Thác Tác Tình (hay thác Tình) là danh thắng nổi tiếng tại huyện Tam Đường, tỉnh Lai Châu ( nay là Xã Bình Lư , Lai Châu ), cách thành phố Lai Châu khoảng 15km. Ngọn thác hùng vĩ cao gần 130m đổ xuống từ đỉnh núi mây phủ, chân thác rộng 40m tạo nên một hồ nước nhỏ thơ mộng. Nơi đây nổi tiếng với phong cảnh hoang sơ, rêu phong và gắn liền với chuyện tình thủy chung của đôi trai gái người Dao.
Lai Châu
47 lượt xem
Xếp hạng : Đang cập nhật
Hang Thẳm Tạo (hay Bản Thẳm) là một hang động tự nhiên độc đáo tại tại bản Nà Xa, xã Mường Đun, huyện Tủa Chùa, tỉnh Điện Biên ( nay là Xã Sáng Nhè, huyện Tủa Chùa, tỉnh Điện Biên ) nổi bật với con suối ngầm xuyên qua lòng hang. Nằm trong khu vực Bản Thẳm, đây là điểm đến hoang sơ, kỳ vĩ với hệ thống nhũ đá tự nhiên, thích hợp cho du khách ưa khám phá và trải nghiệm thiên nhiên. Với đặc điểm đặc biệt nhất là có một con suối ngầm xuyên qua bên trong lòng hang, tạo nên phong cảnh kỳ thú. Hang sở hữu nhiều khối nhũ đá tự nhiên với hình thù độc lạ, hoang sơ chưa bị tác động nhiều bởi du lịch.
Lai Châu
35 lượt xem
Xếp hạng : Đang cập nhật
Núi đá Ô là di tích danh lam thắng cảnh cấp tỉnh nổi tiếng tại cao nguyên Sìn Hồ, tỉnh Lai Châu, nổi bật với vẻ đẹp thiên nhiên hoang sơ, khí hậu trong lành và không gian văn hóa tâm linh đặc sắc của đồng bào dân tộc địa phương. Đây là địa điểm du lịch tâm linh, nơi người dân thường thắp hương, dâng lễ cầu may, thu hút du khách đến tham quan và khám phá. Núi Đá Ô được coi là nơi linh thiêng, gắn liền với các câu chuyện truyền thuyết địa phương. Người dân thường đến đây dâng hương và lễ vật để cầu mong bình an, may mắn. Quần thể núi đá có hình thù đặc biệt, bao quanh bởi cảnh quan núi rừng hùng vĩ của vùng cao, phù hợp cho du khách ưa thích khám phá thiên nhiên, tìm hiểu văn hóa. Với vẻ đẹp hoang sơ, Núi Đá Ô đang được chú trọng phát triển thành một điểm đến du lịch sinh thái và văn hóa tâm linh quan trọng tại Lai Châu.
Lai Châu
47 lượt xem
Xếp hạng : Đang cập nhật
Hang Mường Tỉnh (thường được biết đến là hang động Chua Ta) tại Điện Biên là một tuyệt tác thiên nhiên kỳ vĩ, nổi bật với hệ thống nhũ đá, măng đá đa dạng, lấp lánh hình thù độc đáo như ruộng bậc thang, mâm xôi, tạo nét quyến rũ riêng. Hang có cửa nhỏ hẹp nhưng lòng hang rộng, có suối chảy trong hang, mang lại không gian bí ẩn và âm thanh róc rách, là điểm du lịch khám phá hấp dẫn. Hang được xếp hạng di tích lịch sử cấp quốc gia theo quyết định số 1256/QĐ-BVHTTDL ngày 14/04/2011 Thời kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp hang Mường Tỉnh là căn cứ kháng chiến quan trọng, nơi trú chân của các cơ quan tỉnh, bộ đội,... đặc biệt là trong giải phóng Điện Biên lần thứ nhất năm 1953. Hang Mường Tỉnh gồm có 3 ngăn chính. Ngăn ngoài cùng có cửa hang hẹp, với diện tích khoảng 600 m², chiều cao 20 m, có không gian thoáng đãng, và một bãi đất bằng phẳng. Đây là điều kiện lý tưởng để tổ chức các cuộc họp có sức chứa hàng trăm người mà vẫn giữ được bí mật. Ngăn giữa phải trườn mình qua một đường hầm xuyên đá tự nhiên. Vào bên trong là một không gian với diện tích khoảng 20 m², xung quanh là các bức tường bằng đá, với những hốc đá nhỏ, sâu vào bên trong. Đây là nơi cất giấu tài liệu của cách mạng, với hệ thống bàn làm việc, giường ngủ hoàn toàn bằng đá được sắp xếp tự nhiên nhưng rất hợp lý. Đây là nơi vừa bí mật, nhưng cũng rất đảm bảo an toàn khi có biến cố xảy ra, có một đường nhỏ xuyên lên đỉnh núi, các chiến sĩ có thể chui ra ngoài rừng mà địch vẫn không thể phát hiện. Bên trong là ngăn thứ 3, rộng khoảng 30 m². Hang động Chua Ta là một điểm đến lý tưởng cho những người đam mê khám phá thiên nhiên và tìm kiếm sự trải nghiệm độc đáo khi đến Điện Biên
Điện Biên
71 lượt xem
Xếp hạng : Đang cập nhật
Thành Bản Phủ (hay còn có tên là thành Chiềng Lề) thuộc địa phận xã Noọng Hẹt, huyện Điện Biên, cách trung tâm thành phố Điện Biên Phủ 8 km về phía nam. Thành Bản Phủ là một di tích lịch sử quốc gia do anh hùng Hoàng Công Chất xây dựng (1758-1762) để chống giặc Phẻ, để làm căn cứ vững chắc, thủ phủ nghĩa quân trong cuộc chiến đấu giải phóng Mường Thanh. Tại thành nội Bản Phủ, sau khi tướng Hoàng Công Chất qua đời (ngày 25/2/1767 âm lịch), để tỏ lòng biết ơn người anh hùng đã có công dẹp giặc ngoại xâm đem lại cuộc sống yên bình cho nhân dân, nhân dân Mường Thanh đã lập đền thờ linh chúa Hoàng Công Chất và 06 vị thần quận công: Lò Ngải, Bạc Cầm Khanh, Hoàng Công Toản, Bun Phanh, Vũ Tả, Nguyễn Hữu, được dân gian gọi chung là đền Hoàng Công Chất. Đây là công trình kiến trúc quân sự cổ độc đáo với hào sâu, thành cao, đền thờ Hoàng Công Chất.Thành Bản Phủ là biểu tượng của tinh thần đoàn kết, kiên cường của quân và dân ta trong việc bảo vệ biên cương tổ quốc, là điểm tham quan lịch sử văn hóa quan trọng.
Điện Biên
74 lượt xem
Xếp hạng : Đang cập nhật
Tượng đài Chiến thắng Điện Biên Phủ, tọa lạc trên đồi D1, thành phố Điện Biên Phủ, là tượng đài bằng đồng lớn nhất Việt Nam, biểu tượng cho chiến thắng lừng lẫy năm 1954.Công trình Tượng đài Chiến thắng Điện Biên Phủ cao 16,6m, gồm 3 bộ đội nâng em bé Thái và lá cờ quyết thắng, thể hiện tinh thần đoàn kết, ý chí kiên cường của dân tộc. Lối lên tượng đài gồm 320 bậc thang, chia thành 3 chiếu nghỉ tương ứng 3 đợt tấn công, hai bên là 56 cột mốc đá xanh tượng trưng 56 ngày đêm chiến đấu. Tượng đài Chiến thắng Điện Biên Phủ được khánh thành năm 2004 (kỷ niệm 50 năm chiến thắng), đây là điểm tham quan lịch sử quan trọng, ghi dấu chiến công "lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu"
Điện Biên
90 lượt xem
Xếp hạng : Đang cập nhật
Bảo tàng Chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ tọa lạc tại quốc lộ 279, phố 3, phường Mường Thanh, thành phố Điện Biên Phủ, tỉnh Điện Biên. Được khởi công xây dựng từ tháng 10/2012 trên diện tích 22.000m2 và chính thức mở cửa đón khách vào ngày 5/5/2014 sau 19 tháng thi công, Bảo tàng chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ là công trình quy mô, hoành tráng và hiện đại nhất tỉnh Điện Biên hiện nay. Nhà bảo tàng được thiết kế dạng hình nón cụt, phần trang trí xung quanh được tạo hình quả trám tượng trưng như tấm lưới ngụy trang của chiếc mũ anh bộ đội, gồm 1 tầng hầm và 1 tầng nổi. Trong đó, tầng hầm là nơi đón tiếp khách tham quan, không gian học tập, tương tác và các dịch vụ vui chơi giải trí. Tầng nổi là không gian trưng bày cố định chuyên đề chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ, không gian panorama (toàn cảnh) và bộ phận làm việc. Với diện tích 1.250m² bảo tàng trưng bày gần 1.000 hiện vật, tài liệu, hình ảnh, bản đồ, kết hợp cùng các mô hình cảnh quan giả, ánh sáng hiện đại để tái hiện lại "chảo lửa" Điện Biên năm xưa. Bảo tàng Chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ không chỉ là nơi tham quan, tìm hiểu lịch sử mà còn là niềm tự hào của người dân cả nước về một thời kỳ oanh liệt "lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu" Nguồn: Sưu tầm Internet
Điện Biên
90 lượt xem
Xếp hạng : Đang cập nhật
Hầm chỉ huy tướng De Castries là di tích lịch sử đặc biệt nằm tại trung tâm tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ, TP. Điện Biên Phủ. Đây là nơi làm việc của tướng Christian De Castries vào năm 1954, được xây dựng kiên cố với cấu trúc 20m dài, 8m rộng, là biểu tượng cho thất bại của Pháp. Nơi đây nổi tiếng với sự kiện lá cờ "Quyết chiến - Quyết thắng" tung bay ngày 7/5/1954. Vào hồi 17h30 ngày 7/5/1954, đại đội trưởng Tạ Quốc Luật (Sư đoàn 312) đã bắt sống tướng De Castries tại bàn làm việc của ông ta trong căn hầm này, đánh dấu sự toàn thắng của Chiến dịch Điện Biên Phủ. Hiện nay, hầm vẫn được bảo tồn nguyên vẹn và là một trong 23 di tích quốc gia đặc biệt, thu hút đông đảo du khách tham quan, tìm hiểu lịch sử. Hầm De Castries không chỉ là một di tích quân sự mà còn là nhân chứng sống cho ý chí chiến đấu oai hùng của dân tộc Việt Nam. Nguồn: Sưu tầm Internet
Điện Biên
88 lượt xem
Xếp hạng : Đang cập nhật
Đình Vĩnh Phong là ngôi đình cổ của làng Vĩnh Phong, nay thuộc thị trấn Thủ Thừa có từ đầu thế kỷ thứ XIX. Đình Vĩnh Phong, nơi lưu niệm ông Mai Tự Thừa, người đã có công khai cơ lập làng, lập chợ tạo nên sự phồn thịnh của Thị trấn Thủ Thừa ngày nay. Khoảng cuối thế kỷ XVIII, ông Mai Tự Thừa đến làng Bình Lương Tây khai khẩn một dây đất 4 mẩu dọc theo kinh Trà Cú (kinh Thủ Thừa) và cất một ngôi quán nhỏ ở bờ kinh để buôn bán. Do quán của ông ở ngay giáp nước kinh Trà Cú nên ghe thương hồ tụ hội mua bán, trao đổi rất đông, dân cư tìm đến sinh sống ngày một nhiều. Vì thế ông Mai Tự Thừa đã đắp đường, làm bến ghe và lập một cái chợ bằng lá để có nơi mua bán, đó chính là chợ Thủ Thừa ngày nay. Dần dần, dân số xung quanh khu vực chợ phát triển, ông Mai Tự Thừa liền làm đơn xin tách khỏi làng Bình Lương Tây, lập làng mới lấy tên là làng Bình Thạnh. Ông còn hiến một khoảnh đất để cất đình làng - đó chính là tiền thân của đình Vĩnh Phong ngày nay. Tương truyền, ông Mai Tự Thừa đã đóng góp nhiều công của trong việc nạo vét kinh Trà Cú vào năm 1829 và tham gia vào cuộc khởi nghĩa của Lê Văn Khôi rồi mất tích. Vì thế, tài sản của ông gồm cái chợ và ruộng đất bị triều đình sung công và phát mãi, vợ con ông cũng bị lưu đày. Làng Bình Thạnh do ông lập cũng bị đổi tên thành làng Vĩnh Phong, đình làng cũng bị dời đi nơi khác. Mãi sau này khi Thực dân Pháp chiếm Nam Bộ, Triều Nguyễn không còn thế lực ở phương Nam nên đồng bào quanh chợ Thủ Thừa mới quyên tiền xây cất lại đình Vĩnh Phong năm 1886 và đưa bài vị ông Mai Tự Thừa vào thờ với 7 chử hán: ''Tiền hiền Mai Tự Thừa – Chủ thị''. Qua nhiều lần trùng tu, gần nhất vào năm 1998, đình Vĩnh Phong vẫn còn giữ được phong cách kiến trúc cuối thời Nguyễn. Hiện tại đình Vĩnh Phong nằm trong khuôn viên 1132m2 với 3 lớp nhà: võ ca, võ quy, chánh điện trông ra kinh Thủ Thừa. Chánh điện đình Vĩnh Phong được xây dựng theo lối cổ với kết cấu cột tứ trụ, mái lợp ngói âm dương, trên nóc có đôi rồng bằng sành trong tư thế lưỡng long tranh châu. Bên trong chánh điện được bài trí rất trang nghiêm với 2 lớp bao lam, 3 bàn thờ, Long Đình và Lỗ Bộ. Bao lam bên ngoài là tuyệt tác của cánh thợ Thủ Dầu Một có niên đại Mậu Ngọ (1918). Các nghệ nhân đã thể hiện trên bao lam này các đề tài truyền thống như Tứ linh (Long, Lân, Quy, Phụng), Tứ hữu (Mai, Lan, Cúc, Trúc), Bá điểu quy sào. Bên trên bao lam có những khung gỗ kết cấu theo kiểu ô hộc chạm long hình tượng Long Mã, Mai Lộc, Cuốn thư, Cá hóa Long, Dơi, hết sức tinh xảo. Trước bàn thờ chính là bộ bao lam cổ có niên đại Bính Tuất (1886). Vẫn là đề tài tứ hữu, nhưng các chi tiết trên bộ bao lam này được tạo dáng to khỏe mang phong cách cuối thế kỷ XIX. Nét đặc biệt ở bao lam này là nghệ thuật sơn son thếp vàng hết sức tinh xảo. Trải qua thời gian hơn 100 năm mà bộ bao lam này vẫn còn nguyên vẻ rực rở như buổi ban đầu. Chánh điện đình Vĩnh Phong hiện còn 2 bức hoành phi cổ cùng 8 cặp liễn đối có giá trị niên đại Bính Tuất (1886) và Bính Thìn (1916). Đa số các câu đối đều viết theo lối quán thủ (2 chữ đầu của 2 câu đối ghép lại thành tên Đình hoặc tên Thủ Thừa). Đặc biệt cặp liển ở bàn thờ ông Mai Tự Thừa đã nêu bật được công lao to lớn của ông và tấm lòng tri ân sâu sắc của nhân dân Thủ Thừa đối với ông. Chính vì lẽ đó mà ngày nay hàng loạt địa danh ở Long An được đặt là Thủ Thừa như kinh Thủ Thừa (kinh Trà Cú), chợ Thủ Thừa, quận Thủ Thừa (có từ năm 1922). Trên mảnh đất ngày xưa ông Mai Tự Thừa đã quy dân, lập chợ, lập làng, vét kinh, đắp lộ, ngày nay là một thị trấn dân cư đông đúc, kinh tế thịnh vượng, đình Vĩnh Phong vẫn còn đó như nhắc nhở cho chúng ta về một thời đã qua. Đến với đình Vĩnh Phong, chúng ta được chiêm ngưỡng nghệ thuật chạm trổ tài hoa của những nghệ nhân thời trước, hiểu thêm về những đóng góp lớn lao của ông Mai Tự Thừa trong quá trình khai phá đất đai của cha ông chúng ta. Với ý nghĩa ấy, đình Vĩnh Phong đã được Bộ Văn Hóa Thông Tinh ra quyết định xếp hạng là di tích Quốc gia vào ngày 31/8/1998. Nguồn Cổng thông tin điện tử tỉnh Long An
Tây Ninh
4065 lượt xem
Xếp hạng : Di tích cấp quốc gia.
Khu di tích lịch sử (KDTLS) Quốc gia Khu vực đồn Long Khốt là nơi lưu dấu những cống hiến, hy sinh to lớn của cán bộ, chiến sĩ (CBCS) Sư đoàn 5; các đơn vị phối hợp trong giai đoạn 1972-1975 và chiến công 43 ngày đêm của Bộ đội Biên phòng Long An trong bảo vệ biên giới Tây Nam năm 1978. Hiện Khu di tích được đầu tư nâng cấp, một ngày không xa, nơi đây sẽ là điểm đến giáo dục truyền thống cho thế hệ trẻ. Long Khốt là địa danh thuộc xã Thái Bình Trung, huyện Vĩnh Hưng, giáp biên giới Việt Nam - Campuchia. Trong 2 cuộc kháng chiến giải phóng dân tộc và bảo vệ Tổ quốc, Long Khốt là trọng điểm tranh chấp quyết liệt giữa ta và địch. Từ tháng 6/1972 đến ngày 30/4/1975, Sư đoàn 5 đã phối hợp lực lượng địa phương Kiến Tường liên tục tấn công địch với nhiều trận đánh ác liệt, chịu nhiều mất mát, hy sinh để giải phóng bằng được tuyến ngăn chặn địch ở Đồng Tháp Mười. Trong đó, tiêu biểu là 2 trận tấn công quy mô vào Chi khu Long Khốt (tháng 6/1972 và 4/1974) làm cho địch thiệt hại nặng. Riêng trận đánh vào chi khu năm 1974 thắng lợi, giải phóng hoàn toàn chi khu, khai thông tuyến hành lang biên giới. Hàng trăm Cán Bộ Chiến Sĩ của Trung đoàn 174, Sư đoàn 5 và các đơn vị phối hợp đã nằm lại nơi đây. Kháng chiến chống Mỹ kết thúc, mảnh đất vùng biên này chưa hưởng trọn vẹn niềm vui thống nhất thì cuộc chiến tranh biên giới Tây Nam nổ ra. Cứ điểm Long Khốt (nay là Đồn Biên phòng Long Khốt) thêm một lần nữa là điểm giao tranh rất ác liệt. Bọn Pol Pot đã tập trung lực lượng để chiếm cho được Long Khốt làm bàn đạp tấn công sâu vào hậu phương của ta. Cán bộ, chiến sĩ đồn Long Khốt kiên trì bám trụ, khắc phục khó khăn, phối hợp các lực lượng vũ trang địa phương chiến đấu ngoan cường, dũng cảm, ngăn chặn các mũi tiến công của địch, giữ vững từng tấc đất thiêng liêng của Tổ quốc, bảo vệ tính mạng, tài sản của nhân dân. Trải qua 43 ngày đêm, từ 14/01 đến 27/02/1978, đồn Long Khốt đã đánh lùi 21 đợt tiến công của địch, chiến đấu 28 trận, tiêu diệt 55 tên địch và làm hàng chục tên khác bị thương. Trong đợt chiến đấu ngoan cường này, với lực lượng mỏng, quân ta đã hy sinh 26 người (10 Cán Bộ Chiến Sĩ của đồn, 16 đồng chí đơn vị bạn) và 20 người bị thương. Cuộc chiến đấu anh dũng và sự hy sinh cao cả của các anh hùng liệt sĩ góp phần quan trọng vào thắng lợi chung của sự nghiệp giải phóng dân tộc và bảo vệ Tổ quốc. Với những thành tích vẻ vang đó, ngày 20/12/1979, Đồn Biên phòng Long Khốt vinh dự được Đảng, Nhà nước tuyên dương danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân. Trong quá trình sưu tầm, thống kê (chưa đầy đủ), giai đoạn 1972-1975, Sư đoàn 5 có 1.110 Cán Bộ Chiến Sĩ hy sinh trên chiến trường Long Khốt; trong đó, Trung đoàn 174 có gần 800 cán bộ chiến sĩ . Ngày 19/5 hàng năm, tại di tích Đồn Long Khốt đều duy trì Lễ tri ân anh hùng liệt sĩ hòa quyện cùng lễ Giỗ hội dân gian (hay giỗ liệt sĩ) thành một lễ hội văn hóa – tâm linh truyền thống tốt đẹp của địa phương. Là nơi hội tụ quan trọng trong việc gắn kết cộng đồng, gìn giữ truyền thống văn hóa, đáp ứng nhu cầu sinh hoạt tâm linh của thân nhân liệt sĩ và đông đảo nhân dân gần, xa. Di tích lịch sử Khu vực Đồn Long Khốt chứa đựng những giá trị lịch sử, an ninh quốc phòng, văn hóa và nhân văn sâu sắc. Với những giá trị đó, di tích đã được Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch ban hành Quyết định số 1792/Quyết Định -Bộ Văn Hóa Thể Thao Du Lịch, xếp hạng Khu vực đồn Long Khốt là Di tích cấp quốc gia. Đây là cơ sở quan trọng xác định những cống hiến, hy sinh to lớn của Sư đoàn bộ binh 5, quân và dân Long An trong chiến đấu chống ngoại xâm, bảo vệ Tổ quốc, là điều kiện thuận lợi để quy hoạch xây dựng Di tích trở thành công trình lịch sử, văn hóa, quốc phòng xứng tầm với những giá trị quý báu, đồng thời là nơi tôn kính, trang nghiêm cho các thế hệ con cháu hôm nay và mai sau đến dâng nén hương tưởng nhớ, tri ân các anh hùng liệt sĩ. Nguồn Cổng thông tin điện tử tỉnh Long An.
Tây Ninh
4090 lượt xem
Xếp hạng : Di tích cấp quốc gia.
Khu lưu niệm (KLN) Luật sư Nguyễn Hữu Thọ được xếp hạng Di tích văn hóa - lịch sử cấp Quốc gia vào năm 2015. Từ đó đến nay, khu di tích trở thành địa chỉ đỏ giáo dục truyền thống, đặc biệt là cho thế hệ trẻ trong và ngoài tỉnh. Cuộc đời và sự nghiệp của cố luật sư Nguyễn Hữu Thọ là tấm gương sáng về lòng yêu nước, giúp thế hệ hôm nay và mai sau có động lực nuôi dưỡng niềm tin, hoài bão. Khu lưu niệm Luật sư Nguyễn Hữu Thọ tại thị trấn Bến Lức, huyện Bến Lức, tỉnh Long An có diện tích 10.000m2, gồm các hạng mục như đền tưởng niệm, khối phòng họp - khu trưng bày - thư viện, khu công viên cây xanh, thảm cỏ, nơi trồng cây lưu niệm và các hạng mục phụ trợ khác. Luật sư Nguyễn Hữu Thọ là người con ưu tú của Long An. Ông sinh ngày 10/7/1910 tại làng Long Phú, tổng Long Hưng Hạ, quận Trung Quận, tỉnh Chợ Lớn (nay thuộc thị trấn Bến Lức, huyện Bến Lức, tỉnh Long An). Ông tham gia cách mạng năm 1947, nhiều lần bị địch bắt, tù đày nhưng điều đó không ngăn được ông đi theo con đường giải phóng dân tộc. Sau khi đất nước thống nhất, ông có nhiều đóng góp to lớn cho nước nhà, được bầu giữ nhiều chức vụ quan trọng: Phó Chủ tịch nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam; quyền Chủ tịch nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam; Chủ tịch Quốc hội, Phó Chủ tịch Hội đồng Nhà nước; Chủ tịch Đoàn Chủ tịch Ủy ban Trung ương Mật Trận Tổ Quốc Việt Nam. Ông được Nhà nước tặng thưởng Huân chương Sao vàng và nhiều huân, huy chương cao quý khác cả trong và ngoài nước. Phòng trưng bày cuộc đời, sự nghiệp luật sư Nguyễn Hữu Thọ có đầy đủ thông tin, hình ảnh và hiện vật về luật sư Nguyễn Hữu Thọ và được chia thành từng giai đoạn khác nhau. Đặc biệt, phòng trưng bày có một số hiện vật quý, gắn bó với luật sư lúc sinh thời do gia đình hiến tặng như bộ quần áo, cây gậy của luật sư, chiếc radio mà luật sư hay mang theo bên mình để nghe tin tức,... Tất cả tái hiện một cách rõ nét về quá trình lớn lên, học tập và tham gia cách mạng của người con ưu tú đất Long An và để lại ấn tượng mạnh mẽ trong lòng người viếng thăm, tìm hiểu về luật sư Nguyễn Hữu Thọ. Đền tưởng niệm là nơi thể hiện lòng tôn kính, tưởng nhớ đến cố Luật sư Nguyễn Hữu Thọ, nguyên quyền Chủ tịch nước, Chủ tịch Quốc hội nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam. Không gian đền tưởng niệm được thiết kế mang đậm bản sắc văn hóa phương Nam, toát lên sự tôn nghiêm với những màu thâm trầm làm chủ đạo như nâu, vàng kem, màu gỗ và màu của những bức sơn mài, hoành phi câu đối được sơn son thiếp vàng. Tượng Luật sư Nguyễn Hữu Thọ với chất liệu đồng được đặt trang trọng ở vị trí trung tâm trong đền cùng với hai bàn thờ được chạm trổ công phu. Bên trong đền trang trí nhiều hình tượng rồng theo đúng truyền thống văn hoá, tâm linh người Việt. Trong khuôn viên Khu lưu niệm còn có Phòng trưng bày thân thế và sự nghiệp của Luật sư Nguyễn Hữu Thọ. Với những hiện vật, hình ảnh tư liệu, bản đồ, tranh, mô hình, biểu bảng… phòng trưng bày giới thiệu về quê hương, đất nước con người và phần thân thế sự nghiệp của Luật sư Nguyễn Hữu Thọ. Bên cạnh đó, các hiện vật tiêu biểu gắn liền với Luật sư Nguyễn Hữu Thọ cũng được trưng bày. Nguồn Cổng thông tin điện tử tỉnh Long An.
Tây Ninh
3992 lượt xem
Xếp hạng : Di tích cấp quốc gia.
Bình Thành là một vùng đất trũng thấp có nhiều bưng trấp xen lẫn với những giồng đất cao tạo nên một địa hình khá phức tạp thuộc huyện Đức Huệ, tỉnh Long An. Khu vực này nằm ở vị trí tiếp giáp giữa miền Đông và miền Tây Nam Bộ, gần với Sài Gòn và dựa lưng vào nước bạn Campuchia. Với những điều kiện ấy, Bình Thành đã trở thành một căn cứ bưng biền độc đáo trong 2 cuộc kháng chiến chống Thực dân Pháp và Đế quốc Mỹ. Từ sau khởi nghĩa Nam Kỳ (23/11/1940), đã có hơn 100 nghĩa quân Tân An-Chợ Lớn dưới sự lãnh đạo của các đồng chí Lưu Dự Châu, Lê Văn Tưởng đến khu vực Bình Thành lập nên căn cứ Mớp Xanh. Căn cứ này chỉ tồn tại được 8 tháng thì có lệnh giải tán của Xứ ủy, vì không có điều kiện khởi nghĩa lần 2. Tuy nhiên căn cứ Mớp Xanh đã tạo tiền đề cho sự hình thành và phát triển của căn cứ Tỉnh ủy sau này. Trong kháng chiến chống Pháp, khu vực Bình Thành là căn cứ của Tỉnh ủy Chợ Lớn và Khu 7 với tên gọi “Quân khu Đông Thành”. Các cơ quan cấp Nam Bộ như văn phòng Bộ Tư lệnh Nam Bộ, các sở trực thuộc Ủy ban kháng chiến hành chánh Nam Bộ cũng có thời gian đóng quân ở Quân khu Đông Thành. Sau hiệp định Giơnevơ 1954, chính quyền Ngô Đình Diệm đã thẳng tay đàn áp các lực lượng cách mạng. Để bảo toàn lực lượng, một số cán bộ, đảng viên của hai tỉnh Tân An- Chợ Lớn đã rút lên Bình Thành. Trong điều kiện Trung ương chưa cho phép đấu tranh vũ trang, những chiến sĩ cách mạng đóng tại Bình Thành đã lợi dụng danh nghĩa quân giáo phái để thành lập nên Bộ tư lệnh Trung Nam Bộ- lực lượng vũ trang đầu tiên của Khu 8 và Nam Bộ sau 1954. Tháng 7/1957, Xứ ủy thành lập tỉnh Long An trên cơ sở sát nhập 2 tỉnh Tân An và Chợ Lớn. Với kinh nghiệm từ cuộc kháng chiến chống Pháp, Tỉnh ủy Long An đã chọn Bình Thành làm căn cứ địa để lãnh đạo nhân dân kháng chiến chống Mỹ. Trong từng thời kỳ với những điều kiện khó khăn và thuận lợi khác nhau, Tỉnh ủy Long An đã linh hoạt, cơ động trong khu vực Bình Thành, có lúc phải tạm lánh sang Ba Thu, có lúc phát triển về Đức Hòa, Bến Lức và vùng hạ. Tuy nhiên nơi mà Tỉnh ủy Long An và các cơ quan trực thuộc đứng chân hoạt động lâu nhất chính là Giồng Ông Bạn thuộc khu vực Bình Thành trong thời gian mở đầu và kết thúc cuộc kháng chiến chống Mỹ(1960-1961)-(1973-1975). Từ căn cứ Bình Thành, Tỉnh ủy đã kịp thời chỉ đạo, đề ra những chủ trương, nghị quyết, lãnh đạo phong trào cách mạng ở tỉnh nhà cho đến ngày thắng lợi hoàn toàn. Với một diện tích không rộng, địa hình tuy có hiểm trở nhưng không thể hoàn toàn dựa vào đó để tồn tại và chống lại những phương tiện chiến tranh hiện đại của địch nhưng căn cứ Bình Thành vẫn kiên gan thách thức với kẻ thù. Đó là nhờ tấm lòng thương yêu đùm bọc của nhân dân, sự linh động, sáng tạo của Tỉnh ủy. Có thể nói căn cứ Bình Thành là căn cứ của lòng dân. Với tinh thần uống nước nhớ nguồn, năm 1996 Tỉnh ủy và các đồng chí lãnh đạo tỉnh Long An các thời kỳ đã về lại Bình Thành, xác định những điểm mà Tỉnh ủy từng hoạt động năm xưa. Ban quản lý dự án xây dựng khu di tích lịch sử cách mạng cũng được thành lập với nhiệm vụ phục hồi tôn tạo lại di tích lịch sử căn cứ Bình Thành với quy mô ban đầu là 93 ha tại xã Bình Hòa Hưng-Đức Huệ. Năm 1998, Bộ Văn Hóa Thông Tin đã ra quyết định xếp hạng Căn cứ Bình Thành là di tích lịch sử cấp quốc gia. Một dự án xây dựng các công trình tưởng niệm như đền thờ, bia, đài...và tái tạo các di tích gốc được vạch ra và từng bước thực hiện để trong tương lai khách tham quan có thể phần nào hiểu được hoàn cảnh sống, chiến đấu của cán bộ, chiến sĩ và nhân dân ta thời kỳ kháng chiến. Nguồn Cổng thông tin điện tử tỉnh Long An.
Tây Ninh
4037 lượt xem
Xếp hạng : Di tích cấp quốc gia.
Cụm nhà cổ Thanh Phú Long được xây dựng vào cuối thế kỷ XIX - đầu thế kỷ XX bởi dòng họ Nguyễn, tầng lớp thượng lưu giàu có tại vùng đất này. Với biệt danh "Xóm Nhà Giàu", các ngôi nhà ở đây không chỉ gây ấn tượng bởi quy mô đồ sộ mà còn bởi vẻ đẹp tinh xảo trong từng chi tiết kiến trúc. Cụm di tích bao gồm ba ngôi nhà lớn, mỗi ngôi nhà rộng 528m², nằm trên khu đất rộng 15.000m². Kiến trúc nhà rội (nhà trước) và nhà xuyên trính (nhà sau) mang đậm phong cách miền Trung, được thiết kế theo hình chữ Khẩu, kết hợp khéo léo với các yếu tố phương Tây tại phần mặt tiền. Điểm nổi bật của cụm nhà cổ này là nghệ thuật chạm khắc gỗ vô cùng tinh tế và phong phú. Các hoa văn được khắc họa sinh động với các đề tài truyền thống như "Tứ linh", "Bát bửu", hay các hình ảnh gần gũi với đời sống Nam Bộ như "chim ăn xoài", "cua cốm", "sen le". Nhiều hiện vật quý hiếm như tủ thờ cẩn ốc xà cừ, bộ lư đồng, hoành phi sơn son thếp vàng và đồ gốm cổ từ thế kỷ XIX vẫn được lưu giữ nguyên vẹn, phản ánh sự phồn thịnh của tầng lớp thượng lưu thời kỳ đó. Về nghệ thuật trang trí khá phong phú và đa dạng trong cách thể hiện. Ngoài các đề tài truyền thống, cảnh vật thiên nhiên Nam Bộ được các nghệ nhân đưa vào tác phẩm một cách hài hòa, sáng tạo. Về kỹ thuật chạm khắc gỗ trên các công trình kiến trúc, đã thể hiện bề dạy kinh nghiệm, tài năng của các nghệ nhân; sự phối hợp đa dạng, nhuần nhị các kỹ thuật với thủ pháp điêu luyện, chắc tay. Những công trình kiến trúc gỗ, những tác phẩm nghệ thuật của Cụm Nhà cổ Thanh Phú Long cho thấy một trình độ bậc thầy của những người thợ mộc miền Trung, của những thợ chạm gỗ Nam Bộ trong xử lý kết cấu kiến trúc, xử lý kỹ thuật, bố cục đề tài, trang trí đa dạng, hấp dẫn. Với những giá trị nêu trên, năm 2007, cụm nhà cổ đã được Bộ Văn hóa - Thông tin xếp hạng di tích quốc gia. Nguồn Trang thông tin điện tử xã Thanh Phú Long, huyện Châu Thành, tỉnh Long An.
Tây Ninh
4173 lượt xem
Xếp hạng : Đang cập nhật
Chùa Ngọc Hoàng là tên thường gọi của Điện Ngọc Hoàng, tên chữ là Phước Hải Tự (người Pháp thì gọi là chùa Đa Kao); hiện tọa lạc tại số 73 đường Mai Thị Lựu, phường Đa Kao, quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh. Ngôi chùa vốn là điện thờ Ngọc Hoàng Thượng đế do một người tên Lưu Minh (pháp danh là Lưu Đạo Nguyên, người Quảng Đông, Trung Quốc) xây dựng vào khoảng đầu thế kỷ 20. Năm 1982, Hòa thượng Thích Vĩnh Khương đến tiếp quản điện thờ. Kể từ đó điện thờ này thuộc về Giáo hội Phật giáo Việt Nam. Đến năm 1984, thì điện Ngọc Hoàng được đổi tên là "Phước Hải Tự". Chùa Ngọc Hoàng là một ngôi chùa cổ, làm theo kiểu đền chùa Trung Hoa với mô típ trang trí rực rỡ. Chùa xây gạch, mái lợp ngói âm dương, trang trí bờ nóc, góc mái bằng nhiều tượng gốm màu. Trong chùa có nhiều tác phẩm nghệ thuật: tranh thờ, tượng thờ, bao lam, liễn đối, hương án... bằng các chất liệu: gỗ, gốm, giấy bồi. Khuôn viên chùa rộng khoảng 2.300 m2. Phía trước có ngôi miếu nhỏ đặt tượng Hộ pháp. Cổng tam quan nổi bật với những đường nét uốn lượn hình sóng nước của hai con rồng theo tư thế "tranh châu". Chính điện thờ Ngọc Hoàng Thượng đế, Huyền Thiên Bắc Đế với các thiên binh, thiên tướng. Có phối thờ Quan Thế Âm Bồ Tát, Đại Thế Chí Bồ Tát và một số thần linh quen thuộc trong tín ngưỡng của người Hoa như: thần Thiên Lôi, thần Môn Quan (thần giữ cửa), thần Thổ Địa (thần đất đai), thần Táo Quân (thần lò bếp), thần Hà Bá (thần sông nước), Văn Xương và thần Lã Động Tân (thần văn chương), Thái Tuế (sao giải hạn), Lỗ Ban (thầy dạy nghề), Nữ Oa Thánh Mẫu, 12 bà mụ, 13 đức thầy...Ngoài ra, chùa còn thờ thần Thành hoàng...Nhìn chung, các pho tượng thờ trong điện thờ đều là những tác phẩm điêu khắc gỗ đẹp. Hàng ngày khách trong và ngoài nước đến chiêm bái chùa rất đông. Lễ hội lớn nhất là Vía Ngọc Hoàng diễn ra ngày 9 tháng Giêng (âm lịch) hàng năm, tương truyền là ngày sinh của Ngọc Hoàng Thượng đế. Ngày 15 tháng 10 năm 1994, chùa Ngọc Hoàng được công nhận là một di tích kiến trúc nghệ thuật cấp quốc gia. Nguồn Cổng thông tin điện tử quận 1, thành phố Hồ Chí Minh.
TP Hồ Chí Minh
3833 lượt xem
Xếp hạng : Di tích cấp quốc gia.
Chùa Sắc từ Trường Thọ là ngôi chùa cổ thuộc dòng Lâm Tế, được kiến tạo vào năm 1720 với tên gọi Chùa Vĩnh Trường tọa lạc thôn Hòa Mỹ thuộc Tổng Bình Trị - Huyện Bình Dương – Phủ Tân Bình – Thành Gia Định. Trải qua bao năm tháng thăng trầm của lịch sử vẫn trường tồn cùng đất nước, ngôi cổ tự Vĩnh Trường khẳng định vị trí của mình trên đất Gia Định với 2 lần Sắc phong: Năm Canh Tuất (1802), Vua Gia Long Sắc phong “Sắc tứ Pháp Vũ tự”; Năm Canh Ngọ (1870), Vua Tự Đức Sắc phong “Sắc tứ Trường Thọ”. Năm 2000, Chùa được Bộ văn hóa thông tin (nay là Bộ Văn hóa – Thể thao và Du lịch ban hành Quyết định công nhận Di tích kiến trúc nghệ thuật cấp Quốc gia. Chùa đã trải qua 7 đời Chư vị Tổ sư tiền bối. Hiện nay, Đại đức Thích Huệ Quang đương nhiệm trụ trì (chính thức được bổ nhiệm từ năm 2013), luôn tích cực cùng chư tăng và bổn tự tham gia các hoạt động Phật sự của Giáo hội Phật giáo Việt Nam, tiếp tăng độ chúng và thường xuyên vận động tổ chức các hoạt động thiện nguyện, sống tốt đời đẹp đạo, cùng góp sức xây dựng địa phương an lạc, phồn vinh. Nguồn Cổng thông tin điện tử quận Gò Vấp, thành phố Hồ Chí Minh.
TP Hồ Chí Minh
3832 lượt xem
Xếp hạng : Di tích cấp quốc gia.
Đình thần Thông Tây Hội (phường 11, quận Gò Vấp, Tp. Hồ Chí Minh) từ lâu đã nổi tiếng là ngôi đình lâu đời nhất không chỉ ở Sài thành mà cả vùng đất phương Nam. Đình Thông Tây Hội được xây dựng khoảng năm 1698, đến nay có tuổi đời hơn 300 năm. Đình thờ Thành Hoàng theo tục thờ thần của người Việt Nam. Vị thần chính được thờ trong đình là Đông Chinh Vương và Dực Thánh Vương là Hoàng tử con vua Lý Thái Tổ. Đình Thông Tây Hội, trước năm 1944 có tên đình làng Hạnh Thông Tây là một ngôi đình cổ ở quận Gò Vấp. Đình được xây dựng vào khoảng năm 1679, ngày nay được biết tới như là ngôi đình cổ nhất của vùng đất Gia Định xưa và của cả miền đất phương Nam còn tồn tại. Đình Thông Tây Hội là ngôi đình có cấu trúc thuộc dạng đình cổ ở miền Nam thế kỷ 19. Đình hiện vẫn gìn giữ được gần như nguyên vẹn cấu trúc và vật liệu xây dựng của ngôi đình cổ. Toàn bộ khu đình tọa lạc trên một khu đất rộng 5.188m2. Do bị dân lấn chiếm một phần đất để ở nên hiện nay chỉ còn khoảng 1.500m2. Đình quay về hướng Đông. Cổng đình xây theo kiểu tam quan. Sân Đình rộng, có một số cây cao khoảng 10m. Mặt bằng kiến trúc của đình tạo thành hai trục song song với nhau: một trục dài (trục chính) gồm võ ca, chánh điện; một trục ngắn (trục phụ) là nhà hội sở. Kiểu mặt bằng kiến trúc này rất phổ biến đối với công trình kiến trúc tôn giáo ở miền Nam thế kỷ thứ 18 - 19. Võ ca có kích thước: ngang 14m, sâu 17,5m, cao 4m là nơi xây chầu, hát bội gồm 7 nếp nhà và 52 cột gỗ, không có tường bao xung quanh. Chánh điện gồm: 2 nếp nhà ghép trùng nhau theo kiểu "trùng thiềm điệp ốc". Mái của hai nếp nhà cạnh sát nhau. Tất cả có 48 cột, chia thành 8 dãy cột, mỗi dãy có 6 cột. Bốn cột giữa cao nhất là 4,5m; có đường kính là 30 cm (thường được gọi là "tứ tượng") là nơi quan trọng nhất, linh thiêng nhất - nơi đặt bàn thờ các vị thần. Các chân cột ở chánh điện được có khắc hình lăng trụ thắt ở giữa. Trên nóc chánh điện có tượng lưỡng long tranh châu bằng gốm men xanh, quanh chánh điện có tường gạch. Nhà hội sở là văn phòng ban trị sự, nơi tiếp khách và chuẩn bị tế lễ, có kích thước ngang 12m, dài 19m, cao 4,2m; có 56 cột, chân cột kê đá xanh, có 3 nếp nhà "trùng thiềm điệp ốc"; có vách ván ngăn phòng làm việc với nhà kho. Toàn bộ ngôi đình lợp ngói âm dương, bộ vì kèo chịu lực bằng gỗ, nền lót gạch tàu (30 cm x 30 cm). Trang trí của đình Thông Tây Hội, phần đặc sắc nhất tập trung tại chánh điện. Ở đây các đầu kèo, trính đều được chạm khắc đầu rồng và cành mai. Có 3 bao lam: bao lam ở giữa chạm theo đề tài lân - ly - quy - phụng, hai bao lam hai bên chạm theo đề tài mẫu đơn - trĩ. Tác phẩm chạm khắc đặc sắc nhất là trang thờ thần, được chạm khắc tinh xảo theo đề tài lưỡng long triều nguyệt và lân - ly - quy - phụng. Ngoài ra còn có hai trang thờ tả ban, bức hoành "chung linh lưu tú", hai cặp câu đối bằng thân cây dừa ở chánh điện đều là những tác phẩm nghệ thuật có giá trị. Trong di tích đình Thông Tây Hội còn giữ 37 hiện vật quý. Các hiện vật là tác phẩm chạm khắc nghệ thuật như bao lam, hoành phi, câu đối, trang thờ đều giữ được đường nét, màu sắc sơn son thếp vàng của hiện vật cổ, không bị phết lên những lớp son mới như một số ngôi đình khác thường làm. Với giá trị kiến trúc nghệ thuật, lịch sử, xã hội, đình được Bộ Văn hóa Thông tin công nhận là di tích kiến trúc nghệ thuật văn hóa lịch sử cấp quốc gia năm 1998. Nguồn Cổng thông tin điện tử quận Gò Vấp, thành phố Hồ Chí Minh.
TP Hồ Chí Minh
4197 lượt xem
Xếp hạng : Di tích cấp quốc gia.
Tả quân Lê Văn Duyệt sinh ngày 6 tháng 9 năm Giáp Thân (1764), tại thôn Long Hưng, Tổng Kiến Hưng, Định Tường. Tả quân Lê Văn Duyệt quê gốc tại làng Bồ Đề, huyện Chương Nghĩa, tỉnh Quảng Ngãi. Đến đời ông nội là Lê Văn Hiếu vào Nam sinh sống tại làng Hòa Khánh, tỉnh Định Tường. Năm 1765, cha là Lê Văn Toại đưa gia đình đến sống tại Rạch Gầm, tổng Long Hưng, Mỹ Tho (nay là xã Long Hưng, huyện Châu Thành, tỉnh Tiền Giang). Thuở nhỏ Ông sống cùng cha mẹ, phụ giúp việc nông gia, lúc rảnh rỗi thì tập luyện võ với bạn bè. Ông có tư chất thông minh, lanh lẹ, có sức khỏe hơn người, thích võ nghệ hơn văn chương; rất thích chơi chọi gà và xem hát bội. Năm 15 tuổi, Lê Văn Duyệt đã sớm bộc lộ ý chí “Sinh ở đời loạn, không hay dụng cờ trống Đại Tướng, chép công danh vào sách sử không phải là trượng phu”. Trong cuộc đời làm quan Ông rất mực thanh liêm, cương trực, thưởng, phạt nghiêm minh, lấy đức an dân, lấy dân làm gốc, có ý thức kết hợp kinh tế với quốc phòng, mở rộng giao thông thương mại làm cho nền kinh tế cả miền thịnh vượng, đoàn kết các dân tộc và tôn giáo, tận tình giúp đỡ lương dân khi gặp hoạn nạn nên nhân dân và các nước lân bang rất kính nể. Có công lao lớn trong việc khai phá, mở rộng và phát triển vùng đất Nam bộ. Năm Canh Tý (1780), theo phò Chúa Nguyễn Ánh được tuyển vào làm Thái giám Nội đình, sau đó được phong làm Thuộc Nội Vệ Úy, Ông 2 lần hộ giá Chúa Nguyễn chạy nạn ra Phú Quốc và sang Xiêm. Năm Canh Thân và Tân Dậu (1800 – 1801): Ông lập được nhiều chiến công, đặc biệt là thu phục thành Qui Nhơn (Bình Định) và thắng lớn ở cửa Bể Đầm Thị Nại. Năm 1802, Ông được phong tước Quận Công (hàng chánh nhất phẩm), chức Khâm Sai Chưởng Tả Dinh Bình Tây Đại Tướng Quân. Ông hai lần làm Tổng trấn thành Gia Định (các giai đoạn 1812 - 1816 và 1820 - 1832), Tả quân Lê Văn Duyệt đã có công lớn giúp an định và phát triển vùng đất phương Nam, đặc biệt để lại dấu ấn đậm nét trong lòng người dân Nam bộ, được truyền đời đến nay, là những cải cách khai mở, phát triển kinh tế, chăm lo đời sống người dân và bài trừ tham nhũng. Sau khi ông mất, người dân trong vùng đã lập lăng miếu thờ, nay gọi là Lăng Lê Văn Duyệt hay còn gọi là Lăng Ông Bà Chiểu. Hằng năm ngày 30/7 đến ngày 1/8 âm lịch là Lễ giỗ Đức thượng công Tả quân Lê Văn Duyệt nhằm ghi nhớ công lao vị quan thanh liêm đã chăm lo tốt đời sống nhân dân. Lăng Ông rộng 18.501 m² trên một gò đất cao, nằm giữa bốn con đường: Lê Văn Duyệt, Phan Đăng Lưu, Trịnh Hoài Đức và Vũ Tùng. Chung quanh khu lăng có bức tường bao bọc dài 500m, cao 1,2 m được trổ bốn cổng ra vào theo bốn hướng, được xây dựng vào năm 1948. Năm sau, cổng Tam quan cũng được xây. Cổng có hàng đại tự nổi bằng chữ Hán Thượng Công Miếu, được đặt ở hướng Nam, mở ra đường Vũ Tùng. Trước năm 1975, cổng này đã từng được chọn là biểu tượng của vùng Sài Gòn-Gia Định xưa. Khu lăng được xây dựng trên một trục đường chính. Từ cổng Tam quan ở phía nam vào qua một khu vườn cảnh là: Nhà bia nơi đặt bia đá ghi công đức Tả quân Mộ Tả quân và vợ, có bình phong và tường hoa bao quanh Miếu thờ Với những giá trị đó , ngày 6 tháng 12 năm 1989, toàn bộ khu lăng được Bộ Văn hóa công nhận là di tích Lịch sử Văn hóa cấp quốc gia. Nguồn Cổng thông tin điện tử quận Bình Thạnh, thành phố Hồ Chí Minh.
TP Hồ Chí Minh
4388 lượt xem
Xếp hạng : Di tích cấp quốc gia.
Địa đạo Phú Thọ Hòa là địa đạo đầu tiên ở phía Tây Sài Gòn (xây dựng vào năm 1947, trước Địa đạo Củ Chi), được đào trong những năm kháng chiến chống Pháp và được duy trì cho đến hơn mười năm đánh Mỹ, nằm lọt giữa nhiều đồn bốt dày đặc của kẻ thù, nhưng là vùng đất quân sự có nhiều chiến lũy phòng thủ chống quân xâm lược (Lũy Ông Dầm, Lũy Bán Bích, Lũy Chí Hòa,…), nơi có nhiều phong trào yêu nước (“Thiên địa hội”, “Hội kín Nguyễn An Ninh”,….) đã góp phần vào những chiến công vang dội trong suốt chặng đường kháng chiến chống giặc ngoại xâm của quân và dân ta như là chặn đánh địch suốt 6 ngày đêm tại cầu Tham Lương (tháng 10/1945), trận chống càn ở Gò Đậu - Bình Long (năm 1948), trận đánh kho bom Bảy Hiền (ngày 29/3/1948), nhiều lần đánh vào sân bay Tân Sơn Nhất (tháng 12/1949), tấn công vào kho bom Phú Thọ (năm 1952 và 1954), làm tiêu hao nhiều lực lượng của địch ở trận tiêu diệt đồn Phú Thọ Hoà, đồn Phạm Văn Tụng (đêm 31/5 rạng sáng ngày 01/6/1954),... hỗ trợ cho chiến trường Điện Biên Phủ, gây được tiếng vang trong nước và trên thế giới. Ngày nay, Địa đạo Phú Thọ Hòa là Khu di tích lịch sử để Nhân dân và bạn bè quốc tế đến tham quan, tìm hiểu, khám phá, học, nghiên cứu lịch sử kháng chiến chống giặc và là một trong những điểm đến du lịch nổi bật của quận Tân Phú. Địa chỉ số 139 đường Phú Thọ Hòa, phường Phú Thọ Hòa, quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh. Địa đạo Phú Thọ Hòa đầu tiên chỉ là những chiếc hầm ếch (chỉ vừa một người chui, loại hầm ngõ cụt khó thoát), sau dần cải tiến thành đường hầm xe lửa 2 ngăn và tiếp tục phát triển thành hệ thống địa đạo liên xã kéo dài trên 10 cây số. Địa đạo có 2 tầng được đào sâu dưới lòng đất những 3 đến 4 mét; có 3 hầm đào rộng ra, để có thể ngồi đến 7 người hoặc chứa lương thực, vũ khí; lòng địa đạo cao 1 mét, rộng 0,6 đến 0,8 mét, dài gần 700 mét, hai bên có nhiều ngách đi sang nhiều hướng khác nhau. Gọi hầm xe lửa vì cứ khoảng 20 mét thì có 1 vách ngăn, ở giữa có khoét 1 lỗ đường kính 0,5 mét, vừa một người chui qua (hình thức này tương tự như từng toa xe lửa) và cứ thế nối tiếp nhau đi từ ấp này sang ấp khác, cách bố trí vách ngăn này để phòng ngừa khi địch phát hiện hầm địa đạo thì ta chui qua hầm kế tiếp rồi bít cửa lại, ngụy trang cẩn thận để địch tưởng đây là đường cùng, hết lối. Cách thức đào hầm từ 2 điểm ở đầu, hai tổ đào thẳng về điểm trung tâm. Điều đặc biệt thú vị là từ 2 đầu làm sao mà định hướng cho đúng để đào cho đúng đến điểm trung tâm mà cái thời không hề có công nghệ định hướng hỗ trợ. Đây là câu trả lời về cách vô cùng sáng tạo của cha ông ta để định hướng chính xác như sau: người ngồi sau cầm đèn để ở một khoảng cách nhất định mà rọi bóng người ngồi trước lên vách. Người ngồi trước cầm cuốc, cuốc vào cái bóng của mình, bao giờ bóng ngay thẳng tròn trịa là lòng hầm đúng ni tấc và phương hướng. Ngoài ra, cũng còn phối hợp kiểm tra trên bề mặt đất, người ở trên áp tai vào mặt đất, người ở dưới vỗ mạnh vào trần hầm sao cho trên dưới đều nghe rõ ám hiệu là được. Địa đạo Phú Thọ Hòa nằm trọn vẹn trong đất của dân, đã được phục chế, tôn tạo, đã được Bộ Văn hóa - Thông tin cấp bằng công nhận là “Di tích lịch sử - văn hóa cấp quốc gia” tại Quyết định số 1460-Quyết Định /Văn Hóa ngày 28/6/1996 và được xây dựng, chỉnh trang, nâng cấp khang trang, sạch đẹp như lời Đồng chí Nguyễn Văn Linh, Cố Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam (khi còn là Bí thư Thành ủy Hồ Chí Minh) đã chỉ đạo khôi phục lại khu di tích này, để giáo dục cho thế hệ trẻ: “Làm lại tất cả các di tích này cốt không chỉ để ca ngợi những cái đã qua, mà chính là để truyền lại tinh thần đoàn kết yêu nước, tinh thần chiến đấu anh dũng cho thế hệ thanh niên ở thành phố chúng ta, đất nước chúng ta. Nguồn Trang thông tin điện tử quận Tân Phú , thành phố Hồ Chí Minh.
TP Hồ Chí Minh
4163 lượt xem
Xếp hạng : Di tích cấp quốc gia.