn đường chỉ lối” của các nho sinh, thân sĩ- những người có nhận thức nhất định về xã hội lúc đó. Mặc dù phong trào đã thất bại song nó đã mang đến ánh sáng mới cho con đường cách mạng Việt Nam. Giai cấp nông dân chính là lực lượng nòng cốt cho các phong trào cách mạng sau này. Trước sức mạnh bởi đòn roi, súng đạn của kẻ thù, những yêu sách mang tính ôn hòa sẽ không mang lại kết quả; chỉ có bạo lực cách mạng mới đủ sức chống lại bạo lực phản cách mạng. Phong trào đã được nhận xét là “một cuộc cách mạng được chuẩn bị một cách cực kỳ khéo léo”. 110 năm đã trôi qua, phong trào chống sưu thuế ngày ấy mới chỉ là bước mở đầu cho những phong trào cách mạng sục sôi sau này. Nhưng giá trị hiện hữu mà cho đến hiện nay chúng ta vẫn phải khẳng định đó là sức mạnh của lòng dân. Ngày ấy, trước sự vận động của các nhà nho yêu nước, quần chúng nhân dân “cơm đùm gạo gói” thay nhau đi đấu tranh đòi giảm sưu, giảm thuế. Hàng ngàn người chia nhau từng ngụm nước, từng nắm cơm, chăm sóc, động viên những người bị thương… Họ đoàn kết, tương trợ lẫn nhau, không vụ lợi, không toan tính cho cá nhân mình. Họ làm tất cả mọi việc chỉ với mục đích duy nhất là chống lại ách thống trị tàn bạo của chính quyền thực dân phong kiến; đòi lại quyền lợi hợp pháp, chính đáng cho những kiếp người lao khổ. Phong trào chống sưu thuế ở Quảng Nam và các tỉnh miền Trung đã đi vào lịch sử đấu tranh của dân tộc ta như một mốc son sáng ngời. Ghi nhận những giá trị lịch sử to lớn của phong trào chống sưu thuế; ngày 29/12/2017, Bộ trưởng Bộ Văn hóa- Thể thao và Du lịch ban hành Quyết định số 5400/Quyết Định -Bộ Văn Hóa Thể Thao Du Lịch về việc xếp hạng Di tích lịch sử Địa điểm khởi phát phong trào chống sưu, thuế năm 1908 ở miền Trung (Đình Phiếm Ái và Nhà Ông Nghè Tiếp), xã Đại Nghĩa, huyện Đại Lộc, tỉnh Quảng Nam là di tích quốc gia.
Đà Nẵng
4747 lượt xem
Xếp hạng : Di tích cấp quốc gia.
Lăng mộ Thượng thư Trương Công Hy
Thượng thư Trương Công Hy (1727 - 1800) là người làng Thanh Quýt của phủ Điện Bàn, nay thuộc xã Điện Thắng Trung, huyện Điện Bàn. Cụ là nhân vật lịch sử đặc biệt, được Viện Sử học (thuộc Viện Khoa học xã hội Việt Nam) khẳng định “là danh thần triều Tây Sơn mà chính sử nước ta còn bỏ sót”, vì thế tên tuổi và sự nghiệp đối với sự phát triển của lịch sử dân tộc cần được tôn vinh xứng đáng. Trương Công Hy đỗ hương cống dưới thời Võ vương Nguyễn Phúc Khoát, làm thầy dạy của ấu chúa Nguyễn Phúc Dương cũng như các hoàng tử, hoàng tôn trong phủ chúa. Nhận thấy sự mục ruỗng của chính sự lúc bấy giờ nên khi triều Tây Sơn chiêu hiền, đãi sĩ, phất cờ chính nghĩa, cụ đã theo phụng sự cho vương triều Tây Sơn và được bổ nhiệm làm Tri phủ Điện Bàn, rồi Khâm sai Quảng Nam trấn, Hình bộ Thượng thư. Về quê an hưu, cụ được truy phong chức Binh bộ Thượng thư, tước Thùy Ân Hầu. Sinh thời, Thượng thư Trương Công Hy là một danh thần luôn hết lòng vì dân, vì nước, nổi tiếng thanh liêm. Trong thời gian làm Tri phủ Điện Bàn, cụ dốc hết tâm sức chấn chỉnh chính quyền cấp thôn, xã; tổ chức khẩn hoang, đẩy mạnh sản xuất, mở mang trường lớp, tiến cử hiền tài, hết lòng chăm lo đời sống nhân dân. Được nhà Tây Sơn cấp lộc điền 500 mẫu ruộng tại Lai Nghi, Phú Chiêm (xã Điện Phương), khi về hưu cụ đã phân phát cho người dân địa phương canh tác. Lúc cụ mất, dân chúng khắp nơi đến viếng rất đông. Làng phải dựng “Xích hậu” (tức nhà khách) để dân chúng trọ lại trước khi vào viếng. Con đường từ “Xích hậu” đến nhà thờ tộc Trương hiện vẫn được dân chúng gọi là Ngõ Quan Thượng. Trong suốt cuộc đời của mình, Thượng thư Trương Công Hy đã có nhiều đóng góp vào việc chấn chỉnh tổ chức giáo dục khoa cử, biên soạn luật lệ, tiến cử người hiền tài… Năm 2005, Lăng mộ Thượng thư Trương Công Hy được Uỷ Ban Nhân Dân tỉnh công nhận là di tích văn hóa lịch sử cấp tỉnh và đến tháng 8 năm 2013, Bộ Văn Hóa - Thể Thao & Du Lịch đã có quyết định công nhận Di tích lịch sử và xếp hạng di tích quốc gia. Nguồn Cổng thông tin điện tử thị xã Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam.
Đà Nẵng
4944 lượt xem
Xếp hạng : Di tích cấp quốc gia.
Di tích nổi bật
Xem tất cả






































































