Di tích lịch sử

Xem dạng bản đồĐà Nẵng

Danh sách điểm di tích (58)

Khu tưởng niệm Chiến thắng Thượng Đức

Khu tưởng niệm Chiến thắng Thượng Đức

Khu tưởng niệm Chiến thắng Thượng Đức – Địa chỉ đỏ giữa miền đất anh hùng. Khu tưởng niệm Chiến thắng Thượng Đức nằm tại xã Đại Lãnh, thành phố Đà Nẵng, là nơi ghi dấu chiến thắng Thượng Đức vang dội ngày 7/8/1974 – một trong những trận đánh có ý nghĩa chiến lược trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước. Năm 1974, Thượng Đức là căn cứ quân sự kiên cố của chính quyền Sài Gòn, được mệnh danh là "cánh cửa thép" bảo vệ phía tây Đà Nẵng. Sau 10 ngày chiến đấu quyết liệt, quân và dân ta đã làm chủ cứ điểm vào ngày 7/8/1974, mở toang tuyến phòng thủ quan trọng của đối phương. Chiến thắng không chỉ tạo bước ngoặt trên chiến trường Quảng Nam mà còn góp phần quan trọng để Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương hoạch định chiến lược, tiến tới cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân năm 1975, giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước. Để tưởng nhớ các anh hùng liệt sĩ đã anh dũng hy sinh, Khu tưởng niệm Chiến thắng Thượng Đức được đầu tư xây dựng với quy mô khang trang trên nền quận lỵ Thượng Đức cũ. Công trình gồm tượng đài chiến thắng bằng đá granite, sân hành lễ, khuôn viên cây xanh cùng hệ thống hầm hào, lô cốt được bảo tồn, tái hiện một phần chiến trường năm xưa. Tượng đài cao hơn 18 m, hướng về phía Ái Nghĩa – Đà Nẵng, thể hiện khí thế tiến công và khát vọng hòa bình của dân tộc. Nguồn: Báo và Phát thanh, Truyền hình Đà Nẵng.

Đà Nẵng

84 lượt xem

Xếp hạng : Di tích cấp quốc gia

Mở

Khu di tích vụ thảm sát Vĩnh Trinh

Khu di tích vụ thảm sát Vĩnh Trinh

Khu di tích vụ thảm sát Vĩnh Trinh – Chứng tích lịch sử về tội ác chiến tranh. Khu di tích vụ thảm sát Vĩnh Trinh nằm tại xã Thu Bồn, thành phố Đà Nẵng, là nơi ghi dấu một trong những vụ thảm sát đau thương nhất ở Quảng Nam trong thời kỳ đầu sau Hiệp định Giơnevơ năm 1954. Đêm 21/1/1955 (tức đêm 29 rạng ngày 30 Tết Ất Mùi), chính quyền Mỹ - Diệm đã sát hại dã man 38 cán bộ, chiến sĩ và đồng bào yêu nước tại đập Vĩnh Trinh nhằm đàn áp phong trào cách mạng. Các nạn nhân bị tra tấn, trói đá rồi dìm xuống lòng hồ để phi tang. Tội ác này đã gây chấn động dư luận trong nước và quốc tế, trở thành biểu tượng về sự tàn bạo của chế độ Mỹ - Diệm cũng như tinh thần bất khuất của những người con yêu nước. Sau ngày đất nước thống nhất, Đài tưởng niệm Vĩnh Trinh được xây dựng ngay gần nơi xảy ra vụ thảm sát. Công trình nổi bật với tượng đài người chiến sĩ hiên ngang, hồ nước có 38 bông sen tượng trưng cho 38 nạn nhân, trong đó một búp sen chưa nở tưởng nhớ người phụ nữ đang mang thai đã hy sinh. Không gian trang nghiêm giữa đồi thông và hồ nước vừa là nơi tri ân các anh hùng liệt sĩ, vừa góp phần giáo dục truyền thống yêu nước cho các thế hệ hôm nay. Với những giá trị lịch sử đặc biệt, Địa điểm vụ thảm sát Vĩnh Trinh đã được Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch xếp hạng Di tích lịch sử quốc gia theo Quyết định số 309/QĐ-BVHTTDL ngày 26/01/2011. Ngày nay, nơi đây là "địa chỉ đỏ" thu hút nhiều đoàn khách, học sinh, sinh viên và du khách đến dâng hương, tìm hiểu lịch sử và tưởng nhớ những người đã hy sinh vì độc lập, tự do của dân tộc. Nguồn: Trang Thông tin điện tử xã Thu Bồn

Đà Nẵng

183 lượt xem

Xếp hạng : Di tích cấp quốc gia

Mở

Mộ Phạm Phú Thứ

Mộ Phạm Phú Thứ

Mộ Phạm Phú Thứ – Di tích ghi dấu nhà canh tân tiêu biểu thế kỷ XIX. Mộ Phạm Phú Thứ tọa lạc tại xã Gò Nổi, thành phố Đà Nẵng (theo địa giới hành chính mới), là nơi an nghỉ của danh nhân Phạm Phú Thứ (1821–1882) – vị đại thần triều Nguyễn, nhà ngoại giao, nhà văn hóa và là một trong những người tiên phong đề xướng tư tưởng canh tân đất nước trong thế kỷ XIX. Sinh ra tại vùng đất Quảng Nam xưa, Phạm Phú Thứ nổi tiếng thông minh, học rộng, đỗ đạt cao và từng đảm nhiệm nhiều chức vụ quan trọng dưới triều vua Thiệu Trị và Tự Đức. Ông cùng Nguyễn Trường Tộ được xem là những nhà tư tưởng cải cách tiêu biểu với nhiều đề xuất về phát triển kinh tế, khoa học kỹ thuật, giáo dục, ngoại giao và thương mại nhằm đưa đất nước phát triển, tăng cường nội lực trước nguy cơ xâm lược của thực dân Pháp. Trong suốt cuộc đời làm quan, Phạm Phú Thứ luôn được biết đến là vị quan thanh liêm, chính trực, tận tụy vì dân. Ông từng tham gia phái bộ sang Pháp và Tây Ban Nha năm 1863, từ đó ghi chép nhiều tư liệu quý trong Tây hành nhật ký, đồng thời để lại nhiều tác phẩm có giá trị về lịch sử, văn hóa và tư tưởng cải cách, góp phần quan trọng vào kho tàng di sản học thuật Việt Nam. Sau khi qua đời năm 1882, ông được triều đình truy tặng hàm Nhất phẩm và ghi nhận những cống hiến to lớn đối với đất nước. Mộ Phạm Phú Thứ ngày nay không chỉ là nơi tưởng niệm một danh nhân văn hóa mà còn là địa chỉ giáo dục truyền thống yêu nước, tinh thần đổi mới và khát vọng phát triển dân tộc. Nguồn: Cục Di sản văn hóa

Đà Nẵng

238 lượt xem

Xếp hạng : Di tích cấp quốc gia

Mở

Lăng Ông Ngư Cù Lao Chàm

Lăng Ông Ngư Cù Lao Chàm

Lăng Ông Ngư Cù Lao Chàm Lăng Ông Ngư tọa lạc tại thôn Bãi Làng, xã đảo Tân Hiệp (Cù Lao Chàm), thành phố Đà Nẵng (trước đây thuộc TP. Hội An, Quảng Nam). Công trình được xây dựng vào cuối thế kỷ XIX, nằm cách bờ biển khoảng 10 m, lưng tựa núi, mặt hướng ra biển theo quan niệm phong thủy truyền thống của cư dân vùng biển. Theo tín ngưỡng dân gian, cá Ông (cá voi) được ngư dân tôn kính là vị thần Nam Hải, luôn che chở, cứu giúp người gặp nạn trên biển. Khi cá Ông dạt vào bờ, người dân tổ chức tang lễ trang trọng theo nghi thức truyền thống, sau đó cải táng và đưa cốt vào lăng để thờ phụng, thể hiện lòng biết ơn đối với vị thần bảo hộ của ngư dân. Lăng được xây bằng gạch, vôi và san hô, mang kiến trúc truyền thống với mái ngói âm dương, mái cuốn vòm thấp và hậu tẩm lưu giữ xương cá Ông. Trên bờ mái trang trí các họa tiết tứ linh, chim phượng và quy thư. Phía trước là bình phong đắp nổi hình "Thần Ngư hí nguyệt". Bên trong gồm ba gian: gian chính thờ cá Ông với 13 bài vị sơn son thếp vàng; hai gian bên thờ các vị tả hữu ban và thần linh phụ trợ. Lăng Ông Ngư không chỉ là nơi sinh hoạt tín ngưỡng của cộng đồng ngư dân Cù Lao Chàm mà còn là công trình kiến trúc nghệ thuật tiêu biểu, phản ánh đời sống văn hóa biển của cư dân địa phương. Hằng năm, vào ngày mùng 3 và 4 tháng 4 âm lịch, lễ Cầu Ngư được tổ chức tại đây với các nghi lễ truyền thống nhằm tưởng nhớ cá Ông, cầu mưa thuận gió hòa, biển yên sóng lặng và những chuyến ra khơi bình an, bội thu. Với những giá trị nổi bật về lịch sử, kiến trúc và văn hóa tín ngưỡng, ngày 13/12/2006, Lăng Ông Ngư Cù Lao Chàm được Bộ Văn hóa – Thông tin (nay là Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch) xếp hạng Di tích lịch sử – văn hóa cấp quốc gia. Nguồn: Ban Quản lý Khu bảo tồn biển Cù Lao Chàm

Đà Nẵng

500 lượt xem

Xếp hạng : Di tích cấp quốc gia

Mở

Đình Tiền hiền Tân Hiệp

Đình Tiền hiền Tân Hiệp

Đình Tiền hiền Tân Hiệp – Di tích ghi dấu công lao khai lập làng trên Cù Lao Chàm Đình Tiền hiền Tân Hiệp (người dân địa phương thường gọi là Lăng Tiền hiền) tọa lạc tại thôn Bãi Làng, xã Tân Hiệp (Cù Lao Chàm), thành phố Hội An, tỉnh Quảng Nam. Đây là công trình tín ngưỡng tiêu biểu của cư dân trên đảo, được xây dựng vào khoảng cuối thế kỷ XVIII để thờ các bậc tiền hiền, hậu hiền có công khai phá, lập làng, đồng thời phối thờ các vị thần bảo hộ ngư dân trong cuộc sống và quá trình mưu sinh trên biển. Theo các tư liệu lịch sử, Cù Lao Chàm từ lâu giữ vị trí quan trọng tại cửa ngõ biển của Hội An, là nơi tàu thuyền trong và ngoài nước thường dừng chân lấy nước ngọt, củi và tránh gió trước khi tiếp tục hải trình. Sự hình thành cộng đồng cư dân trên đảo gắn liền với quá trình khai hoang, lập ấp và phát triển nghề biển. Vì vậy, việc xây dựng đình để tưởng nhớ các bậc tiền nhân cũng như cầu mong biển yên sóng lặng là nét đẹp văn hóa được lưu truyền qua nhiều thế hệ. Đình được xây dựng theo lối kiến trúc cuốn vòm đặc trưng, sử dụng các vật liệu địa phương như đá, gạch, san hô, vôi vữa; mái lợp ngói âm dương. Bờ nóc trang trí hình "lưỡng long tranh châu", đầu đao uốn cong mềm mại với các họa tiết hoa lá, mặt rồng và đuôi cá, phản ánh sự giao thoa giữa nghệ thuật kiến trúc truyền thống và văn hóa biển đảo. Không gian bên trong rộng rãi, chia thành nhiều nếp thờ. Gian chính đặt các bài vị thờ Phục Ba Tướng quân cùng một số vị thần liên quan đến nghề biển. Theo quan niệm xưa, "Phục Ba" là tước hiệu dành cho những vị tướng có công chinh phục sóng gió hoặc có tài hàng hải, được nhân dân tôn thờ như những vị thần che chở cho ngư dân trong mỗi chuyến ra khơi. Với những giá trị đặc sắc về lịch sử, văn hóa và kiến trúc, Đình Tiền hiền Tân Hiệp được xếp hạng Di tích cấp Quốc gia năm 2006. Nguồn: Trung tâm Quản lý Bảo tồn Di sản Văn hóa Hội An.

Đà Nẵng

266 lượt xem

Xếp hạng : Di tích cấp quốc gia

Mở

Khu mộ Thứ phi vua Quang Trung và các tướng Tây Sơn

Khu mộ Thứ phi vua Quang Trung và các tướng Tây Sơn

Khu mộ Thứ phi vua Quang Trung và các tướng Tây Sơn Khu mộ Thứ phi vua Quang Trung và các tướng Tây Sơn nằm tại thôn Thanh Đông, xã Cẩm Thanh, thành phố Hội An, tỉnh Quảng Nam. Di tích tọa lạc trên gò Rừng Rẫy, là nơi an táng Thứ phi Trần Thị Quỵ cùng một số tướng lĩnh, quan lại của triều Tây Sơn thuộc tộc Trần Thanh Châu. Theo gia phả tộc Trần và tư liệu địa phương, Trần Thị Quỵ là người làng Thanh Châu, được vua Quang Trung tuyển làm thứ phi. Sau khi nhà Tây Sơn suy vong, bà trở về quê sinh sống và được an táng tại Cẩm Thanh. Trong khu mộ còn có mộ của Trần Công Thức – Đại Đô đốc, Quận công Đại tướng quân và nhiều thành viên khác của tộc Trần từng giữ chức vụ dưới triều Tây Sơn. Khu mộ không chỉ phản ánh loại hình mộ cổ đặc trưng của Hội An mà còn là minh chứng cho vai trò của làng Thanh Châu và tộc Trần trong phong trào Tây Sơn. Đây là nguồn tư liệu có giá trị phục vụ nghiên cứu lịch sử địa phương và giai đoạn cuối thế kỷ XVIII. Năm 1991, Khu mộ Thứ phi vua Quang Trung và các tướng Tây Sơn được xếp hạng Di tích lịch sử cấp quốc gia. Nguồn: Theo Trung tâm Quản lý Bảo tồn Di sản Văn hóa Hội An.

Đà Nẵng

132 lượt xem

Xếp hạng : Di tích cấp quốc gia

Mở

Mộ tổ tộc Lê

Mộ tổ tộc Lê

Mộ tổ tộc Lê – Di tích ghi dấu quá trình khai khẩn vùng đất Cẩm Thanh Mộ tổ tộc Lê tọa lạc tại thôn Thanh Đông, xã Cẩm Thanh, thành phố Hội An, tỉnh Quảng Nam. Đây là di tích mộ táng của thủy tổ tộc Lê – ông Lê Duy Trì, hậu duệ đời thứ năm của triều Hậu Lê, người đã đến vùng đất Thanh Châu lập nghiệp vào đầu thế kỷ XVII. Theo tư liệu lịch sử, ông Lê Duy Trì là con trưởng của Thế Tông Hoàng đế Lê Duy Đàm, anh của vua Kính Tông Lê Duy Tân. Năm 1623, do biến động chính trị và bị chúa Trịnh Tùng truy bức, ông cùng gia quyến vào phương Nam, dừng chân tại vùng Thanh Châu (nay thuộc xã Cẩm Thanh). Tại đây, ông cùng dòng tộc khai hoang, mở đất, lập ấp, phát triển sản xuất và trở thành những bậc tiền hiền có công khai khẩn vùng đất này. Quần thể mộ hiện nay được xây dựng quy mô vào năm 1930 (Bảo Đại ngũ niên). Bia mộ khắc tên các vị tổ của tộc Lê và ghi nhận công lao khai khẩn các vùng đất Thanh Châu xưa. Di tích không chỉ là nơi tưởng niệm tiền nhân mà còn là minh chứng quan trọng cho quá trình di dân, mở cõi của cư dân Đại Việt vào vùng đất Hội An trong thế kỷ XVII. Với những giá trị nổi bật về lịch sử và văn hóa, Mộ tổ tộc Lê là nguồn tư liệu quý phục vụ nghiên cứu lịch sử hình thành cộng đồng cư dân Cẩm Thanh nói riêng và Hội An nói chung. Di tích đã được xếp hạng Di tích lịch sử cấp quốc gia năm 1991. Nguồn: Theo Trung tâm Quản lý Bảo tồn Di sản Văn hóa Hội An.

Đà Nẵng

544 lượt xem

Xếp hạng : Di tích cấp quốc gia

Mở

Mộ thương nhân Nhật Bản Tani Yajirobei

Mộ thương nhân Nhật Bản Tani Yajirobei

Mộ thương nhân Nhật Bản Tani Yajirobei nằm tại Hội An Đông, TP Đà Nẵng, là minh chứng cho mối quan hệ giao thương giữa Việt Nam và Nhật Bản trong thời kỳ Hội An là thương cảng quốc tế sầm uất vào cuối thế kỷ XVI, đầu thế kỷ XVII. Ông Tani Yajirobei, quê ở Hirado (gần Nagasaki), đến Hội An buôn bán, định cư và qua đời tại đây. Bia mộ được lập năm 1647, ghi rõ quê quán Nhật Bản, là tư liệu quý về sự hiện diện của cộng đồng người Nhật tại Hội An. Ngôi mộ được xây dựng theo lối mộ cổ Hội An với nấm mộ bằng hợp chất truyền thống từ vôi, vỏ sò, vỏ hến, mật mía và nhựa cây bời lời tạo độ bền cao qua hàng trăm năm. Đây là một trong những di tích có giá trị về lịch sử, văn hóa và kiến trúc, góp phần minh chứng cho sự giao lưu kinh tế, văn hóa Việt Nam – Nhật Bản trong lịch sử. Mộ được xây trên một gò đất cao, quay hướng Đông Bắc theo quan niệm phong thủy truyền thống. Công trình gồm thành bao bằng sa thạch, nấm mộ hình yên ngựa và bia mộ bằng đá sa thạch. Năm 1991, Mộ thương nhân Nhật Bản Tani Yajirobei được xếp hạng Di tích lịch sử cấp Quốc gia. Ngày nay, di tích là điểm tham quan hấp dẫn, đặc biệt đối với du khách Nhật Bản và những người yêu thích tìm hiểu lịch sử thương cảng Hội An. Nguồn: Đô thị cổ Hội An

Đà Nẵng

322 lượt xem

Xếp hạng : Di tích cấp quốc gia

Mở

Miếu Tổ nghề Yến Cù Lao Chàm

Miếu Tổ nghề Yến Cù Lao Chàm

Nằm tại thôn Bãi Hương, xã Tân Hiệp, Cù Lao Chàm (thành phố Đà Nẵng), Miếu Tổ nghề Yến (Yến Nghệ Tổ Miếu) là di tích tín ngưỡng đặc sắc, gắn liền với lịch sử hình thành và phát triển nghề khai thác yến sào Thanh Châu – một nghề truyền thống có lịch sử từ thế kỷ XVI. Không chỉ là nơi thờ các bậc tiền nhân khai sáng nghề yến, di tích còn phản ánh sự gắn bó bền chặt giữa cư dân vùng biển đảo với tài nguyên thiên nhiên và chủ quyền biển đảo Việt Nam. Miếu được xây dựng quy mô vào năm 1848 (năm Tự Đức thứ nhất) do ông Hồ Văn Hòa cùng các chức dịch làng Thanh Châu đứng ra xây dựng để thờ Tổ nghề khai thác yến và các vị thần bảo hộ nghề. Theo nhiều tư liệu lịch sử, từ thời Gia Long, ông Hồ Văn Hòa được giao quản lý việc khai thác yến sào tại Cù Lao Chàm và được các thế hệ sau tôn vinh là Tổ nghề yến. Di tích được xây dựng trên một gò cát cách bờ biển Bãi Hương khoảng 150 m, mặt tiền hướng ra biển. Kiến trúc mang đậm phong cách truyền thống với cổng tam quan, bình phong kiểu cuốn thư, hai nếp nhà liên hoàn lợp ngói âm dương cùng hệ thống cột kèo bằng gỗ được chạm khắc tinh xảo. Không gian thờ tự lưu giữ nhiều hiện vật quý như hoành phi, khám thờ sơn son thếp vàng, bài vị các bậc tiền hiền và bia đá thời Tự Đức, phản ánh giá trị lịch sử, nghệ thuật và tín ngưỡng của cộng đồng cư dân biển. Đến với Miếu Tổ nghề Yến, du khách không chỉ được tìm hiểu về lịch sử nghề khai thác yến sào – một nghề truyền thống nổi tiếng của Cù Lao Chàm, mà còn có cơ hội khám phá đời sống văn hóa của ngư dân Bãi Hương, lắng nghe những câu chuyện, truyền thuyết về nghề yến và cảm nhận sự gắn kết giữa con người với biển đảo qua nhiều thế hệ. Hằng năm, vào ngày 10 tháng 3 âm lịch, lễ Giỗ Tổ nghề Yến được tổ chức trang trọng tại di tích nhằm tưởng nhớ công lao các bậc tiền nhân, cầu mong mùa khai thác thuận lợi, bình an và bội thu. Ngày nay, lễ hội còn kết hợp với nhiều hoạt động văn hóa, du lịch, góp phần quảng bá nghề khai thác yến sào Thanh Châu – Di sản văn hóa phi vật thể quốc gia, đồng thời nâng cao ý thức bảo tồn tài nguyên thiên nhiên và phát huy giá trị của Khu Dự trữ sinh quyển thế giới Cù Lao Chàm – Hội An. Theo báo mới

Đà Nẵng

482 lượt xem

Xếp hạng : Di tích cấp quốc gia

Mở

Giếng cổ Xóm Cấm

Giếng cổ Xóm Cấm

Giếng cổ Xóm Cấm – Dấu ấn văn hóa Chăm giữa lòng Cù Lao Chàm Nằm tại thôn Cấm, Hội An, Đà Năng, Giếng cổ Xóm Cấm là một trong những công trình kiến trúc cổ tiêu biểu của Cù Lao Chàm, gắn liền với lịch sử hình thành và phát triển của cư dân trên đảo suốt nhiều thế kỷ. Đây không chỉ là nguồn nước ngọt quý giá mà còn là minh chứng sinh động cho sự giao thoa văn hóa giữa người Chăm và người Việt trên tuyến thương cảng quốc tế Hội An. Các kết quả khảo cổ học cho thấy Cù Lao Chàm đã có cư dân sinh sống từ hơn 3.000 năm trước. Đến các thế kỷ VII – X, nơi đây trở thành địa bàn cư trú của người Chăm, đồng thời là điểm dừng chân quan trọng trên tuyến hàng hải quốc tế, nơi diễn ra hoạt động giao thương sôi động với các thương nhân từ Trung Quốc, Trung Đông và nhiều quốc gia khác. Sau thế kỷ XVII, cộng đồng người Việt đến sinh sống, tiếp tục kế thừa, gìn giữ và sử dụng các công trình do người Chăm xây dựng, trong đó có hệ thống giếng cổ. Giếng Xóm Cấm mang đậm phong cách kiến trúc Chăm với miệng giếng đường kính khoảng 1,18 m, sâu 4,5 m, lòng giếng xây bằng gạch theo dạng "cổ áo" (vành khăn), kết dính bằng vữa vôi truyền thống. Đặc biệt, dưới đáy giếng còn lưu giữ hệ thống bốn thanh gỗ lim ghép thành hình vuông, góp phần gia cố nền móng và bảo đảm độ bền vững của công trình qua hàng trăm năm. Theo nhiều tư liệu cổ, trong thời kỳ hưng thịnh của thương cảng Hội An, các thương thuyền quốc tế thường ghé Cù Lao Chàm để bổ sung lương thực và lấy nước ngọt từ các giếng cổ trên đảo trước khi tiếp tục hành trình. Đến ngày nay, Giếng Xóm Cấm vẫn luôn đầy nước, trong xanh và mát lành quanh năm, tiếp tục phục vụ đời sống sinh hoạt của người dân địa phương, trở thành biểu tượng của sự trường tồn và sức sống bền bỉ giữa biển khơi. Không chỉ mang giá trị lịch sử và kiến trúc, Giếng cổ Xóm Cấm còn phản ánh quá trình kế thừa và hòa quyện văn hóa giữa các cộng đồng cư dân trên đảo, góp phần làm nên bản sắc độc đáo của Khu dự trữ sinh quyển thế giới Cù Lao Chàm – Hội An. Với những giá trị đặc biệt về lịch sử, khảo cổ và văn hóa, Giếng cổ Xóm Cấm được Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch xếp hạng Di tích lịch sử cấp quốc gia năm 2006. Ngày nay, đây là điểm tham quan hấp dẫn, nơi du khách có thể tìm hiểu về lịch sử lâu đời của Cù Lao Chàm, khám phá dấu ấn văn minh Chăm Pa và cảm nhận nét đẹp bình yên của hòn đảo giữa biển Đông. Theo Đô thị cổ Hội An

Đà Nẵng

1030 lượt xem

Xếp hạng : Di tích cấp quốc gia

Mở

Di tích tưởng niệm Ông Ích Đường

Di tích tưởng niệm Ông Ích Đường

Di tích tưởng niệm Ông Ích Đường gắn với cuộc đời và sự hy sinh của Ông Ích Đường (1890–1908), người con của làng Phong Lệ, nay thuộc phường Hòa Thọ Tây, thành phố Đà Nẵng. Ông là cháu nội của Ông Ích Khiêm và sinh ra trong một gia đình có truyền thống yêu nước, sớm nổi tiếng là người nghĩa hiệp, giỏi văn võ và luôn đứng về phía người dân nghèo. Năm 1908, hưởng ứng phong trào chống sưu thuế Trung Kỳ, Ông Ích Đường đã lãnh đạo nhân dân Hòa Vang tham gia đấu tranh chống áp bức. Sau khi cuộc khởi nghĩa thất bại, ông bị thực dân Pháp bắt và xử chém tại chợ Túy Loan khi mới 18 tuổi. Trước khi hy sinh, khí phách hiên ngang và tinh thần bất khuất của ông đã trở thành biểu tượng của lòng yêu nước và ý chí đấu tranh vì độc lập dân tộc. Sự hy sinh của Ông Ích Đường đã gây xúc động sâu sắc trong nhân dân địa phương. Người dân đã lập miếu thờ ngay tại nơi ông tuẫn nạn để tưởng nhớ công lao và khí tiết của người chí sĩ yêu nước. Trải qua thời gian, khu vực di tích tiếp tục được gìn giữ, tôn tạo với nhà bia tưởng niệm bên cạnh cây đa lịch sử – chứng nhân gắn liền với sự kiện năm 1908. Ngày nay, Di tích tưởng niệm Ông Ích Đường là địa chỉ đỏ giáo dục truyền thống yêu nước và tinh thần đấu tranh cách mạng cho các thế hệ, đồng thời là điểm đến giúp du khách tìm hiểu về phong trào chống sưu thuế Trung Kỳ và lịch sử đấu tranh của nhân dân Đà Nẵng đầu thế kỷ XX. Theo: Báo Đà Nẵng

Đà Nẵng

914 lượt xem

Xếp hạng : Di tích cấp quốc gia

Mở

Khu căn cứ cách mạng Huyện ủy Hòa Vang

Khu căn cứ cách mạng Huyện ủy Hòa Vang

Khu căn cứ cách mạng Huyện ủy Hòa Vang nằm tại khu vực tam giác núi Phú Túc – Ô Rây – Tống Cói, thuộc phường Hòa Vang. Với địa hình rừng núi hiểm trở, nơi đây từng là căn cứ địa quan trọng của lực lượng cách mạng trong hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ. Từ những năm 1947–1949, khu vực Đồng Xanh – Đồng Nghệ được lựa chọn làm nơi đặt cơ quan lãnh đạo của Huyện ủy Hòa Vang. Đến năm 1955, Tỉnh ủy Quảng Đà xây dựng căn cứ cách mạng cánh Tây Hòa Vang (mật danh B1), biến nơi đây thành trung tâm chỉ đạo phong trào cách mạng của khu vực phía tây và tây bắc. Trong thời gian này, Hòn đá Đà Nẵng và Hòn đá Non Nước trở thành những biểu tượng thiêng liêng của tinh thần yêu nước và ý chí đấu tranh kiên cường. Từ năm 1960, khu vực tam giác Phú Túc – Ô Rây – Tống Cói tiếp tục được chọn làm căn cứ địa kháng chiến của Huyện ủy Hòa Vang. Đây là nơi làm việc, chỉ đạo và hoạt động của nhiều cán bộ lãnh đạo huyện, đồng thời là địa điểm tổ chức các hội nghị, đại hội Đảng bộ, huấn luyện quân sự và chính trị cho lực lượng cách mạng trong những năm kháng chiến chống Mỹ. Địa hình rừng núi hiểm trở đã góp phần che chở, bảo vệ các cơ quan đầu não trước nhiều cuộc càn quét của đối phương. Trong suốt hai cuộc kháng chiến, Khu căn cứ cách mạng Huyện ủy Hòa Vang giữ vai trò là trung tâm lãnh đạo, chỉ huy và hậu cứ quan trọng của phong trào cách mạng địa phương, gắn liền với nhiều sự kiện lịch sử và hoạt động của các cán bộ lãnh đạo cấp tỉnh, khu và huyện. Để gìn giữ những giá trị lịch sử đó, khu di tích đã được đầu tư xây dựng nhà trưng bày, bia tưởng niệm cùng các hạng mục phục vụ tham quan. Ngày nay, nơi đây trở thành địa chỉ đỏ giáo dục truyền thống yêu nước, tưởng nhớ các thế hệ cách mạng đi trước và là điểm đến giúp du khách tìm hiểu về lịch sử đấu tranh anh dũng của quân và dân Hòa Vang trong sự nghiệp giải phóng dân tộc. Theo: Báo Đà Nẵng

Đà Nẵng

348 lượt xem

Xếp hạng : Di tích cấp quốc gia

Mở

Hải Vân Quan

Hải Vân Quan

Hải Vân Quan là công trình quân sự phòng thủ được xây dựng vào năm 1826, dưới triều vua Minh Mạng. Di tích nằm trên đỉnh Đèo Hải Vân ở độ cao khoảng 496 m so với mực nước biển, tại ranh giới giữa thành phố Huế và thành phố Đà Nẵng. Đây là vị trí chiến lược trên tuyến giao thông Bắc – Nam, đồng thời là cửa ngõ bảo vệ kinh đô Huế từ phía nam. Từ thời các chúa Nguyễn, đèo Hải Vân đã được xem là vùng đất hiểm yếu, giữ vai trò quan trọng về quân sự và phòng thủ. Khi nhà Nguyễn chọn Huế làm kinh đô, nơi đây càng được coi là "yết hầu" của đất nước. Chính vì vậy, vua Minh Mạng đã cho xây dựng Hải Vân Quan nhằm kiểm soát con đường thiên lý và tăng cường bảo vệ kinh thành. Công trình gồm hai cổng thành lớn xây bằng gạch đá theo kiến trúc vòm cuốn. Cổng quay về phía Đà Nẵng khắc ba chữ "Hải Vân Quan", còn cổng hướng về Huế khắc sáu chữ "Thiên hạ đệ nhất hùng quan" – lời ca ngợi vẻ đẹp hùng vĩ và vị thế hiểm yếu của đèo Hải Vân. Bao quanh cửa quan là hệ thống tường thành kiên cố cùng các hạng mục quân sự như đồn trú, kho vũ khí và vị trí quan sát. Trải qua nhiều biến động lịch sử, đặc biệt trong thời kỳ Pháp thuộc và chiến tranh, Hải Vân Quan bị cải tạo thành cứ điểm quân sự, nhiều hạng mục kiến trúc gốc bị phá hủy hoặc xuống cấp. Đến năm 2017, di tích được xếp hạng Di tích quốc gia, và từ năm 2021, Huế và Đà Nẵng đã phối hợp triển khai dự án trùng tu, phục hồi các hạng mục quan trọng, góp phần khôi phục diện mạo vốn có của công trình. Ngày nay, Hải Vân Quan không chỉ là di tích lịch sử có giá trị đặc biệt mà còn là điểm dừng chân nổi tiếng trên cung đường đèo Hải Vân. Từ đây, du khách có thể phóng tầm mắt ngắm toàn cảnh núi non, biển cả và một trong những cung đường ven biển đẹp nhất Việt Nam. Với giá trị lịch sử, kiến trúc và cảnh quan độc đáo, Hải Vân Quan là điểm đến không thể bỏ qua trong hành trình khám phá miền Trung. Theo: Thông tấn xã Việt Nam

Đà Nẵng

1040 lượt xem

Xếp hạng : Di tích cấp quốc gia

Mở

Mộ ông Banjiro - thương nhân Nhật Bản

Mộ ông Banjiro - thương nhân Nhật Bản

Mộ ông Banjiro - thương nhân Nhật Bản - Khối Trường Lệ - Xã Cẩm Hà Ông Banjiro là một thương gia Nhật Bản mất tại Hội An. Mộ ở gần đường từ phố cổ đi xuống biển An Bàng và còn giữ được những dấu vết nguyên thuỷ xây dựng từ thế kỷ XVII. Bia mộ có niên đại 1665. Phía sau mộ có một tấm bia bằng xi măng khắc chìm chữ Nhật, nội dung như sau: “Năm Chiêu Hoà thứ 3 (1928) theo đề xuất của giáo sư văn học Kuroita Katsumi, tập thể người Nhật cư trú tại Đông Dương (nay là Việt Nam, Campuchia, Lào) đề nghị ông Nakayama phụ trách giám sát việc tu sửa ngôi mộ này”. Gần đây Hội An tiếp tục tu bổ giữ gìn chu đáo ngôi mộ này. Di tích được xếp hạng di tích quốc gia năm 1991. Mộ ông Banjiro xây bằng hợp chất vôi, cát, nước vỏ cây, mật mía... Nấm mộ hình yên ngựa, quay hướng Đông Bắc, kích thước 190cm x 85cm. Trước mặt mộ có một tấm bia làm bằng đá muối, hai bên có 2 hàng chữ. Trước đây ngôi mộ này không có người trông nom, tu sửa. Sau khi Bộ Văn hóa ra quyết định công nhận Khu phố cổ Hội An, khu mộ này thường xuyên được Ban Quản lý Di tích Hội An quan tâm bảo quản và tu sửa. Hiện tại ngôi mộ được gia đình ông Nguyễn Nước thường xuyên trông nom, thắp hương. Di tích góp phần làm sáng tỏ quá trình hình thành Khu phố cổ Hội An, nhất là thời kỳ thương nhân Nhật Bản đến Hội An trao đổi buôn bán. Nguồn: Đô thị cổ Hội An

Đà Nẵng

332 lượt xem

Xếp hạng : Di tích cấp quốc gia

Mở

Khu di tích Đặc Khu ủy Quảng Đà

Khu di tích Đặc Khu ủy Quảng Đà

Khu di tích Đặc Khu ủy Quảng Đà Hòn Tàu là dãy núi giáp ranh giữa Duy Xuyên, Nông Sơn và Quế Sơn. Với vị trí chiến lược, nơi đây đã được Đặc Khu ủy Quảng Đà chọn làm căn cứ cách mạng trong 8 năm cuối cuộc chiến chống Mỹ (1967-1975). Với quyết tâm “Tất cả cho tổng công kích, tất cả cho tổng khởi nghĩa Xuân Mậu Thân 1968”, Đặc Khu ủy Quảng Đà chủ trương chỉ đạo tập trung huy động mọi lực lượng chuẩn bị nổi dậy. Căn cứ Hòn Tàu là nơi quan và dân ta chịu nhiều hy sinh, mất mát. Nhiều đồng chí là lãnh đạo Đặc Khu ủy và hàng trăm cán bộ, chiến sĩ đã anh dũng hy sinh. Đặc biệt, có 10 cán bộ, nhân viên của Ban Tuyên huấn hy sinh do bị bom B52 của Mỹ đánh sập nơi ở và làm việc vào sáng 22/5/1972. Mặc dù chịu nhiều hy sinh, mất mát, cán bộ, chiến sĩ Đặc Khu ủy Quảng Đà vẫn vững vàng tiếp tục thực hiện việc chỉ đạo các cuộc tiến công chiến lược, quyết định nhiều chủ trương quan trọng, hợp đồng chặt chẽ với các cánh quân chủ lực giải phóng các huyện phía Tây của tỉnh Quảng Nam, tạo thế gọng kìm, góp phần hoàn thành chiến dịch giải phóng Đà Nẵng năm 1975. Năm 2012, di tích Hòn Tàu được Bộ VHTT&DL xếp hạng Di tích Lịch sử cấp quốc gia. Sau khi có quyết định xếp hạng di tích, Sở VHTT&DL tỉnh Quảng Nam đã lập hồ sơ trình Bộ VHTT&DL phê duyệt và triển khai lập dự án phục dựng di tích. Qua hơn 2 năm triển khai thực hiện, đến nay Khu di tích Đặc Khu ủy Quảng Đà cơ bản đã hoàn thành đúng dịp kỷ niệm 50 năm thành lập Đặc Khu ủy (tháng 10/1967 - tháng 10/2017). Nguồn: Báo Chính Phủ

Đà Nẵng

481 lượt xem

Xếp hạng : Di tích cấp quốc gia

Mở

Địa điểm diễn ra cuộc đấu tranh Cây Cốc năm 1954

Địa điểm diễn ra cuộc đấu tranh Cây Cốc năm 1954

Di tích "Địa điểm diễn ra cuộc đấu tranh Cây Cốc năm 1954" là nơi ghi dấu sự kiện lịch sử quan trọng được ghi vào sử sách về cuộc đấu tranh của đồng bào ta đòi thi hành Hiệp định Giơ-ne-vơ tại Quảng Nam. Sáng 27-9, tại xã Tiên Thọ, huyện Tiên Phước, tỉnh Quảng Nam đã diễn ra Lễ đón nhận Bằng Di tích lịch sử cấp Quốc gia “Địa điểm diễn ra cuộc đấu tranh Cây Cốc năm 1954” và tưởng niệm 65 năm cuộc đấu tranh Cây Cốc (29/9/1954 - 29/9/2019). Di tích “Địa điểm diễn ra cuộc đấu tranh Cây Cốc năm 1954” là nơi ghi dấu sự kiện lịch sử quan trọng được ghi vào sử sách về cuộc đấu tranh của đồng bào ta đòi thi hành Hiệp định Giơ-ne-vơ tại Quảng Nam. Theo sử liệu ghi lại, 9h ngày 29-9-1954, nhân dân từ Quế Sơn, Tam Kỳ, Quảng Ngãi lên chợ Cây Cốc (xã Tiên Thọ, huyện Tiên Phước) để buôn bán. Khi nghe tin địch bắt giam, đàn áp người dân và các cán bộ cách mạng nên họ đã tập hợp, nổi trống mõ kêu gọi đồng bào quanh chợ Cây Cốc cùng đi đấu tranh. Đến khoảng 10h cùng ngày, khi vừa đến cầu Vôi, 3 chiếc máy bay khu trục của quân độ Pháp quần lượn trên bầu trời, địch đã ban hành mệnh lệnh đàn áp, liền sau đó lính của Tiểu đoàn 601 nổ súng vào nhân dân,... khiến hơn 330 đồng bào, chiến sĩ đã ngã xuống. Việc công nhận “Địa điểm diễn ra cuộc đấu tranh Cây Cốc năm 1954” là Di tích lịch sử cấp Quốc gia ngoài việc trở thành địa điểm giáo dục truyền thống cách mạng cho thế hệ trẻ còn là nơi kết nối du lịch, văn hóa lịch sử của tỉnh Quảng Nam. Nguồn Cổng thông tin điện tử huyện Tiên Phước, tỉnh Quảng Nam.

Đà Nẵng

4837 lượt xem

Xếp hạng : Di tích cấp quốc gia.

Mở

Địa điểm khởi phát phong trào chống sưu thuế năm 1908 ở miền Trung

Địa điểm khởi phát phong trào chống sưu thuế năm 1908 ở miền Trung

Phong trào chống sưu cao, thuế nặng ở Quảng Nam và các tỉnh miền Trung đã trải qua hơn một thế kỷ song những giá trị lịch sử mà phong trào mang lại vẫn còn vẹn nguyên cho đến ngày hôm nay…. “Sòng dân Đại Lộc”… Năm 1858, thực dân Pháp nổ tiếng súng đầu tiên vào cửa biển Đà Nẵng mở đầu cho việc xâm lược nước ta. Các phong trào yêu nước liên tục nổ ra ở khắp nơi nhưng cuối cùng bị thất bại. Năm 1897, thực dân Pháp tiến hành chính sách “khai thác thuộc địa” lần thứ nhất bằng những chính sách thực dân phản động và bảo thủ, bóc lột nhân dân ta hết sức thậm tệ, tàn ác đặc biệt là chính sách sưu thuế. Người dân không những phải nộp thuế mà còn phải đi phu, lao dịch, đắp đường… Biết bao nhiêu người bỏ mạng, biết bao nhiêu người mang thương tật cả đời.. Những hình ảnh tang thương đó đã đi vào ca dao: Từ ngày Tây lại cửa Hàn Đào sông Cu Nhí, bòn vàng Bồng Miêu Huyện Đại Lộc là một trong những địa phương của tỉnh Quảng Nam mà nhân dân chịu nhiều thống khổ bởi chính sách cai trị tàn bạo thực dân phong kiến. Đói khát, bệnh tật cộng thêm thiên tai, hạn hán liên miên đã dìm cuộc sống của những người nông dân xuống tận cùng của đau khổ. Tên tri huyện lúc đó lại lợi dụng chính sách tăng thuế để khai khống số dân nhằm thu lợi cho cá nhân. Trước tình cảnh đó, vào đầu tháng 3 năm 1908, tại một bữa đám giỗ tộc Trương làng Phiếm Ái, xã Đại Nghĩa; một số hào lý đã bàn nhau làm đơn lấy chữ ký của các lý trưởng các làng xã trong huyện gửi quan huyện xin giảm nhẹ sưu cùng các món thuế bởi nhân dân quá khổ trước chính sách sưu, thuế hiện hành; nếu không được sẽ gửi lên Tòa Công sứ Pháp tại Hội An. Do việc làm xuất phát từ sự thương dân, vì quyền lợi chính đáng của đa số nhân dân, nên những người "làm đơn lấy chữ ký ", được nhân dân trong huyện gọi là "Đồng dân" và cuộc "Xin sưu" do họ khởi xướng được gọi là "Sòng Đồng Dân" hay là "Sòng dân Đại Lộc". Ngày 11-3-1908, hơn 400 người dân ăn mặc rách rưới kéo xuống huyện đường, nhưng viên Tri huyện không dám nhận đơn, lại cấp báo với viên quan tỉnh và Công sứ Pháp nên đoàn biểu tình bèn kéo nhau đi vây dinh Tổng đốc rồi vây luôn cả tòa Công sứ. Nhân dân các phủ huyện như Điện Bàn, Duy Xuyên, Tam Kỳ, Hội An, Hòa Vang… cũng đồng loạt hưởng ứng tại địa phương mình, và còn kéo về Hội An nên số người biểu tình ở đây mỗi lúc một đông. Trước sức ép của quần chúng nhân dân, chính quyền thực dân phong kiến đã thẳng tay đàn áp, bắt một số người lãnh đạo phong trào đày đi các nhà tù hoặc xử trảm. Phong trào đấu tranh chống sưu cao, thuế nặng sau một thời gian cũng bị chính quyền thực dân, phong kiến đàn áp. Tuy nhiên, phong trào nhận được sự hưởng ứng, tham gia của đông đảo quần chúng nhân dân bởi vì đây là phong trào đấu tranh vì quyền lợi chính đáng của những người dân nghèo khổ chống lại sự bóc lột của bộ máy cai trị thối nát lúc bấy giờ. Phong trào chống sưu thuế năm 1908 cũng thể hiện được lòng yêu nước, tinh thần, sức mạnh đoàn kết của nhân dân. Xuất phát từ lòng căm thù bọn thực dân xâm lược, bè lũ phong kiến tay sai bán nước hại dân, dưới sự lãnh đạo của những sĩ phu yêu nước, những người nông dân “áo rách nón cời” đã vùng lên tranh đấu. Lúc đầu, phong trào chỉ xuất phát ở một huyện, sau đó nhanh chóng lan ra các huyện, phủ trong tỉnh Quảng Nam và các tỉnh miền Trung. Lòng yêu nước, tinh thần đoàn kết của nhân dân ta từ xưa đến nay cũng chính là giá trị bất biến, góp phần quan trọng vào sự thành công trong quá trình xây dựng và bảo vệ quê hương, đất nước. Phong trào chống sưu thuế đã giáng một đòn rất mạnh vào bộ máy chính quyền thực dân phong kiến đương thời. Ở Quảng Nam và các tỉnh miền Trung, nhân dân nổi dậy phá buồng giam, đốt dụng cụ tra tấn, giải phóng tù nhân; hàng loạt những tên tay sai gian ác bị quần chúng nhân dân vây bắt, có những tên ác ôn còn bị trừng trị thích đáng. Dù ở đâu, các cuộc nổi dậy của nhân dân đều có sự “dẫn đường chỉ lối” của các nho sinh, thân sĩ- những người có nhận thức nhất định về xã hội lúc đó. Mặc dù phong trào đã thất bại song nó đã mang đến ánh sáng mới cho con đường cách mạng Việt Nam. Giai cấp nông dân chính là lực lượng nòng cốt cho các phong trào cách mạng sau này. Trước sức mạnh bởi đòn roi, súng đạn của kẻ thù, những yêu sách mang tính ôn hòa sẽ không mang lại kết quả; chỉ có bạo lực cách mạng mới đủ sức chống lại bạo lực phản cách mạng. Phong trào đã được nhận xét là “một cuộc cách mạng được chuẩn bị một cách cực kỳ khéo léo”. 110 năm đã trôi qua, phong trào chống sưu thuế ngày ấy mới chỉ là bước mở đầu cho những phong trào cách mạng sục sôi sau này. Nhưng giá trị hiện hữu mà cho đến hiện nay chúng ta vẫn phải khẳng định đó là sức mạnh của lòng dân. Ngày ấy, trước sự vận động của các nhà nho yêu nước, quần chúng nhân dân “cơm đùm gạo gói” thay nhau đi đấu tranh đòi giảm sưu, giảm thuế. Hàng ngàn người chia nhau từng ngụm nước, từng nắm cơm, chăm sóc, động viên những người bị thương… Họ đoàn kết, tương trợ lẫn nhau, không vụ lợi, không toan tính cho cá nhân mình. Họ làm tất cả mọi việc chỉ với mục đích duy nhất là chống lại ách thống trị tàn bạo của chính quyền thực dân phong kiến; đòi lại quyền lợi hợp pháp, chính đáng cho những kiếp người lao khổ. Phong trào chống sưu thuế ở Quảng Nam và các tỉnh miền Trung đã đi vào lịch sử đấu tranh của dân tộc ta như một mốc son sáng ngời. Ghi nhận những giá trị lịch sử to lớn của phong trào chống sưu thuế; ngày 29/12/2017, Bộ trưởng Bộ Văn hóa- Thể thao và Du lịch ban hành Quyết định số 5400/Quyết Định -Bộ Văn Hóa Thể Thao Du Lịch về việc xếp hạng Di tích lịch sử Địa điểm khởi phát phong trào chống sưu, thuế năm 1908 ở miền Trung (Đình Phiếm Ái và Nhà Ông Nghè Tiếp), xã Đại Nghĩa, huyện Đại Lộc, tỉnh Quảng Nam là di tích quốc gia.

Đà Nẵng

4747 lượt xem

Xếp hạng : Di tích cấp quốc gia.

Mở

Lăng mộ Thượng thư Trương Công Hy

Lăng mộ Thượng thư Trương Công Hy

Thượng thư Trương Công Hy (1727 - 1800) là người làng Thanh Quýt của phủ Điện Bàn, nay thuộc xã Điện Thắng Trung, huyện Điện Bàn. Cụ là nhân vật lịch sử đặc biệt, được Viện Sử học (thuộc Viện Khoa học xã hội Việt Nam) khẳng định “là danh thần triều Tây Sơn mà chính sử nước ta còn bỏ sót”, vì thế tên tuổi và sự nghiệp đối với sự phát triển của lịch sử dân tộc cần được tôn vinh xứng đáng. Trương Công Hy đỗ hương cống dưới thời Võ vương Nguyễn Phúc Khoát, làm thầy dạy của ấu chúa Nguyễn Phúc Dương cũng như các hoàng tử, hoàng tôn trong phủ chúa. Nhận thấy sự mục ruỗng của chính sự lúc bấy giờ nên khi triều Tây Sơn chiêu hiền, đãi sĩ, phất cờ chính nghĩa, cụ đã theo phụng sự cho vương triều Tây Sơn và được bổ nhiệm làm Tri phủ Điện Bàn, rồi Khâm sai Quảng Nam trấn, Hình bộ Thượng thư. Về quê an hưu, cụ được truy phong chức Binh bộ Thượng thư, tước Thùy Ân Hầu. Sinh thời, Thượng thư Trương Công Hy là một danh thần luôn hết lòng vì dân, vì nước, nổi tiếng thanh liêm. Trong thời gian làm Tri phủ Điện Bàn, cụ dốc hết tâm sức chấn chỉnh chính quyền cấp thôn, xã; tổ chức khẩn hoang, đẩy mạnh sản xuất, mở mang trường lớp, tiến cử hiền tài, hết lòng chăm lo đời sống nhân dân. Được nhà Tây Sơn cấp lộc điền 500 mẫu ruộng tại Lai Nghi, Phú Chiêm (xã Điện Phương), khi về hưu cụ đã phân phát cho người dân địa phương canh tác. Lúc cụ mất, dân chúng khắp nơi đến viếng rất đông. Làng phải dựng “Xích hậu” (tức nhà khách) để dân chúng trọ lại trước khi vào viếng. Con đường từ “Xích hậu” đến nhà thờ tộc Trương hiện vẫn được dân chúng gọi là Ngõ Quan Thượng. Trong suốt cuộc đời của mình, Thượng thư Trương Công Hy đã có nhiều đóng góp vào việc chấn chỉnh tổ chức giáo dục khoa cử, biên soạn luật lệ, tiến cử người hiền tài… Năm 2005, Lăng mộ Thượng thư Trương Công Hy được Uỷ Ban Nhân Dân tỉnh công nhận là di tích văn hóa lịch sử cấp tỉnh và đến tháng 8 năm 2013, Bộ Văn Hóa - Thể Thao & Du Lịch đã có quyết định công nhận Di tích lịch sử và xếp hạng di tích quốc gia. Nguồn Cổng thông tin điện tử thị xã Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam.

Đà Nẵng

4944 lượt xem

Xếp hạng : Di tích cấp quốc gia.

Mở

Di tích nổi bật

Xem tất cả
LĂNG MỘ ÔNG ÍCH KHIÊM

LĂNG MỘ ÔNG ÍCH KHIÊM

Mộ Ông Ích Khiêm toạ lạc tại nghĩa trang xã Hòa Thọ, huyện Hòa Vang, thành phố Đà Nẵng, cách trung tâm thành phố 10km về phía tây - nam. Ông Ích Khiêm, tự là Mục Chi, sinh ngày 21/12/1829 tại làng Phong Lệ Bắc, xã Hòa Thọ, huyện Hòa Vang. Ông thi đậu cử nhân năm Thiệu Trị thứ 7 (1847) và làm quan dưới triều vua Tự Đức. Nổi tiếng là người thông minh, chính trực, là một vị tướng khẳng khái và mưu lược, ông có công trong việc cầm quân bảo vệ Đà Nẵng khi thực dân Pháp nổ súng tấn công xâm lược nước ta. Xuất thân từ một gia đình thuần nông, nhưng Ông Ích Khiêm đã sớm bộc lộ tài trí thông minh hơn người. Sau khi đỗ cử nhân vào năm 15 tuổi, ông về làm quan dưới triều vua Tự Đức, giữ chức Tiểu Phủ Sứ, được bổ làm Tri huyện Kim Thành, tỉnh Hải Dương. Trong sự nghiệp làm quan, ông từng đạt tước vị cao nhất là Tả thị lang Bộ binh. Với tính cách bộc trực, khảng khái và có phần nóng tính, lại sinh vào thời chính trị nhiễu loạn, con đường quan lộ của Ông Ích Khiêm gặp rất nhiều sóng gió, trắc trở. Ông thường đương đầu trực tiếp với bọn cường hào, ác bá, từng bị hại phải cách chức. Khi đó ông trở về quê nhà phát triển nông nghiệp, mua và phát đất cho bà con làm ruộng, hướng dẫn người dân làm đường, đào kênh mương, dẫn nước tưới. Vào năm 1858, khi thực dân Pháp tấn công vào Đà Nẵng và xâm phạm chủ quyền nước ta, nhà vua gọi ông về nhậm chức mới, cầm quân bình định xứ sở. Xuất thân là quan văn nhưng thời thế đã khiến Ông Ích Khiêm trở thành quan võ. Trong quá trình làm tướng, ông nhiều lần bị cách chức rồi lại lập công lớn và phục chức nhờ tài năng quân sự không thể phủ nhận. Tuy nhiên đến năm 1884, khi hay tin vua Tự Đức qua đời, bản thân lại đang bị giam cầm tại nhà ngục Bình Thuận, triều đình rối ren, vị chí sĩ đã quyên sinh, hưởng thọ 55 tuổi. Đầu năm 1885, ông được truy phục hàm Thị độc. Cho đến nay, tài năng, phẩm giá và công lao của Ông Ích Khiêm vẫn lưu trong sử sách và được người đời ghi nhớ, ca tụng. Ông Ích Khiêm mất ngày 19/ 7/ 1884 tại Bình Thuận. Con trai ông là Ông Ích Thiện đã đưa thi hài ông về quê và mai táng tại làng Phong Lệ. Ngôi mộ được xây theo hình bát giác, có chiều dài từ cổng vào là 13,8m; chiều rộng 6,1m; tường bao xung quanh mộ cao 0,72m. Nấm mộ có chiều dài 4,75m; rộng 3,5m; cao 0,35m. Phía trước mộ có nhà bia, bên trong đặt một tấm bia bằng đá cẩm thạch cao 0,83m; rộng 0,54m được trang trí hình rồng, phụng và hoa lá. Mộ Ông Ích Khiêm được Bộ Văn hóa - Thông tin (nay là Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch) công nhận là di tích quốc gia vào ngày 12/7/2001. Nguồn: Trung tâm Thông tin du lịch

Đà Nẵng

10978 lượt xem

Xếp hạng : Di tích cấp quốc gia

Mở

Đình làng Đại Nam

Đình làng Đại Nam

Đình Đại Nam (dân địa phương có nơi gọi là Nại Nam) là di tích văn hóa - lịch sử tiêu biểu của thành phố Đà Nẵng. Với những ai yêu thích khám phá về các giá trị văn hóa cổ xưa thì đây là điểm đến không thể bỏ lỡ khi đến với “thành phố đáng sống”. Đình Đại Nam – ngôi đình có tuổi đời hơn 100 năm, gắn liền với nhiều câu chuyện, sự kiện lịch sử trọng đại của dân tộc. Ngôi đình được xây dựng từ năm 1905, vào năm 1999, đình Đại Nam ở Đà Nẵng được công nhận là di tích cấp quốc gia. Địa chỉ của di tích này nằm ở địa phận phường Hòa Cường (nay là phường Hòa Cường Bắc) , quận Hải Châu, TP Đà Nẵng. Vào thời gian năm 1946, đình Nại Nam nằm trong làng Hòa Bình (thuộc phạm vi xã Nại Nam). Làng Hoà Bình lúc bấy giờ là nơi cư trú của bà con có quê ở Hoá Sơn và Khuê Trung. Đến năm 1949, làng Hòa Bình sáp nhập vào thành phố Đà Nẵng và được đổi tên thành khu Nam trực thuộc thành phố nơi này(tách khỏi huyện Hoà Vang). Khu Nam gồm có làng Nại Nam, Hòa Bình, Khuê Trung và một phần của xã Liên Trì. Đình hướng về phía Đông Nam, được xây dựng hoàn toàn bằng vật liệu gạch ngói và gỗ, mái lợp ngói âm dương. Đình có sân rộng và tường xây bao bọc, cổng đình có bốn trụ vuông, mỗi trụ cao khoảng 5m. Hai trụ chính giữa tạo lối đi chính vào đình, trên đỉnh trụ có đúc hình hai con lân, hai trụ tả hữu gắn liền với tường thành, đỉnh trụ được tạo hình búp sen. Trên các trụ giữa có cặp câu đối ghép bằng sành sứ. Trong cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ ác liệt, đình Đại Nam Đà Nẵng là một trong những cơ sở, địa điểm hoạt động của cách mạng. Ngôi đình trở thành căn cứ hoạt động bí mật, giai đoạn năm 1960- 1965, đình là trạm giao liên, liên lạc ra vào thành phố. Rất nhiều những sự kiện lịch sử trọng đại đã được diễn ra tại đây như lễ kết nạp Đảng viên, triển khai lực lượng quân sự, chính trị ở nhiều thời điểm từ năm 1850 – 1975. Theo lịch sử, rất nhiều những anh hùng, chiến sĩ đã sống, chiến đấu hết mình, hy sinh tại địa điểm này. Nguồn: Trang thông tin điện tử Đà Nẵng

Đà Nẵng

10851 lượt xem

Xếp hạng : Di tích cấp quốc gia

Mở

Nghĩa Trủng Hòa vang (Nghĩa Trang Khuê Trung)

Nghĩa Trủng Hòa vang (Nghĩa Trang Khuê Trung)

Khu di tích Nghĩa Trủng Hòa Vang (hay còn gọi là Nghĩa Trang Khuê Trung), hiện tọa lạc trên diện tích 4.000m2 thuộc phường Khuê Trung, quận Cẩm Lệ. Là nơi an nghỉ của hơn 1000 nghĩa sỹ và đồng bào yêu nước đã ngã xuống trong những ngày đầu kháng Pháp (1858 – 1860) Rạng sáng ngày 01/9/1858, liên quân Pháp – Tây Ban Nha tấn công vào cửa biển Đà Nẵng, mở đầu cuộc xâm lược Việt Nam. Với tinh thần quyết xã thân vì nước, quân và dân ta đã đánh trả quyết liệt. Trong suốt gần 19 tháng giao tranh ác liệt, đã có hàng ngàn nghĩa sỹ hy sinh anh dũng, góp phần quan trọng làm thất bại ý đồ nhanh chóng chiếm đóng Đà Nẵng của thực dân Pháp. Trong điều kiện chiến tranh, việc quy tập, mai táng các nghĩa sỹ hy sinh lúc đó chỉ tạm thời. Khi Đà Nẵng được giải phóng, nhân dân đã lập các nghĩa trủng và quy tập hài cốt, xây đắp mộ cho những chiến sỹ trận vong tại đây. Nghĩa Trủng Hòa Vang được hình thành vào năm 1866 tại làng Nghi An, thuộc tổng Phước Tường, huyện Hòa Vang. Khi thực dân Pháp xây dựng sân bay Đà Nẵng (1925 – 1926), nhân dân phải dời Nghĩa Trủng về vườn Bá làng Khuê Trung. Năm 1962, sân bay Đà Nẵng tiếp tục mở rộng, Nghĩa trủng được chuyển về vị trí hiện nay. Tuy trải qua nhiều lần di dời nhưng Nghĩa Trủng vẫn lưu giữ được tấm bia cổ khắc 4 chữ “Hòa Vang Nghĩa Trủng” được lập năm Tự Đức thứ 19 (1866) và hai trụ đá có ghi 2 câu đối: “Ân triêm khô cốt di truyền cổ Trạch cập tàn hồn tái kiến kim”. Tạm dịch: “Vua ban nhặt cốt truyền dấu cũ Giữ được tàn hồn lại thấy nay”. Nghĩa Trủng Hòa Vang là nơi lưu giữ hồn thiêng sông núi, là đài tôn vinh khí phách anh hùng của các nghĩa sỹ vị quốc vong thân. Đồng thời là nơi đánh dấu sự thất bại ngay trận đầu của quân Pháp khi đánh vào Đà Nẵng. Bên cạnh Nghĩa Trủng với hơn một nghìn ngôi mộ là quần thể di tích văn hóa – lịch sử, gồm: di tích Phế tích tháp Hóa Quê, ngôi miếu Bà, giếng cổ Chăm hình vuông được xây bằng đá sa thạch, phế tích tháp Chăm và Nhà thờ tiền hiền làng Hóa Quê. Đặc biệt, Nhà thờ tiền hiền của làng cùng với miếu Bà là những công trình lịch sử – văn hóa có giá trị, là nơi cán bộ cán bộ cách mạng địa phương dùng làm địa điểm bí mật hoạt động cách mạng. Để tưởng nhớ các bậc tiền hiền đã có công gây dựng làng và các Nghĩa sĩ đã hy sinh trong những ngày đầu kháng chiến chống liên quân Pháp – Tây Ban Nha, hằng năm vào tháng 3 âm lịch UBND phường Khuê Trung, quận Cẩm Lệ long trọng tổ chức Lễ tế nghĩa sĩ cùng với Hội làng Khuê Trung tại Khu di tích Nghĩa Trủng. Khu di tích Nghĩa Trủng Hòa Vang được Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch công nhận là Di tích lịch sử quốc gia năm 1999. Nguồn: Báo điện tử Đà Nẵng

Đà Nẵng

10598 lượt xem

Xếp hạng : Di tích cấp quốc gia

Mở

Di tích bia chùa Long Thủ ( chùa An Long)

Di tích bia chùa Long Thủ ( chùa An Long)

Bia di tích chùa Long Thủ hay chùa An Long (phường Bình Hiên, quận Hải Châu) là hiện vật gốc độc bản, có hình thức độc đáo so với tất cả các loại hình văn bia cùng thời ở vùng Quảng Nam-Đà Nẵng, là một tư liệu cực kỳ quan trọng góp phần vào việc nghiên cứu nhiều vấn đề lịch sử và văn hóa Đà Nẵng. Văn bia chùa Long Thủ được lưu giữ tại chùa Long Thủ (nay là chùa An Long - tên gọi này được thay đổi sau năm 1920), trước kia thuộc làng Nại Hiên, huyện Tân Phúc, phủ Điện Bàn. Bia được làm bằng sa thạch, màu xám vào năm Thịnh Đức thứ 5, triều vua Lê Thần Tông (1657), do ông Lê Gia Phước, pháp danh Pháp Giám (người làng Hải Châu, phủ Điện Bàn) biên soạn. Bia có kích thước được thu nhỏ dần từ dưới lên, tạo đỉnh tròn trông xa như một quả chuông úp, chiều cao bia từ đỉnh xuống dưới chân là 1,25m, rộng 1,20m, dày 0,21m. Trán bia có tiêu đề gồm 6 chữ lớn nằm ngang “Lập Thạch Bi Thủ Long Tự”, theo cách dịch nghĩa thông thường được hiểu là “Lập văn bia trên đá tại ngôi chùa Thủ Long”. Toàn bộ văn bia có 368 chữ (bao gồm 6 chữ tiêu đề), trong đó có 360 chữ nhỏ ở giữa lòng bia được khắc lõm theo 18 hàng dọc từ phải sang trái, ở hai đầu văn bia có 2 chữ “Vạn” nhỏ hơn. Cả hai mặt bia được chạy viền trang trí dây hoa lá, phần đỉnh có hình mặt trời đặt trong vòng lửa ngọn. Hiện nay văn bia đã có nhiều chữ phần bị mòn mờ, phải gắn lại bằng vữa xi-măng, rất may là Trường Viễn Đông Bác Cổ Pháp đã làm bản dập và Viện Nghiên cứu Hán Nôm Việt Nam lưu giữ 3 bản dập. Đây là văn bia có niên đại sớm nhất, cũng như sự hình thành của ngôi chùa Long Thủ do cộng đồng cư dân người Việt ở Đà Nẵng dựng, điều này cho thấy sự quần cư khá ổn định tại các làng Nại Hiên, Hải Châu từ rất sớm. Về việc dựng chùa Long Thủ, văn bia tại chùa cho biết: “Hết thảy dân làng đều đồng ý dựng lên một ngôi chùa mới”. Không chỉ dựng chùa, việc tô tượng, đúc chuông cũng được người dân tiến hành đồng thời, văn bia nói rõ: “Ông Hội chủ cùng với tín chủ gái trai đức hạnh, nhiệt tình tôn giáo, dâng cúng những gì họ có thể để trang hoàng chánh điện và tạo tác các tượng Phật, đồng thời đúc một quả chuông, xây tháp để chuông...”. Nội dung của văn bia, cho thấy từ thời xưa ở vùng đất làng Nại Hiên, huyện Tân Phúc, phủ Điện Bàn, Đức Phật thường hiển linh cứu độ cho nhiều người, nơi đây là đất thiêng, người tin đến cầu vọng linh ứng, thấy hình đầu rồng (long thủ). Cho là nơi tụ khí linh thiêng, vì vậy dân làng Nại Hiên cùng nhiều vị chức sắc địa phương, từ vợ chồng Cai thuộc Hội chủ Nguyễn Văn Châu, vợ chồng Cai hợp Ty Tướng Thần Lại Trần Hữu Lễ, Lại ty Ty Tướng Thần Lại Trần Hữu Kỷ, Xã trưởng Phạm Văn Ngao đến hết thảy dân làng đều đồng tình dựng lên một ngôi chùa mới, tại khu đất do ông Trần Hữu Lễ dâng hiến. Hội chủ cùng với tín chủ gái trai đức hạnh, nhiệt tình tôn giáo lo việc bài trí tượng thờ, đúc chuông và xây gác treo chuông, trống, dựng lầu chuông gác trống để làm nơi lễ Phật. Ngoài việc trên, nhiều tín chủ đã bỏ tiền mua hơn ba mẫu ruộng tại vùng Cửa Đình, Giếng Vũng để cúng vào chùa. Văn bia cũng liệt kê danh sách những người đã cúng tiền và ruộng cho chùa, đứng đầu là viên chức Trấn thủ có tên là Trần Văn Huyền và vợ là Nguyễn Thị Vạn... Văn bia là một tư liệu cực kỳ quan trọng góp phần vào việc nghiên cứu nhiều vấn đề lịch sử và văn hóa Đà Nẵng; cung cấp nhiều thông tin để tìm hiểu, xác tín một số vấn đề về chức tước, địa danh, tình hình ruộng đất của địa phương. Bên cạnh đó, bố cục, đề tài và mô-típ trang trí trên văn bia còn là tiêu chí có niên đại chính xác để có thể đối chiếu, nghiên cứu nghệ thuật giai đoạn nửa sau thế kỷ XVII ở Đàng Trong. Từ những giá trị di sản đó, vào năm 1992, Bộ Văn hóa - Thông tin đã xếp hạng văn bia là di tích cấp quốc gia. Mới đây, tháng 11-2014, UBND thành phố Đà Nẵng đã có công văn trình Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đề nghị công nhận bảo vật quốc gia cho “Bia chùa Long Thủ” cùng với 3 hiện vật khác của Đà Nẵng là Quả tim lửa, Bia Nghĩa trủng Phước Ninh và Bia Phổ Đà Sơn linh trung Phật. Nguồn: Báo điện tử Đà Nẵng

Đà Nẵng

10572 lượt xem

Xếp hạng : Di tích cấp quốc gia

Mở

Đình Hải Châu

Đình Hải Châu

Đình làng Hải Châu được coi là một trong những địa điểm du lịch ở Đà Nẵng được nhiều du khách trong và ngoài nước ghé thăm rất nhiều vào mỗi năm. Đình làng Hải Châu được coi là ngôi đình cổ nhất ở thành phố biển Đà Nẵng. Di tích này được nhà nước chính thức công nhận vào năm 2001. Đình làng Hải Châu khi xưa được biết đến với cái tên chùa Phước Hải. Đây là nơi khi mà chúa Nguyễn Phúc Chu vào năm Kỷ Hợi (1719) đã vào Quảng Nam, dừng chân và nghỉ lại tại đây. Dân làng Hải Châu sau đó đã lập bàn thờ vua Nguyễn Phúc Chu tại đây. Đình làng Hải Châu nằm ngay trung tâm thành phố Đà Nẵng về phía tả ngạn sông Hàn (hẻm 48 đường Phan Châu Trinh, phường Hải Châu 1, quận Hải Châu). Theo gia phả tộc Nguyễn Văn, một trong 43 tộc họ của làng Hải Châu, các bậc Tiền hiền khai khẩn, Hậu tiền khai canh làng Hải Châu vốn có nguồn gốc từ làng Hải Châu, huyện Tĩnh Gia, tỉnh Thanh Hóa. Trong quá trình theo vua Lê Thánh Tông khai phá đất đai, họ lập nên làng Hải Châu và cư ngụ tại vùng đất này vào cuối thế kỷ 15. Ghi chép của các bậc cao niên cho thấy, vào năm Gia Long thứ 5 (1804), các hương chức làng Hải Châu xin vua Gia Long cho lập đình thờ Thành Hoàng làng và các vị Tiền hiền, Hậu hiền của làng tại khu đất Nghĩa Lợi bên bờ sông Hàn. Đến năm 1858, đình bị hư hại nặng do chiến tranh xâm lược của thực dân Pháp. Hai năm sau, nhân dân dựng lại đình tại khu đất nay là Đại học Kỹ thuật Y Dược Đà Nẵng (99 đường Hùng Vương). Đến năm 1903, người Pháp chiếm dụng ngôi đình, sử dụng làm nơi điều trị bệnh nhân trong nạn dịch đậu mùa. Một năm sau, ngôi đình được trả lại theo đơn xin của dân làng. Tuy nhiên, nhân dân Hải Châu cho rằng ngôi làng bị ô uế nặng nên làm đơn thỉnh nguyện dâng lên vua Thành Thái xin cho xây dựng lại ngôi đình tại vị trí hiện nay (tổ 3, phường Hải Châu 1, quận Hải Châu) và tồn tại cho đến ngày nay. Đình làng Hải Châu là một trong những di tích lịch sử và văn hóa cấp quốc gia ở Đà Nẵng, là một trong những điểm tham quan Đà Nẵng để lại nhiều ấn tượng trong lòng du khách ghé tới đây. Cổng chính của đình làng này vẫn còn giữ nguyên vẹn 4 chữ “Hải Châu Chính Xã”, được viết toàn bộ bằng chữ Hán. Đình làng Hải Châu là một quần thể kiến trúc, nằm trong một khuôn viên rộng tới 3.500 mét vuông, bao gồm: Đình Hải Châu, Nhà thờ Tiền Hiền, nhà thờ Chu phái tộc và miếu Bà. Phía trước đình làng là một hồ nước nhỏ với hòn non bộ rợp bóng và cây si đã có tuổi thọ hàng trăm năm tuổi. Nhà thờ bên trái là nhà thờ của gia tộc họ Nguyễn Văn, nhà thờ bên phải là nhà thờ chung bao gồm 42 bài vị của 42 tộc họ, 42 tộc họ này đều đến từ Thanh Hóa, theo chân vua Lê Thánh Tông vào Nam từ năm Tân Mão (1471). Vua Lê Thánh Tông đã lập ra ấp Hàn Giang (ngày ngay là Đà Nẵng) và các tộc họ ấy sống quây quần với nhau trở thành làng Hải Châu, được triều Nguyễn sắc phong là “Chính xã”. Phía bên trong đình, người ta lưu giữ nhiều bức hoành phi, câu đối, liễn đối sơn son thếp vàng được viết hoàn toàn bằng chữ Hán và đã có niên đại lên đến hàng trăm năm. Trong đó, có 9 bức hoành phi và 2 cặp liễn đối được làm bằng gỗ, tất cả được chạm khắc rất đẹp, có giá trị nghệ thuật cao. Trên gác chuông của đình làng Hải Châu, có 1 chiếc chuông được đúc bằng đồng, trên thân chuông có những câu văn, thơ được viết bằng chữ Hán. Những câu văn, thơ này ghi lại những mốc lịch sử hào hùng của ngôi đình. Đại ý của những chữ này như sau: Năm Minh Mạng thứ 5 (1842) đã trùng tu chùa, năm 1825 vua đã ban chỉ sắc tứ cho chùa, đặt chùa mang tên “Chùa Phước Hải”, năm Minh Mạng thứ 13 (1832) nhằm ngày tốt, xã Hải Châu Chánh Đồng tạo lập quả chuông này. Nguồn: Báo điện tử Đà Nẵng

Đà Nẵng

10385 lượt xem

Xếp hạng : Di tích cấp quốc gia

Mở

Chùa Linh Ứng Ngũ Hành Sơn

Chùa Linh Ứng Ngũ Hành Sơn

Chùa Linh Ứng tọa lạc ở phường Hòa Hải, quận Ngũ Hành Sơn, thành phố Đà Nẵng. Chùa cách trung tâm thành phố khoảng 8 km về phía Đông Nam. Chùa thuộc hệ phái Bắc tông. Ngũ Hành Sơn là một thắng cảnh bậc nhất ở miền Trung xưa nay. Một huyền thoại mà ngày nay còn lưu truyền trong dân gian là: Thuở trời đất còn hỗn mang, vợ Long Vương vượt biển Đông vào đây đẻ trứng trên bãi cát, nhờ thần Kim Quy bảo vệ. Qua nhiều năm tháng hấp thụ khí âm dương, một hôm, trời nổi sấm sét, đất chuyển ầm ầm, trứng rồng nứt vỏ. Một Long Nữ chào đời, bay thẳng về trời. Những mảnh vỏ trứng biến thành năm ngọn núi… Vua Minh Mạng đặt tên các núi này là Ngũ Hành Sơn: Kim Sơn, Mộc Sơn, Thủy Sơn, Hỏa Sơn, Thổ Sơn. Thủy Sơn có tên là núi Chùa hay núi Tam Thai là ngọn núi lớn nhất, cao 106m, rộng khoảng 15 hecta, có ba ngọn. Ngọn cao nhất phía Tây Bắc là Thương Thai, có các chùa Tam Thai, Tam Tôn, Từ Tâm, các hang động Hoa Nghiêm, Huyền Không, Linh Nham, Vọng Giang Đài và hành cung Động Thiên Phước Địa (nơi nghỉ ngơi của vua Minh Mạng). Trung Thai ở phía Nam thấp hơn, có hang Vân Nguyệt, các động Vân Thông, Thiên Long, hai cổng đá Động Thiên Phước Địa và Vân Căn Nguyệt Quật. Hạ Thai ở phía Đông, có chùa Linh Ứng, động Tàng Chân, 5 hang động nhỏ: Tam Thanh, Chiêm Thành (hang Hời), Bàn Cờ, hang Ráy, hang Gió, có Vọng Hải Đài, hang Ngũ Cốc (hang Lồng Đèn) và động Âm Phủ. Ở phía Đông, có 123 bậc cấp lát bằng đá dẫn đến chùa Linh Ứng, thường được gọi là chùa Ngoài. Trước năm 1891, chùa có tên là Ứng Chân. Sách Danh thắng Non Nước – Ngũ Hành Sơn (Nguyễn Trọng Hoàng, Đà Nẵng, 2000) cho biết vào đời Vua Lê Hiển Tông, niên hiệu Cảnh Hưng (1740 – 1786) có Hòa thượng Quang Chánh, hiệu Bảo Đài đến tu tại động Tàng Chân. Ngài dựng am Dưỡng Chân, sau sửa chữa lại gọi là Dưỡng Chân đường. Đến đời Gia Long, Dưỡng Chân đường được đổi thành chùa Ứng Chân. Sau khi Vua Minh Mạng đến vãng cảnh chùa đầu tiên vào năm 1825 thì các ngôi chùa tranh tre ở đây mới được thay bằng gạch ngói. Vua đã ban cho chùa tấm biển có ghi Ngự chế Ứng Chân Tự, Minh Mạng lục niên. Đến đời Thành Thái, do kỵ húy tên một vị vua nhà Nguyễn nên chùa được đổi tên là Linh Ứng. Chùa còn tấm biển ghi Cải tứ Linh Ứng Tự, Thành Thái tam niên. Năm 1901, chùa bị cơn bão Tân Sửu tàn phá nặng nề. Chùa được trùng tu nhiều lần. Năm 1993, Thượng tọa Thích Thiện Nguyện đã tổ chức trùng tu ngôi chánh điện. Chánh điện xây kiểu chữ “Nhất”, bên phải là nhà tổ, giảng đường, nhà khách, nhà thiền và nhà trù. Điện Phật được bài trí tôn nghiêm. Gian giữa thờ đức Phật Thích Ca, gian hai bên thờ Bồ tát Quan Âm và Bồ tát Địa Tạng, phía ngoài có tượng Hộ Pháp và Tiêu Diện. Trước chùa, Thượng tọa cho đắp tượng đức Phật Thích Ca cao 10m, xây đài Quan Âm, tạo vườn cây cảnh. Năm 1997, Thượng tọa cho xây tháp Xá Lợi bên trái chùa, cao 30m, đường kính tầng dưới 11m, đặt thờ gần 200 tượng Phật, Bồ tát, La hán. Tầng 7 tôn thờ Xá lợi Phật và 7 vị Phật truyền đăng (Tỳ Bà Thi Phật, Thi Khí Phật, Tỳ Xá Phù Phật, Câu Lưu Tôn Phật, Câu Na Hàm Mâu Ni Phật, Ca Diếp Phật và Thích Ca Mâu Ni Phật). Tầng 4, 5, 6 thờ bảo tượng Quan Âm Thiên thủ Thiên nhãn và 84 tượng Đà La Ni. Tầng 3 thờ 33 vị Tổ truyền đăng Ấn – Hoa (từ Tổ Ca Diếp đến Tổ Huệ Năng). Tầng 2 thờ tượng Di Đà Tam Tôn, còn gọi là Tây Phương Tam Thánh (đức Phật A Di Đà, Bồ tát Quan Thế Âm và Bồ tát Đại Thế Chí). Tầng 1 thờ tượng đức Phật Thích Ca, Ca Diếp, A Nan cùng nhiều vị Bồ tát, La hán… Ngoài nhiệm vụ trụ trì ngôi danh lam bậc nhất ở thành phố, Thượng tọa Thích Thiện Nguyện còn đảm nhiệm Phó Trưởng Ban Trị sự Phật giáo TP. Đà Nẵng, Chánh Đại diện Phật giáo quận Ngũ Hành Sơn. Thượng tọa tiếp tục cho xây dựng một ngôi chùa Linh Ứng ở khu du lịch Bà Nà, thuộc xã Hòa Ninh, huyện Hòa Vang, cách thành phố Đà Nẵng khoảng 40 km về phía Tây. Nằm trong khu danh thắng Ngũ Hành Sơn, chùa Linh Ứng và Tam Thai đã đón tiếp đông đảo du khách, Phật tử đến tham quan, chiêm bái hằng ngày. Dưới chân núi có làng nghề điêu khắc đá truyền thống nổi tiếng. Chùa đã được Bộ Văn hóa – Thông tin công nhận là Di tích lịch sử – văn hóa quốc gia. Nguồn: Báo du lịch thông tin điện tử Đà Nẵng

Đà Nẵng

8408 lượt xem

Xếp hạng : Di tích cấp quốc gia

Mở

Chùa Phước Lâm

Chùa Phước Lâm

Chùa Phước Lâm ở Xã Thanh Hà, phường Cẩm Hà, thành phố Hội An, tỉnh Quảng Nam. Theo lịch sử Phật giáo Đàng Trong, chùa Phước Lâm do Thiền sư Thiệt Dinh - Chánh Hiển, hiệu Ân Triêm, (1712 - 1796) thành lập vào giữa thế kỷ 18. Chùa đã nhiều lần trùng tu vào các năm 1822, 1864, 1891, 1909, 1965… Trong đó có một văn bia ghi lại quá trình trùng tu chùa. Năm Duy Tân thứ 4, chùa Phước Lâm được vinh danh với Biển vàng sắc tứ, một niềm vinh dự chỉ dành cho những ngôi chùa tư có đóng góp lớn về đức tin và phúc lợi cộng đồng. Công trình có kiến trúc độc đáo. Khuôn viên của công trình theo hình chữ Môn với 3 khu vực chính là: cổng, sân và chính điện. 1. Cổng tam quan Có 2 cổng phụ ở 2 bên ở phía Đông- phía Tây và 1 cổng chính ở giữa đều được xây bằng gạch. Phía trên của cổng chính có đề “Phước Lâm Tự” 2. Sân chùa Sân chùa rợp bóng cây xanh cổ thụ, cây cảnh và trụ cột cờ. Bao quanh sân là những tấm bình phong, khu nhà Đông (nơi tiếp khách và nơi ở của chú tiểu) và khu nhà Tây (nơi thờ tự) 3. Chính điện Đây là một ngôi nhà có 3 gian chính và 2 gian phụ được lợp mái âm dương, nóc nhà kiểu hình thuyền đắp nổi con rồng, phụng, lân uốn lượn. Chính điện là khu vực đặt các bức tượng thờ Phật, tượng thờ Quan Thế Âm Bồ Tát, tượng thờ Đại Thế Chí Bồ Tát và bàn thờ Giám Trai, Tứ Thiên Vương 4. Nhà thờ tổ Nhà thờ tổ là công trình mới được xây dựng năm 1965 ở ngay phía sau chính điện. Đây là khu vực thờ tự người đã khai sơn ra chùa Phước Lâm và các vị trụ trì đã mất. Hiện nay, chùa Phước Lâm lưu giữ rất nhiều những cổ vật có giá trị, điển hình như: những mộc bản cổ được chạm trổ tinh tế, bộ bát sứ cổ, chuông đồng, khánh đồng, lư hương, hoành gỗ, liễn đối, bát sứ men ngọc, kinh Phật khắc gỗ….… Sau hơn 200 năm tồn tại, công trình nhuốm màu rêu phong của thời gian nhưng giá trị của chùa Phước Lâm để lại vẫn còn mãi. Chùa Phước Lâm được xếp hạng di tích cấp quốc gia năm 1991. Nguồn: Bảo tàng Quảng Nam

Đà Nẵng

7337 lượt xem

Xếp hạng : Di tích cấp quốc gia

Mở

Miếu Quan Công

Miếu Quan Công

Miếu Quan Công (địa chỉ - số 24 đường Trần Phú) còn được gọi là Chùa Ông, tên chữ là Trừng Hán Cung, do người Minh Hương định cư tại Hội An và người Việt cùng phối hợp xây dựng vào khoảng giữa thế kỷ 17. Miếu thờ vị tướng tài ba Quan Vân Trường (Quan Vũ hay Quan Công), là nhân vật lịch sử nổi tiếng thời Tam Quốc rất được kính phục. Ông là một trong “Trung Hoa thập Thánh” và “Tam Quốc tứ tuyệt”, trở thành hình mẫu và là biểu tượng của Nghĩa - Tín - Trung - Dũng, và được tôn vinh như bậc Thánh đế. Việc thờ phụng Quan Công nhằm kính ngưỡng, ca tụng lòng nghĩa khí và tiết trung liệt, để người đời noi gương sáng. Quan Công là một danh tướng bậc nhất trong lịch sử Trung Quốc. Ông đã có nhiều công lao to lớn, phò Hán, dẹp Ngô, diệt Ngụy. Vì Hội An từng là đô thị - thương cảng, nơi thường xuyên diễn ra các việc hợp đồng buôn bán của các thương nhân Trung Quốc nên miếu Quan Công được lập nên theo nhu cầu tín ngưỡng của họ. Kiến trúc Miếu Quan Công gồm bốn tòa nhà, một tiền đình, hai tả-hữu vu và một chính điện rộng. Bốn tòa nhà xây theo kiểu chữ khẩu, cấu trúc theo kiểu chồng tránh, có ngói lợp và nóc độc đáo, được trang trí họa tiết hình rồng công phu. Chính điện đặt pho tượng Quan Công, mặc thanh bào thêu rồng nổi kim tuyến, nét mặt oai nghiêm tươi sáng, đôi mắt xuất thần nhìn về phía trước. Chính điện còn có 2 pho tượng: Châu Thương, người nô tì dũng cảm, trung thành của Quan Công và tượng Quan Bình nghĩa tử; cùng 2 con ngựa có chiều cao bằng ngựa thật, bên tả là con ngựa trắng, bên hữu ngựa xích thố - ngựa chiến mà Quan Công rất quý. Những pho tượng này được tạo tác tinh xảo thể hiện sự điêu luyện của người thợ tạo hình năm xưa. Ngoài ra, trong Miếu Quan Công còn rất nhiều biển liễu, hoành phi, sắc phong, bia đá và những hiện vật cổ. Đặc biệt, Miếu còn lưu giữ bài thơ đề vịnh và bài ngụ ngôn cổ phong do Xuân Quận Công Nguyễn Nghiễm (thân phụ của đại thi hào Nguyễn Du) sáng tác vào năm 1775, lúc phụng chức tả tướng quân Bình Nam vào đóng quân ở Hội An; cùng 2 bài họa của Uông Sĩ Cư và Nguyễn Lệnh Tân. Trải qua bao thăng trầm biến cố của lịch sử nhưng tất cả đều vẹn nguyên tươi màu nét chữ. Đó còn là một di tích lịch sử hiếm thấy vẫn tồn tại cho đến ngày nay, lưu dấu thời phân tranh Trịnh - Nguyễn ở xứ Đàng Trong từ thế kỷ 18. Miếu Quan Công đã được cấp bằng Di tích lịch sử - văn hóa quốc gia ngày 29 tháng 11 năm 1991. Nguồn: Báo du lịch Quảng Nam

Đà Nẵng

7330 lượt xem

Xếp hạng : Di tích cấp quốc gia

Mở

Đình làng Bồ Bản

Đình làng Bồ Bản

Đình Bồ Bản hiện tọa lạc tại thôn Bồ Bản, xã Hòa Phong, huyện Hòa Vang, thành phố Đà Nẵng. Vào những năm cuối thế kỷ 15 (khoảng năm 1470), theo tiếng gọi Nam tiến của vua Lê Thánh Tông với phương châm: “Bắc địa trùng dương khai quốc sử/ Nam thiên khẩn nghiệp thạch minh danh”, các vị tiền nhân của 4 tộc Trần, Hồ, Trương, Nguyễn đi khai khẩn đất đai, lập nghiệp, kết tình huynh đệ, cùng chung tay xây dựng nên một vùng đất mới, một sự sống mới. Làng Bồ Bản hình thành từ đó. Đến đời vua Lê Hiển Tông (1740-1786), các họ Tán, Đinh, Nguyễn, Phạm cùng gia nhập, chung tay xây dựng quê hương Bồ Bản. Đình Bồ Bản được dựng vào năm Canh Thân, niên hiệu Cảnh Thịnh (1800) bằng tranh, tre tại gò Miếu Tam Vị nằm về phía Đông. Năm Nhâm Tý, đời vua Tự Đức thứ 5 (1852), đình được dựng lại hoàn chỉnh khang trang, vật liệu vững bền ở địa điểm mới, cách vị trí cũ khoảng 200m về phía Tây, với địa hình thoáng mát, phía sau có Gò Miếu cao, bên hữu có Gò Chùa, bên tả có Gồ Ổi, gọi là “long hổ hội”, phía trước đình là cánh đồng rộng, tiếp giáp với làng Cẩm Toại và sông Yên. Ngày 25 tháng 3 năm Bính Ngọ đời Thành Thái thứ 18 (1906) đình được trùng tu lần thứ nhất. Qua thăng trầm của thời gian, thiên tai, bão lụt, đặc biệt sau cơn bão số 2 ngày 19 tháng 4 năm 1989, đình bị hư hại một phần. Vì thế, ngày 12 tháng 5 năm 1990, nhân dân tiến hành tu sửa lại đình, bao gồm lợp lại toàn bộ mái ngói và một số cấu kiện gỗ bên trong. Năm 2007, đình Bồ Bản được trùng tu với quy mô lớn từ nguồn ngân sách của Nhà nước. Đến năm 2011, tiếp tục xây dựng các công trình ngoại vi như tường thành, cổng tam quan, sân vườn nên ngôi đình càng trở nên khang trang. Về mặt kiến trúc, đình Bồ Bản có dạng chữ “Nhất” theo lối ba gian hai chái, mặt quay về hướng Nam. Đình có tất cả 36 cột bằng gỗ mít và kiền kiền, trong đó có tám cột cái (cột nhất) cao 4,5m, tám cột hàng nhì cao 3,5m, tám cột hàng ba cao 2,3m, bốn cột đấm, bốn cột quyết và bốn cột ở cửa hông. Trên các thanh trính, kèo được chạm khắc trang trí các mảng đề tài như đầu rồng, tứ thời, tứ quý, cầm kỳ, thi tửu… với những đường nét mềm mại, tinh xảo tạo nên những tác phẩm nghệ thuật độc đáo. Mái đình lợp ngói âm dương. Nóc mái gắn “lưỡng long triều nguyệt”; phần giữa của mái trước có tạo thêm đường gờ cao gắn trang trí các hình: loan phượng, rùa… Hai đầu bít đốc trang trí hình: dơi, mai điểu, tùng lộc. Tất cả đều được tạo dáng qua kỹ thuật nề và ghép sành sứ. Ngoài sân rộng, có một bức bình phong lớn, mặt trong trang trí hình rùa, mặt trước là hình long mã. Đình Bồ Bản không chỉ là một thiết chế văn hóa, một công trình kiến trúc – tín ngưỡng cổ truyền tiêu biểu, mà còn là nơi diễn ra nhiều sự kiện lịch sử quan trọng của cách mạng địa phương trong phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc. Trong Cách mạng tháng 8 năm 1945, đoàn biểu tình của tổng An Phước, huyện Hòa Vang xuất phát từ đình làng Cẩm Toại đến tập họp tại sân đình Bồ Bản rồi kéo đi đấu tranh giành chính quyền. Đây cũng là nơi thành lập Ủy ban hành chính kháng chiến xã Bồ Bản – nơi thường xuyên diễn ra những buổi tiếp xúc giữa dân và cán bộ của chính quyền cách mạng thời kỳ đầu non trẻ. Đồng thời, là nơi lập phòng phiếu bầu cử Quốc hội đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã thành công tốt đẹp, nơi ra đời lớp bình dân học vụ đầu tiên của địa phương. Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, tại đây vào năm 1960, đã mở phiên tòa xét xử những người theo Mỹ – Diệm chống đối cách mạng, từ Ấp trưởng, Ấp phó đến Liên gia trưởng. Ngày đất nước hoàn toàn giải phóng, ngôi đình là nơi tiếp nhận ngụy quân, ngụy quyền về đầu thú và giao nộp vũ khí, là nơi để nhân dân trong thôn học tập các chủ trương chính sách của Đảng và nhà nước. Hiện nay, đình Bồ Bản còn lưu giữ được một bia đá tạo năm Tự Đức thứ 5 (1852). Đình Bồ Bản được công nhận là Di tích cấp quốc gia ngày 04/01/1999. Nguồn: Báo điện tử Đà Nẵng

Đà Nẵng

7279 lượt xem

Xếp hạng : Di tích cấp quốc gia

Mở

Đình làng Túy Loan

Đình làng Túy Loan

Túy Loan (hay còn gọi là Thúy Loan) là một làng cổ ở Đà Nẵng, được khai phá dưới thời vua Lê Thánh Tôn niên hiệu Hồng Đức (1470 - 1497). Tương truyền cùng với quá trình khai phá lập làng, nhân dân cũng xây dựng các thiết chế văn hóa tín ngưỡng cổ truyền, trong đó có ngôi làng. Đình làng Túy Loan được xây dựng lần đầu tiên vào khoảng năm 1470 ở một nơi khác. Đến năm 1787, đình được trùng tu lần đầu. Năm 1888, đình không may bị cháy và được xây dựng lại ở mảnh đất bên cạnh dòng sông Túy Loan. Trải qua nhiều lần thay đổi vị trí, kiểu thức, đình làng Túy Loan hiện nay được xây dựng dưới thời vua Thành Thái năm Canh Tý (1900) trên cơ sở mô phỏng quy mô, kiểu thức ngôi đình cũ, được xây dựng từ thời Đồng Khánh đã bị gió bão hủy hoại. Từ đó đến nay đình làng Túy Loan (ở xã Hòa Phong, huyện Hòa Vang, TP Đà Nẵng) thường xuyên được tu tạo, nhưng giá trị kiến trúc ban đầu không thay đổi. Đình làng Túy Loan có không gian rộng thoáng, vị trí đẹp, trước mặt là một đoạn sông Túy Loan uốn khúc với những bãi bồi quanh năm xanh màu cây trái. Đình Túy Loan là một công trình có giá trị điển hình về mặt kiến trúc, bao gồm tiền đường, chính điện và hậu tẩm được nối liền liên tục từ trước ra sau. Tiền đường có kiểu kết cấu hỗn hợp, vừa có liên kết rường, vừa có liên kết kèo. Phần giữa của các vì, tức liên kết giữa hai cột cái (cột nhất) là liên kết rường theo kiểu thức chồng rường giả thủ; từ hai cột cái tỏa về hai phía trước và sau là các thanh kèo nối với các cột quân tạo nên kiểu kết cấu thượng rường hạ kèo. Phía đầu hồi, từ cột cái tỏa ra các kèo đấm, quyết để tạo thành hai chái như các công trình có vì kèo truyền thống. Trong kiến trúc đình làng Đà Nẵng, kiểu kết cấu này tuyệt nhiên không tìm thấy ở bất kì ngôi đình nào khác. Bước qua cổng tam quan là đến các trụ biểu đứng cùng bình phong được đặt phía trước. Đây được xem như là một tam quan nội của đình. Trên thân trụ đều có các câu đối. Bình phong xây theo kiểu cuốn thư, mặt trong là hình hổ, mặt ngoài là hình long mã được đắp nổi. Mái đình lợp ngói âm dương, tường xây bằng gạch. Bài ký trên văn bia đặt trong đình của Tam giáp Nguyễn Khuê ghi lại việc lập đình có đoạn: "Đình gồm một tòa chính tẩm, một tòa tiền đường đều làm bằng gỗ quý và lợp ngói. Trước sân có xây trụ biểu, bình phong trông rất xán lạn. Ngoài ra còn xây một ngôi từ đường ở bên trái để làm chỗ thờ các vị tiền hiền" Trên mái trang trí lưỡng long chầu nguyệt, hai đầu mái đắp hình rồng uốn lượn được ghép bằng sành sứ. Đi vào trong nội điện và hậu tẩm là nơi thờ cúng, gồm bàn thờ chính, bên tả, bên hữu. Hai bên còn có tả ban, hữu ban. Gian giữa có bàn thờ hội đồng cao hơn các bàn thờ khác, trên bàn có cặp hạc đứng chầu, hai bên có hai dãy lỗ bộ. Trong đình còn có 1 văn bia ở đình Túy Loan niên đại Thành Thái thứ nhất (1889) và nhiều hoành phi, liễn đối đã trên dưới 100 năm. Bên cánh phía Đông của đình là ngôi nhà thờ Chư Phái Tộc thờ các vị Tiền hiền. Đây là ngôi nhà thờ 5 vị tiền hiền của các tộc Đặng, Lâm, Nguyễn, Trần, Lê. Đặc biệt, đình làng Túy Loan hiện còn 25 sắc phong do các vua triều Nguyễn ban tặng. Không chỉ mang nét kiến trúc độc đáo, đình làng Túy Loan còn ghi dấu ấn trên những trang sử vàng chống giặc ngoại xâm. Năm 1945, dân làng Túy Loan lấy đình làng, nhà thờ làm trụ sở bài phong phản đế, cùng tổng An Phước kéo về huyện Hoà Vang cướp chính quyền Pháp - Nhật. Năm 1946 -1947, đình Tuý Loan là nơi đóng quân của tiểu đoàn 17 và 19 do ông Đàm Quang Trung chỉ huy. Hằng năm, cứ đến mồng 9 và mồng 10 tháng Giêng âm lịch thì đây là lúc người dân xã Hòa Phong tổ chức lễ hội đình làng Túy Loan.Lễ hội diễn ra với các nghi lễ truyền thống cùng những trò chơi dân gian được tái hiện lại trong khuôn khổ chương trình lễ hội. Từ chiều mồng 9, người dân trong làng đã tổ chức rước sắc long trọng từ nhà thờ tộc Đặng phái nhất, diễu hành qua 4 thôn Túy Loan và về đình Túy Loan tế lễ truyền thống. Đến sáng mồng 10, phần lễ chính diễn ra trong không khí trang nghiêm. Phần lễ gồm Lễ rước Sắc phong, nhạc lễ dâng hương tế Đình, thả long hoa chu đăng dưới sông giúp con cháu tưởng nhớ năm vị tiền hiền Đặng, Lâm, Nguyễn, Trần, Lê tuân chiếu vua Lê Thánh Tôn đi mở mang bờ cõi về phương Nam (năm Hồng Đức nguyên niên 1470), dừng chân chọn nơi đây để lập nghiệp khai khẩn làm ăn và đặt tên cho làng là Túy Loan. Kế đến là Phần Hội với nhiều trò chơi dân gian vui nhộn như đẩy gậy, vật tay, kéo co diễn ra ngay trước sân đình…Nghề làm bánh tráng vốn từ lâu đã góp phần làm nổi tiếng làng Túy Loan nên trong phần hội không thể thiếu cuộc thi nướng bánh tráng. Các thôn thường cử ra những cô gái khéo tay nhất của thôn mình để tham gia cuộc thi này, người chiến thắng trong cuộc thi không những mang lại vẻ vang cho thôn mình mà còn góp phần tôn vinh một nghề truyền thống lâu đời của làng. Ngoài ra, trong phần hội dân làng còn tổ chức thi gói bánh tét, đập niêu… Trải qua hàng trăm năm tồn tại, đến đình làng vẫn còn gần như nguyên vẹn, trang nghiêm, trầm mặc dưới bóng đa cổ thụ và giữa bao các rặng tre làng. Sân đình có xây trụ biểu, bình phong, vẽ các câu đối... rất uy nghi, tôn kính. Du khách khi đến Đà Nẵng, hãy ghé lại Tuý Loan, dạo một vòng quanh làng, thưởng thức hương vị mì Quảng và bánh tráng, chiêm ngưỡng đình làng và không gian làng cổ, có dịp dự hội làng quý khách du lịch sẽ rất thú vị và có ấn tượng khó quên về một làng cổ, một đình làng với cảnh sắc thiên nhiên mộc mạc, con người ân tình và nồng hậu, đậm đà bản sắc văn hóa làng quê Việt Nam rất đáng tự hào và trân trọng. Nguồn: Trang thông tin điện tử đảng bộ Đà Nẵng

Đà Nẵng

7011 lượt xem

Xếp hạng : Di tích cấp quốc gia

Mở

×
Hỏi AI