Danh sách điểm di tích (97)
Di tích cách mạng nhà số 5D Hàm Long
Di tích cách mạng nhà số 5D Hàm Long tọa lạc tại phường Phan Chu Trinh, quận Hoàn Kiếm, thành phố Hà Nội. Đây là địa điểm ghi dấu sự kiện thành lập Chi bộ Cộng sản đầu tiên ở Việt Nam vào cuối tháng 3 năm 1929, một mốc son quan trọng trong lịch sử cách mạng nước ta, mở đường cho sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam. Theo Bảo tàng Lịch sử Quốc gia, từ cuối năm 1928, phong trào đấu tranh của giai cấp công nhân và xu hướng cộng sản ở Việt Nam phát triển mạnh mẽ. Trước yêu cầu của thực tiễn cách mạng, những hội viên tiên tiến của Hội Việt Nam Thanh niên Cách mạng Đồng chí hội đã bí mật họp tại nhà số 5D Hàm Long để thành lập Chi bộ Cộng sản đầu tiên. Cuộc họp diễn ra vào một đêm cuối tháng 3 năm 1929 với sự tham gia của các đồng chí Ngô Gia Tự, Nguyễn Đức Cảnh, Trần Văn Cung, Trịnh Đình Cửu, Đỗ Ngọc Du, Dương Hạc Đính và Nguyễn Tuân. Đồng chí Nguyễn Phong Sắc do bận công tác đột xuất nên vắng mặt nhưng đã gửi ý kiến tán thành nghị quyết và được công nhận là thành viên chính thức của chi bộ. Đồng chí Trần Văn Cung (bí danh Quốc Anh) được bầu làm Bí thư Chi bộ. Tại cuộc họp, Chi bộ đã xác định những nhiệm vụ trọng tâm như xúc tiến thành lập Đảng Cộng sản, phát triển các tổ chức công hội, nông hội và đẩy mạnh truyền bá chủ nghĩa Mác – Lênin. Sự ra đời của Chi bộ Cộng sản đầu tiên tại 5D Hàm Long đã tạo tiền đề trực tiếp cho việc thành lập Đông Dương Cộng sản Đảng ngày 17/6/1929 và tiến tới thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam đầu năm 1930. Ngôi nhà số 5D Hàm Long vốn là một căn nhà một tầng trong dãy nhà 5A, 5B, 5C, 5D của một gia đình tư sản cho thuê. Nhà có diện tích khoảng 24m², phía sau có sân nhỏ, bếp và khu vệ sinh. Đặc biệt, căn nhà nằm sát một ngõ nhỏ thông ra phố Lê Văn Hưu, tạo điều kiện thuận lợi cho các cán bộ cách mạng bí mật rút lui khi cần thiết. Cuối năm 1928, Kỳ bộ Bắc Kỳ của Hội Việt Nam Thanh niên Cách mạng Đồng chí hội đã thuê căn nhà này làm cơ sở hoạt động bí mật và giao cho đồng chí Trần Văn Cung cùng vợ là Nguyễn Thị Liên trực tiếp quản lý. Trong ngôi nhà đơn sơ, bộ tràng kỷ, chiếc hòm hai đáy dùng để cất giấu tài liệu, chiếc đèn dầu cùng nhiều vật dụng sinh hoạt giản dị đã trở thành những chứng tích lịch sử gắn với quá trình chuẩn bị thành lập Đảng. Ngày 25/11/1959, ngôi nhà được khôi phục thành nhà lưu niệm, trưng bày nhiều tài liệu và hiện vật gắn với sự ra đời của Chi bộ Cộng sản đầu tiên. Năm 1964, di tích được công nhận là Di tích cách mạng Hà Nội. Đến năm 2000, công trình tiếp tục được tu bổ nhằm khôi phục diện mạo như thời điểm diễn ra cuộc họp lịch sử tháng 3 năm 1929. Ngày nay, di tích 5D Hàm Long do Bảo tàng Hà Nội quản lý, là địa chỉ đỏ có ý nghĩa đặc biệt trong giáo dục truyền thống cách mạng, góp phần giúp các thế hệ hôm nay hiểu rõ hơn về quá trình hình thành tổ chức cộng sản đầu tiên và sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam. Nguồn: Bảo tàng Lịch sử Quốc gia.
Hà Nội
124 lượt xem
Xếp hạng : Di tích cấp quốc gia
Đền thờ Chu Văn An
Đền thờ Chu Văn An tọa lạc bên dòng sông Tô Lịch, thuộc xã Thanh Liệt, huyện Thanh Trì, thành phố Hà Nội. Đây là nơi thờ Chu Văn An (1292–1370) – nhà giáo, nhà nho nổi tiếng thời Trần, người được các thế hệ suy tôn là "Vạn thế sư biểu" (người thầy của muôn đời). Theo các tư liệu lịch sử, sau khi Chu Văn An qua đời, nhân dân quê hương Thanh Liệt đã lập đền thờ và tôn ông làm Thành hoàng làng. Đến thời Lê Trung Hưng (1533–1789), đền được phối thờ thêm các vị đỗ đại khoa của địa phương nên còn mang ý nghĩa là Văn chỉ – nơi tôn vinh những người có học vấn và công lao đối với quê hương. Đền được xây dựng theo kiến trúc truyền thống kiểu chữ "Công", gồm ba hạng mục chính là nhà tiền tế, phương đình và hậu cung. Hậu cung là không gian linh thiêng nhất của di tích, nơi đặt khám thờ sơn son thếp vàng cùng bài vị thờ Chu Văn An. Trải qua nhiều lần trùng tu, đặc biệt vào dịp Đại lễ kỷ niệm 1000 năm Thăng Long – Hà Nội, ngôi đền được tu bổ khang trang nhưng vẫn giữ được nét kiến trúc cổ kính và không gian trang nghiêm. Đền hiện còn lưu giữ nhiều hiện vật có giá trị lịch sử và văn hóa như hai bức y môn, cửa võng, các hoành phi, câu đối, khám thờ, đỉnh đồng, lọ độc bình, sáu bia đá, thần phả cùng năm đạo sắc phong thời Lê và Nguyễn, phản ánh truyền thống tôn sư trọng đạo của dân tộc Việt Nam. Không chỉ là nơi tưởng niệm nhà giáo Chu Văn An, đền còn là địa điểm sinh hoạt tín ngưỡng của nhân dân địa phương và là điểm đến của nhiều học sinh, sinh viên, nhà giáo cùng du khách thập phương đến dâng hương, bày tỏ lòng biết ơn đối với người thầy mẫu mực của nền giáo dục Việt Nam. Với những giá trị nổi bật về lịch sử, văn hóa và giáo dục, năm 1989, Đền thờ Chu Văn An được xếp hạng Di tích lịch sử - văn hóa cấp quốc gia. Ngày nay, di tích không chỉ góp phần bảo tồn di sản Thăng Long – Hà Nội mà còn là biểu tượng của truyền thống hiếu học và tôn sư trọng đạo của dân tộc. Nguồn: Thông tấn xã Việt Nam
Hà Nội
608 lượt xem
Xếp hạng : Di tích cấp quốc gia
DI TÍCH LỊCH SỬ MIẾU TRUNG LIỆT
DI TÍCH LỊCH SỬ MIẾU TRUNG LIỆT Miếu Trung Liệt tọa lạc trang nghiêm trên đỉnh Gò Đống Đa, là công trình cổ kính được lập ra để tưởng nhớ các vị trung thần, nghĩa sĩ đã có công oanh liệt và tuẫn tiết để bảo vệ kinh thành. Qua cổng Nghi môn bằng gạch vồ rêu phong và sân gạch nhỏ là tới tòa Đại bái vững chãi, nổi bật với ba chữ "Trung Liệt Miếu" cùng hệ thống hoành phi, câu đối sơn son thếp vàng. Miếu được xây dựng theo lối kiến trúc chữ Đinh (\text{丁}), đầu hồi bít đốc, trên lợp ngói di cổ kính mang đậm dáng dấp nghệ thuật kiến trúc thời Nguyễn từ thế kỷ XIX (năm 1856). Dù nằm trong cùng một khuôn viên, nhưng Miếu Trung Liệt có tính chất thờ tự hoàn toàn độc lập với Gò Đống Đa. Nếu như Gò Đống Đa là chứng tích chiến trường năm 1789 gắn liền với tôn vinh Hoàng đế Quang Trung và chiến thắng quân Thanh, thì Miếu Trung Liệt lại là nơi đặc biệt lập ra để thờ phụng các vị quan yêu nước thời Nguyễn đã anh dũng hy sinh khi thực dân Pháp tấn công thành Hà Nội. Chính vì vậy, trung tâm thờ tự tại Hậu cung của miếu đặt bài vị và tượng thờ của Tổng đốc Nguyễn Tri Phương, người đã tuyệt thực đến chết sau khi thành thất thủ lần thứ nhất năm 1873, và Tổng đốc Hoàng Diệu, người đã tự vẫn dưới gốc đa cổ thụ khi thành thất thủ lần thứ hai năm 1882. Bên cạnh đó, miếu cũng phối thờ Kinh lược sứ Nguyễn Lâm cùng bài vị của vua Quang Trung để quy tụ hồn thiêng sông núi. Công trình đã được xếp hạng di tích lịch sử quốc gia, được đầu tư kinh phí trùng tu nhằm bảo tồn nguyên vẹn các giá trị kiến trúc và khí tiết kiên trung của các bậc tiền nhân. Nguồn: Hà Nội – Danh thắng và Di tích
Hà Nội
305 lượt xem
Xếp hạng : Di tích cấp quốc gia
Đền thờ Phùng Hưng
Đền thờ Phùng Hưng (Bố Cái Đại Vương) được lập ở nhiều nơi trên đất nước Việt Nam, nhưng ngôi đền ở Đường Lâm (thị xã Sơn Tây, TP Hà Nội) có quy mô lớn nhất, kiến trúc độc đáo và chứa đựng nhiều giá trị lịch sử, văn hóa. Phùng Hưng là người ấp Đường Lâm. Ông là người nhân đức, có lòng yêu thương nhân dân. Phùng Hưng có hai người em là Phùng Hải và Phùng Dĩnh. Ba anh em đều có sức khỏe phi thường: Phùng Hưng đánh được hổ, vật được trâu; hai người em cõng đá nặng ngàn cân. Do vậy mà nhân dân gần xa đều kính phục, tôn Phùng Hưng là Đô Quán, Phùng Hải là Đô Bảo. Sinh vào thời đất nước bị giặc ngoại xâm, họ đã sớm hình thành ý chí đánh đuổi giặc, giành độc lập, tự chủ. Họ chiêu mộ nghĩa quân hào kiệt, dấy binh nổi dậy ở Đường Lâm chống lại ách thống trị của nhà Đường. Khi nghĩa quân đánh thành Tống Bình, tướng địch là Cao Chính Bình thất bại, lo lắng mà chết. Phùng Hưng nắm giữ phủ thành, tổ chức việc chính trị, xây dựng nền độc lập tự chủ cho đất nước trong 7 năm. Sau khi ông mất, nhân dân nhớ ơn và suy tôn ông là Bố Cái Đại Vương. Tại quê hương Phùng Hưng là thôn Cam Lâm, xã Đường Lâm, thị xã Sơn Tây, thành phố Hà Nội, nhân dân đã lập đền để tôn thờ ông. Quy mô hiện nay của ngôi đền được hình thành sau đợt sửa chữa, trùng tu lớn vào thế kỷ XIX, gồm các hạng mục: cổng nghi môn, tả hữu mạc, đại bái và hậu cung. Cổng nghi môn được xây dựng đơn giản, có chức năng ngăn cách thế giới tâm linh với cuộc sống trần tục. Qua cổng là hai dãy tả hữu mạc, mỗi dãy ba gian, các bộ vì kèo được thiết kế thông thoáng, thuận tiện cho các sinh hoạt cộng đồng. Đại bái gồm ba gian hai dĩ, hai mái lợp ngói ri. Các bộ vì được kết cấu trên bốn hàng chân cột, liên kết theo lối: “Thượng giá chiêng rường nách, hạ kẻ chuyền, bảy hiên”. Hoa văn trang trí trên các cấu kiện kiến trúc khá giản dị, chủ yếu tập trung ở đầu dư, kìm chạm hình rồng, rường nách chạm vân mây, lá lật, các kẻ và bẩy bào soi chạm lá kết hợp với những dải mây cách điệu. Hậu cung gồm ba gian, xây theo kiểu tường hồi bít đốc. Các cấu kiện kiến trúc thiên về sự bền chắc, trang nghiêm và tôn kính đối với vị anh hùng được thờ phụng. Tượng đồng Phùng Hưng được đặt tại vị trí trang trọng trong hậu cung (tượng được tôn tạo vào đầu thế kỷ XXI). Quê hương Cam Lâm không chỉ có đền thờ Phùng Hưng mà còn lưu giữ nhiều địa danh gắn với cuộc đời và sự nghiệp của ông như Vũng Hàm, đồi Hổ Gầm, đồi Xà Mẫu, giếng Ngọc và rặng duối. Theo truyền thuyết, đây là những nơi anh em họ Phùng từng đánh hổ, luyện võ và tập trận trước khi khởi nghĩa chống quân đô hộ. Đền Phùng Hưng đã được Bộ Văn hóa và Thông tin xếp hạng Di tích lịch sử - kiến trúc nghệ thuật cấp quốc gia năm 1964. Nguồn: Hà Nội – Danh thắng và Di tích.
Hà Nội
567 lượt xem
Xếp hạng : Di tích cấp quốc gia
Đền và lăng Ngô Quyền
Đền và lăng Ngô Quyền thuộc xã Đường lâm, Thị xã Sơn Tây, Hà Nội. Thôn Cam Lâm, xã Đường Lâm, thị xã Sơn Tây, thành phố Hà Nội là mảnh đất “một ấp hai vua” (Phùng Hưng và Ngô Quyền). Ngày nay nơi đây vẫn còn lưu giữ những dấu tích, đền thờ gắn liền với tên tuổi của hai ông, trong đó đặc biệt là đền Phùng Hưng và lăng Ngô Quyền. Ngô Quyền sinh ra và lớn lên trong một gia đình mà người cha đã làm đến chức Châu Mục. Ngô Quyền là người khôi ngô, tuấn tú, tướng mạo khác thường, trí dũng song toàn, sức khoẻ hơn người. Ông sớm tinh thông võ nghệ, kiếm cung... tiếng tăm lẫy lừng. Sinh ra khi đất nước có ngoại xâm, thủa thiếu thời, ông đã làm nhiều việc thiện đức, giúp đỡ người nghèo và chiêu mộ anh tài, hào kiệt, xây dựng căn cứ, chờ ngày khởi nghĩa. Năm 938, giặc Nam Hán do Hoằng Thao đem chiến thuyền ồ ạt kéo vào nước ta phía cửa Bạch Đằng. Bằng chiến thuật quân sự, dùng cọc gỗ vót nhọn, đầu bịt sắt, Ngô Quyền và quân lính đã đánh tan đội thuỷ binh hùng mạnh của giặc cùng với tướng giặc Hoằng Thao - con vua Nam Hán. Chiến thắng oanh liệt của Ngô Quyên trên sông Bạch Đằng đã chấm dứt thời kỳ Bắc thuộc, kéo dài hơn một ngàn năm, mở ra trang sử mới độc lập, tự do lâu dài cho dân tộc ta. Ngô Quyền đã xây dựng lại đất nước, chỉnh đốn chính trị, xây dựng thành quách, định nghi lễ... bộ máy chính quyền mang tính chất độc quyền lâu dài. Đền Ngô Quyền được xây dựng lâu đời và qua nhiều lần trùng tu. Lần trùng tu lớn vào thời Nguyễn, triều Tự Đức (1848 - 1883). Cuối thế kỷ XX đã tu bổ nâng cấp đền, lăng và cảnh quan xung quanh. Quy mô đền hiện gồm các hạng mục: Nghi môn, Tả Hữu mạc, Đại bái và Hậu cung. Đại bái đền gồm 5 gian, xây kiểu tường hồi bít đốc. Các cấu kiện của bộ khung gỗ chủ yếu là bào trơn đóng bén thiên về độ vững trãi cho công trình. Hậu cung kiểu Tiền đạo hậu đốc, bộ khung trang trí đề tài tứ linh, tứ quý... tôn nghiêm, thể hiện sự kính ngưỡng đối với vị thần. Đền thờ Ngô Quyền được xây bên sườn đồi. Các đồ thờ tự như: tượng Ngô Quyền, long ngai bài vị, hương án, giá văn, lộc bình... được bài trí trong Hậu cung. Đại bái trưng bày rất nhiều hiện vật, trong đó chú ý là các cọc ngầm đóng trên sông Bạch Đằng... nói lên thân thế và sự nghiệp của Ngô Quyền. Ngay cạnh đền, phía trước là lăng Ngô Quyền, xây theo hình 4 mái trên bệ cao, có tường gạch bao quanh. Giữa lăng là ngai thờ, bên trong có bia đá “Tiền Ngô vương lăng”, niên đại Minh Mệnh thứ hai (1821). Trước lăng là những rộc sâu, tương truyền là hồ sen nơi thủa nhỏ Ngô Quyền thường cùng bạn chăn trâu, bởi lặn và tập trận. Phía sườn đồi là những rặng duối, tương truyền là nơi Ngô Quyền buộc dây cột voi vào gốc duối. Đền và lăng Ngô Quyền đã được Bộ Văn hoá và Thông tin xếp hạng di tích lịch sử, kiến trúc nghệ thuật năm 1964. Theo Hà Nội Danh thắng và Di tích
Hà Nội
654 lượt xem
Xếp hạng : Di tích cấp quốc gia
Am Mỵ Châu
Am Mỵ Châu còn được gọi là am Bà Chúa hay đền thờ Mỵ Châu nằm ở phía Tây đình Ngự Triều Di Quy. Phía trước am thờ có một cây đa tương truyền là do Ngô Quyền đã trồng. Cây đa này rất lớn nên thường gọi là cây đa nghìn tuổi, nay không còn nữa, chỉ còn lại một vòm cửa xây gạch là dấu tích dưới vòm của những rễ đa khi xa. Khu am thờ là một kiến trúc gồm 2 phần chính. Tiền tế là một ngôi nhà được xây dựng bằng gỗ 3 gian, tường hồi bít đốc, mái lợp ngói ta. Các bộ vì được làm theo kiểu “thượng giá chiêng, hạ chồng rường, kẻ bẩy”. Tất cả các cấu kiện đều không có chạm khắc hoa văn gì mà chỉ bào soi. Kiến trúc này có niên đại muộn (cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX). Trên thượng lương có dòng chữ Hán ghi rõ niên đại tu bổ: Việt Nam dân chủ cộng hoà, tuế thứ Quý Sửu (1973). Hậu cung là 1 toà nhà xoay dọc, kết cấu chịu lực chính là các bức tường xây bao 3 mặt chỉ để 2 cửa bên thông với tiền tế. Tại tiền tế 2 bên trụ đầu hồi nhà có đắp ngoã đôi câu đối: Trung tín nhất tâm chiêu nhật nguyệt; linh quang vạn cổ đẳng càn khôn (tạm dịch: một lòng trung tín tựa trăng sao; anh linh sáng sủa mãi mãi như trời đất). Tại gian giữa có ban thờ gọi là “hương án tiền”, phía trên có bức cuốn thư đề 4 chữ Hán: Tốn cung diên tuý (cung thờ người con gái ) và có 4 đôi câu đối ở khu vực này nói về lòng trung tín của công chúa Mỵ Châu. Đôi câu đối tại cột cái cạnh hương án: trung tín thệ tâm thân hoá thạch; hưng vong sái lệ vọng trầm châu (lòng trung tín trong tâm đã thề nên thân hoá đá; dòng nước mắt khóc về sự thịnh suy kết thành châu ngọc dưới giếng sâu). Bên cạnh đó một đôi câu đối khác: Phái diễn ngàn hoàng trịnh liệt cao huyền thiên cổ kính; ba trừng ngọc tỉnh hiển linh quang bạch nhất sinh tâm (dòng dõi của nàng là con Lạc cháu Hồng, tấm lòng trinh liệt được nêu gương từ xa đến nay; giếng ngọc toả ánh sáng thiêng liêng tỏ rõ tấm lòng thành). Đi tiếp vào phía trong, trước hậu cung có ban thờ “thập nhị cô” - những người hầu cận của công chúa. Có đôi câu đối trên trụ 2 bên ban thờ: Thiên tải thượng thị gia phi thuỳ năng biệt chi quy chảo nỗ cơ truyền ngoại sử; ngũ luân chung phụ giữ phu quả thục dân giã bạng khai tỉnh thuỷ đội thâm tình (ngàn năm đã qua cái đúng cái sai ai có thể biện minh được, cái móng rùa làm nẫy nỏ thần thì cũng chỉ là truyền thuyết; trong ngũ luân, cha và chồng ai là người thân hơn chỉ có ngọc trai và nước giếng ngọc mới chứng tỏ được thôi). Hậu cung là nơi có đặt ban thờ bà chúa Mỵ Châu. Trên có đặt ngai thờ. Gian trong cùng là nơi đặt tượng đá. Đây chính là “tượng đá Mỵ Châu” đã được kể trong truyền thuyết. Có thể kể thêm rằng: nơi mà Mỵ Châu bị vua cha chém đầu là đèo Mộ Dạ thuộc tỉnh Nghệ An ngày nay nhưng theo câu truyện truyền thuyết thì tượng hoá đá trôi về tận chân thành Ngoại. Tại Nghệ An hiện nay cũng có đền thờ An Dương Vương, cạnh đó là am thờ Mỵ Châu. Địa điểm đó gọi là Núi Cuông, nay đền ở trên đỉnh núi, còn được gọi là đền Cuông. Theo BQL Di tích Thành Cổ Loa
Hà Nội
547 lượt xem
Xếp hạng : Di tích cấp quốc gia đặc biệt
Đền thờ vua An Dương Vương
Đền thờ vua An Dương Vương còn gọi là đền Thượng được xây dựng trên một quả đồi mà truyền thuyết nói là xưa có cung thất của vua. Di tích đền Thượng có diện tích rộng khoảng 19.138,6m2, được xây dựng theo hướng Nam, các công trình kiến trúc chính của ngôi đền nằm trên trục Dũng đạo (Thần đạo). Hồ nước phía trước khu đền khá lớn, có hình cung tròn với bờ cong tự nhiên được kè bằng đá, có lối đi và trồng cây xung quanh giữa hồ có giếng Ngọc. Trước đây, hồ nước thông với hào của hai vòng thành ngoài và ra tận bến sông phía Đông - Nam thành Ngoại. Theo truyền thuyết thì đây chính là hồ nước mà Mỵ Châu - Trọng Thủy thường từ đây đi thuyền du ngoạn khi chưa xảy ra cuộc chiến tranh xâm lược của Triệu Đà. Sau chiến tranh, Trọng Thủy nhảy xuống đây tự vẫn vì ân hận đã gây ra cái chết của người vợ yêu quý. Trong dân gian còn truyền tụng câu chuyện dòng máu của nàng Mỵ Châu khi bị Vua cha chém đầu, rơi xuống biển, loài trai ăn phải thì hóa thành ngọc trai, nếu đem về rửa ở giếng này thì ngọc càng thêm sáng và do đó giếng nước giữa hồ trước đền Thượng còn có tên là Giếng Ngọc. Đền Thượng có hai nghi môn là Nghi môn ngoại và Nghi môn nội. Nghi môn ngoại được xây dựng bằng gạch không trát, hình thức như một cổng thành có hai tầng, tầng dưới là 3 cửa đi, được xây kiểu cuốn vòm, tầng trên thu gọn dưới dạng vọng lâu 2 tầng 8 mái. Lối lên cửa giữa có đôi rồng đá lớn ở hai bên thành bậc cửa được tạo tác năm 1732. Qua Nghi môn ngoại là sân rồng hạ lát gạch Bát Tràng, giữa sân có một con đường lát đá chạy thẳng đến cửa chính Nghi môn nội. Do có quan niệm cho rằng: đền được xây trên “đầu rồng”, vì thế người ta đã tạo nên ở hai bên Sân rồng hạ 2 giếng nhỏ được gọi là “mắt rồng” tương xứng nhau, bên cạnh có 2 gò đất cao là “hàm rồng”. Nghi môn nội được đặt cao hơn mặt sân, lối lên có 7 bậc thềm đá xanh. Hai bên bậc thềm là đôi rồng tạo bằng vữa hợp chất. Qua Nghi môn nội là sân rồng thượng lát bằng gạch Bát Tràng. Chính giữa sân là con đường lát đá dẫn lên nhà Tiền tế còn được gọi là Đại bái hay Tiền bái. Tiền tế là một kiến trúc bề thế, mái lợp ngói mũi hài, có các góc đao cong vút và đắp tượng nghê chầu. Hai dãy nhà hành lang dài hai bên nối Tiền tế và Trung đường, giữa hai dãy hành lang là một tòa Phương đình. Hậu cung là một tòa nhà kiểu “chuôi vồ”, đấu mái liền với Trung đường. Trong Hậu cung có bức tượng vua An Dương Vương được đúc bằng đồng, nặng 200kg, có niên đại 1897. Nhà bia nằm trong tổng thể kiến trúc ngôi đền, được xây dựng trên một khu đất cao phía Tây của sân thượng, hướng mặt quay vào đền. Đây là một công trình kiến trúc nhỏ có dạng Phương đình, hai tầng tám mái - một kiến trúc gỗ mái lợp ngói mũi hài khá hài hòa xinh xắn. Căn cứ những mảng kiến trúc, hiện vật hiện còn, cho biết đền Thượng có thể được xây dựng khoảng thế kỷ 17-18. Theo BQL Di tích thành cổ loa
Hà Nội
392 lượt xem
Xếp hạng : Di tích cấp quốc gia đặc biệt
Cửa Bắc
Chứng nhân lịch sử giữa lòng Hoàng thành Hà Nội Nằm trên phố Phan Đình Phùng, Cửa Bắc (Chính Bắc Môn) là cổng thành duy nhất còn nguyên vẹn của Thành Hà Nội thời Nguyễn. Được xây dựng năm 1805 trên nền Cửa Bắc thời Lê, công trình không chỉ là dấu tích quý giá của kiến trúc quân sự xưa mà còn là biểu tượng cho tinh thần kiên cường của quân và dân Hà Nội trong những năm tháng chống giặc ngoại xâm. Cửa Bắc được xây dựng theo kiến trúc vọng lâu với phần cổng thành đồ sộ phía dưới và lầu canh tám mái phía trên. Từ vọng lâu, binh lính xưa có thể quan sát toàn bộ khu vực trong và ngoài thành để bảo vệ kinh thành. Trải qua hơn hai thế kỷ, công trình vẫn giữ được nhiều nét kiến trúc nguyên bản với tường thành bằng gạch và đá kiên cố, cổng gỗ lớn cùng dòng chữ Hán "Chính Bắc Môn" còn nguyên trên cổng. Điểm đặc biệt khiến Cửa Bắc trở thành di tích lịch sử có giá trị là hai vết đạn thần công vẫn còn hằn rõ trên mặt ngoài cổng thành. Đây là dấu tích của cuộc tấn công do quân Pháp tiến hành vào thành Hà Nội năm 1882, nhắc nhớ về những trận chiến oanh liệt trong lịch sử dân tộc. Bên trong vọng lâu hiện là nơi thờ hai vị Tổng đốc Hà Nội Nguyễn Tri Phương và Hoàng Diệu – những vị anh hùng đã chiến đấu và tuẫn tiết để bảo vệ thành Hà Nội trước sự xâm lược của thực dân Pháp. Không gian trang nghiêm cùng những hiện vật trưng bày giúp du khách hiểu thêm về tinh thần yêu nước, ý chí bất khuất của cha ông trong công cuộc bảo vệ Thăng Long – Hà Nội. Đến với Cửa Bắc, du khách không chỉ được chiêm ngưỡng một công trình kiến trúc cổ độc đáo mà còn có cơ hội khám phá quần thể Hoàng thành Thăng Long, tìm hiểu lịch sử kinh đô nghìn năm văn hiến và lưu lại những bức ảnh ấn tượng giữa hàng cây xanh cổ thụ trên phố Phan Đình Phùng – một trong những con đường đẹp nhất Hà Nội. Ngày nay, Cửa Bắc là điểm dừng chân không thể bỏ qua trong hành trình khám phá Thủ đô. Giữa nhịp sống hiện đại, công trình vẫn lặng lẽ gìn giữ những dấu ấn lịch sử, trở thành biểu tượng của lòng yêu nước, sự kiên cường và niềm tự hào về một Hà Nội nghìn năm văn hiến. Theo BQL Di tích Hoàng Thành Thăng Long
Hà Nội
503 lượt xem
Xếp hạng : Di tích cấp quốc gia đặc biệt
Ô Quan Chưởng
Cửa ô cuối cùng lưu giữ hồn xưa của Hà Nội Giữa nhịp sống sôi động của phố cổ Hà Nội, Ô Quan Chưởng vẫn lặng lẽ đứng đó như một chứng nhân của hơn hai thế kỷ lịch sử. Là cửa ô duy nhất còn sót lại của kinh thành Thăng Long, công trình không chỉ mang giá trị kiến trúc độc đáo mà còn là biểu tượng gợi nhớ về một Hà Nội ngàn năm văn hiến. Được xây dựng từ năm 1749 và trùng tu vào năm 1817 dưới triều Nguyễn, Ô Quan Chưởng còn có tên gọi Đông Hà Môn, nằm ở cửa ngõ phía Đông của kinh thành xưa. Công trình được xây dựng theo kiến trúc cổng vọng lâu với một cửa chính lớn, hai cửa phụ hai bên và vọng lâu bốn mái cong phía trên. Trên cổng vẫn còn nguyên ba chữ Hán "Đông Hà Môn", dấu ấn lịch sử đã tồn tại cùng năm tháng. Trải qua nhiều biến cố của lịch sử, Ô Quan Chưởng vẫn giữ được nét cổ kính với những bức tường gạch phủ rêu phong, mái ngói nhuốm màu thời gian và không gian bình yên giữa lòng phố thị. Đứng dưới cổng thành, du khách có cảm giác như được quay ngược thời gian, trở về với hình ảnh Thăng Long xưa – nơi những đoàn người, xe ngựa từng tấp nập ra vào qua cửa ô mỗi ngày. Không chỉ là một di tích lịch sử, Ô Quan Chưởng còn là điểm dừng chân yêu thích của du khách khi khám phá khu phố cổ Hà Nội. Từ đây, bạn có thể dễ dàng kết hợp tham quan chợ Đồng Xuân, phố Hàng Chiếu, phố đi bộ Hồ Gươm hay thưởng thức những món ăn đặc trưng của ẩm thực Hà thành. Đặc biệt, vào buổi sáng sớm hoặc chiều muộn, ánh nắng xuyên qua cổng thành tạo nên khung cảnh cổ kính, là thời điểm lý tưởng để lưu lại những bức ảnh đậm chất Hà Nội. Ngày nay, Ô Quan Chưởng không chỉ là di tích lịch sử quốc gia, mà còn là biểu tượng của sự trường tồn, lưu giữ ký ức về một Thăng Long xưa giữa lòng Thủ đô hiện đại. Nếu có dịp ghé thăm Hà Nội, đừng quên dừng chân tại Ô Quan Chưởng để cảm nhận vẻ đẹp mộc mạc, bình yên và lắng nghe những câu chuyện lịch sử còn vang vọng theo từng viên gạch cổ. Theo tạp chí người Hà Nội
Hà Nội
526 lượt xem
Xếp hạng : Di tích cấp quốc gia
Di tích lịch sử Pháo đài Láng
Nằm trên phố Pháo Đài Láng, phường Láng Thượng, thành phố Hà Nội, Di tích lịch sử Pháo đài Láng là nơi ghi dấu những phát pháo đầu tiên mở màn cuộc Toàn quốc kháng chiến chống thực dân Pháp vào tối ngày 19/12/1946. Đây cũng là nơi lập nên chiến công đầu tiên của Binh chủng Pháo binh Quân đội nhân dân Việt Nam, trở thành một "địa chỉ đỏ" có ý nghĩa đặc biệt trong lịch sử đấu tranh bảo vệ nền độc lập của dân tộc. Pháo đài được thực dân Pháp xây dựng vào năm 1941 trên cánh đồng làng Láng Trung với mục đích phòng thủ Hà Nội. Ban đầu, công trình được trang bị bốn khẩu pháo cao xạ cỡ 75 mm cùng hệ thống đài chỉ huy kiên cố. Sau cuộc đảo chính Pháp của phát xít Nhật năm 1945 và thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám, lực lượng quân giới Việt Nam đã thu thập, sửa chữa và khôi phục các khẩu pháo để phục vụ nhiệm vụ bảo vệ chính quyền cách mạng. Ngày 29/6/1946, đơn vị pháo binh đầu tiên của Quân đội Việt Nam được thành lập. Pháo đài Láng trở thành một trong những trận địa pháo quan trọng bảo vệ Thủ đô, nơi các chiến sĩ pháo binh ngày đêm khẩn trương chuẩn bị cho nhiệm vụ chiến đấu trong bối cảnh tình hình Hà Nội ngày càng căng thẳng. Tối 19/12/1946, sau khi tín hiệu mở đầu cuộc Toàn quốc kháng chiến được phát đi, từ Pháo đài Láng, những loạt pháo đầu tiên đã đồng loạt nã vào các vị trí quân Pháp trong thành Hà Nội. Tiếng pháo vang lên không chỉ mở màn cho cuộc kháng chiến trường kỳ chống thực dân Pháp mà còn đánh dấu sự ra đời và trưởng thành của Binh chủng Pháo binh Việt Nam. Trong suốt 60 ngày đêm chiến đấu bảo vệ Hà Nội, các chiến sĩ tại Pháo đài Láng đã cùng quân và dân Thủ đô kiên cường chiến đấu, góp phần kìm chân địch, tạo điều kiện để Trung ương Đảng, Chính phủ và các cơ quan đầu não rút lên căn cứ an toàn, chuẩn bị cho cuộc kháng chiến lâu dài. Sau chiến tranh, dấu tích của pháo đài không còn nguyên vẹn do quá trình đô thị hóa. Tuy nhiên, khẩu pháo 75 mm cùng một phần trận địa đã được bảo tồn và tôn tạo trong khuôn viên di tích. Nơi đây còn có phòng trưng bày giới thiệu hình ảnh, tư liệu và hiện vật về lịch sử hình thành của Pháo đài Láng, những ngày đầu Toàn quốc kháng chiến và truyền thống của Binh chủng Pháo binh Quân đội nhân dân Việt Nam. Năm 1986, Pháo đài Láng được thành phố Hà Nội xếp hạng Di tích lịch sử, và đến năm 1992 được Nhà nước công nhận là Di tích lịch sử cấp Quốc gia. Công trình tiếp tục được trùng tu, tôn tạo trong các năm 1994–1995 và 2006, góp phần gìn giữ những giá trị lịch sử quý báu cho các thế hệ mai sau. Ngày nay, Di tích lịch sử Pháo đài Láng là điểm đến ý nghĩa đối với những người yêu lịch sử, đặc biệt là thế hệ trẻ. Không chỉ lưu giữ ký ức về những ngày đầu Toàn quốc kháng chiến, nơi đây còn là biểu tượng của ý chí kiên cường, tinh thần quyết chiến quyết thắng và truyền thống anh hùng của Binh chủng Pháo binh Quân đội nhân dân Việt Nam. Nguồn: Hà Nội Danh thắng và Di tích (tổng hợp)
Hà Nội
697 lượt xem
Xếp hạng : Di tích cấp quốc gia
Nhà lưu niệm Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Vạn Phúc
Nằm tại phường Vạn Phúc, thành phố Hà Nội, Nhà lưu niệm Chủ tịch Hồ Chí Minh là nơi Người sống và làm việc từ ngày 3/12 đến ngày 19/12/1946, trước khi ra Lời kêu gọi Toàn quốc kháng chiến. Đây là một trong những di tích lịch sử đặc biệt, ghi dấu thời khắc mở đầu cuộc kháng chiến trường kỳ chống thực dân Pháp của dân tộc Việt Nam. Ngôi nhà vốn thuộc sở hữu của gia đình cụ Nguyễn Văn Dương, một gia đình có truyền thống yêu nước tại làng lụa Vạn Phúc. Với vị trí thuận lợi, vừa gần Hà Nội, vừa đảm bảo bí mật và an toàn, nơi đây được Trung ương Đảng lựa chọn làm địa điểm ở và làm việc của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong những ngày tình hình đất nước hết sức căng thẳng. Trong thời gian ở Vạn Phúc, ban ngày Chủ tịch Hồ Chí Minh vẫn vào Hà Nội để làm việc với Chính phủ, tiếp các đoàn khách quốc tế và chỉ đạo công việc, còn buổi tối trở về ngôi nhà này để nghiên cứu tình hình, họp với Thường vụ Trung ương Đảng và chuẩn bị những quyết sách quan trọng cho vận mệnh đất nước. Giữa tháng 12/1946, trước những hành động leo thang xâm lược của thực dân Pháp, Trung ương Đảng đã nhiều lần họp tại Vạn Phúc để quyết định chủ trương phát động toàn quốc kháng chiến. Chính tại căn phòng trên tầng hai của ngôi nhà, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã soạn thảo và hoàn thiện Lời kêu gọi Toàn quốc kháng chiến, văn kiện lịch sử mở đầu cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp với lời hiệu triệu bất hủ: "Chúng ta thà hy sinh tất cả, chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ." Tối ngày 19/12/1946, Lời kêu gọi Toàn quốc kháng chiến được phát đi trên Đài Tiếng nói Việt Nam, mở đầu cuộc kháng chiến trường kỳ kéo dài chín năm và đi đến thắng lợi bằng Chiến thắng Điện Biên Phủ năm 1954. Sự kiện này đánh dấu bước ngoặt quan trọng trong lịch sử dân tộc, thể hiện ý chí kiên cường và khát vọng độc lập, tự do của nhân dân Việt Nam. Gia đình cụ Nguyễn Văn Dương đã tuyệt đối giữ bí mật, tạo mọi điều kiện để Chủ tịch Hồ Chí Minh làm việc an toàn trong suốt thời gian lưu lại. Trước khi rời Vạn Phúc, Người đã cảm ơn gia đình và động viên nhân dân tích cực ủng hộ cuộc kháng chiến, thể hiện niềm tin mãnh liệt vào thắng lợi của dân tộc. Ngày nay, Nhà lưu niệm Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Vạn Phúc vẫn được bảo tồn gần như nguyên vẹn. Tầng hai của ngôi nhà lưu giữ căn phòng làm việc cùng nhiều hiện vật gốc gắn với những ngày Chủ tịch Hồ Chí Minh sống và làm việc tại đây; tầng một là không gian trưng bày tư liệu, hình ảnh về sự kiện Toàn quốc kháng chiến và truyền thống cách mạng của địa phương. Trong hành trình khám phá Hà Nội, Nhà lưu niệm Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Vạn Phúc là nơi giúp mỗi người thêm hiểu và trân trọng những hy sinh, quyết tâm của dân tộc trong hành trình giành và giữ vững nền độc lập. Nguồn: Hà Nội Danh thắng và Di tích (tổng hợp).
Hà Nội
211 lượt xem
Xếp hạng : Di tích cấp quốc gia
Di tích lịch sử Bắc Bộ Phủ
Di tích lịch sử Bắc Bộ Phủ Tọa lạc tại số 2 phố Lê Thạch, phường Hoàn Kiếm, thành phố Hà Nội, Bắc Bộ Phủ là một trong những di tích lịch sử đặc biệt gắn liền với những ngày đầu thành lập nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Đây là nơi Chủ tịch Hồ Chí Minh và Chính phủ lâm thời làm việc sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945, đồng thời chứng kiến nhiều sự kiện quan trọng trong quá trình xây dựng và bảo vệ chính quyền cách mạng non trẻ. Công trình được người Pháp xây dựng vào năm 1918 theo phong cách kiến trúc Pháp cổ, ban đầu là Phủ Thống sứ Bắc Kỳ – cơ quan hành chính cao nhất của chính quyền thực dân tại Bắc Kỳ. Sau cuộc đảo chính Pháp của phát xít Nhật vào tháng 3/1945, công trình được đổi tên thành Phủ Khâm sai Bắc Kỳ. Ngày 19/8/1945, trong khí thế sục sôi của Cách mạng Tháng Tám, hàng vạn quần chúng từ cuộc mít tinh tại Quảng trường Nhà hát Lớn đã tiến về chiếm Phủ Khâm sai. Sự kiện giành chính quyền tại đây trở thành một trong những dấu mốc tiêu biểu của cuộc Tổng khởi nghĩa ở Hà Nội, góp phần đưa Cách mạng Tháng Tám đến thắng lợi và mở đường cho sự ra đời của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Sau thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám, công trình được đổi tên thành Bắc Bộ Phủ. Từ cuối tháng 8 năm 1945 đến trước ngày Toàn quốc kháng chiến, Chủ tịch Hồ Chí Minh cùng Chính phủ lâm thời đã làm việc tại đây, đưa ra nhiều quyết sách quan trọng về xây dựng bộ máy nhà nước, đối nội, đối ngoại và chuẩn bị cho công cuộc bảo vệ nền độc lập vừa giành được. Đặc biệt, ngày 20/12/1946, Bắc Bộ Phủ trở thành một trong những điểm chiến đấu ác liệt nhất trong những ngày đầu của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp. Các chiến sĩ Vệ quốc đoàn đã anh dũng chiến đấu bảo vệ cơ quan đầu não của Chính phủ, góp phần mở đầu cuộc kháng chiến trường kỳ của dân tộc. Sau khi Thủ đô được giải phóng năm 1954, công trình được tu sửa và trở thành Nhà khách Chính phủ, tiếp tục phục vụ các hoạt động đối nội, đối ngoại của Nhà nước. Năm 2005, Bắc Bộ Phủ được gắn biển Di tích lịch sử cách mạng, ghi nhận những giá trị đặc biệt về lịch sử và kiến trúc. Không chỉ mang giá trị lịch sử, Bắc Bộ Phủ còn là công trình kiến trúc Pháp tiêu biểu với thiết kế trang nhã, hài hòa cùng không gian hồ Hoàn Kiếm và Quảng trường Cách mạng Tháng Tám. Trải qua hơn một thế kỷ, công trình vẫn lưu giữ nhiều dấu ấn của thời kỳ đầu lập quốc và là chứng nhân của những biến cố quan trọng trong lịch sử dân tộc. Ngày nay, Bắc Bộ Phủ là một trong những "địa chỉ đỏ" tiêu biểu của Thủ đô Hà Nội. Việc bảo tồn, tôn tạo và phát huy giá trị của di tích không chỉ góp phần gìn giữ ký ức lịch sử mà còn giúp giáo dục truyền thống yêu nước, tinh thần cách mạng cho các thế hệ hôm nay và mai sau. Đối với du khách yêu lịch sử, Bắc Bộ Phủ là điểm đến ý nghĩa để tìm hiểu về những ngày đầu hình thành Nhà nước Việt Nam hiện đại và hành trình bảo vệ nền độc lập của dân tộc. Nguồn: Báo Tuổi Trẻ
Hà Nội
629 lượt xem
Xếp hạng : Di tích cấp quốc gia đặc biệt
Nhà số 48 Hàng Ngang
Di tích lịch sử 48 Hàng Ngang – Nơi Chủ tịch Hồ Chí Minh viết Tuyên ngôn Độc lập Tọa lạc tại số 48 phố Hàng Ngang, phường Hoàn Kiếm, thành phố Hà Nội, ngôi nhà lịch sử 48 Hàng Ngang là nơi Chủ tịch Hồ Chí Minh đã viết bản Tuyên ngôn Độc lập, văn kiện lịch sử khai sinh nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa vào ngày 2/9/1945. Đây là một trong những di tích tiêu biểu gắn liền với cuộc đời và sự nghiệp của Người, đồng thời là "địa chỉ đỏ" có ý nghĩa đặc biệt trong lịch sử cách mạng Việt Nam. Ngôi nhà thuộc sở hữu của vợ chồng doanh nhân yêu nước Trịnh Văn Bô và Hoàng Thị Minh Hồ, những người có nhiều đóng góp cho sự nghiệp cách mạng. Nằm giữa khu phố cổ Hà Nội, thông ra hai mặt phố Hàng Ngang và Hàng Cân, ngôi nhà có vị trí thuận lợi, kiến trúc kiên cố và đảm bảo bí mật, an toàn. Chính vì vậy, từ ngày 25/8 đến 2/9/1945, nơi đây được chọn làm địa điểm ở và làm việc của Chủ tịch Hồ Chí Minh cùng Ban Thường vụ Trung ương Đảng. Tại tầng hai của ngôi nhà, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chủ trì nhiều cuộc họp quan trọng, quyết định các chủ trương về đối nội, đối ngoại, thành lập Chính phủ lâm thời và chuẩn bị cho Lễ Độc lập. Đặc biệt, chính tại căn phòng này, Người đã hoàn thành bản Tuyên ngôn Độc lập – văn kiện lịch sử tuyên bố trước toàn thế giới về sự ra đời của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Ngày 2/9/1945, tại Quảng trường Ba Đình lịch sử, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã trịnh trọng đọc bản Tuyên ngôn Độc lập trước hơn nửa triệu đồng bào, chính thức khai sinh nhà nước công nông đầu tiên ở Đông Nam Á, chấm dứt hàng nghìn năm chế độ phong kiến và gần một thế kỷ đô hộ của thực dân, mở ra kỷ nguyên mới của dân tộc – kỷ nguyên độc lập, tự do và xây dựng đất nước. Hiện nay, tầng một của ngôi nhà là không gian trưng bày nhiều tài liệu, hình ảnh và hiện vật quý liên quan đến Chủ tịch Hồ Chí Minh, Cách mạng Tháng Tám và sự ra đời của bản Tuyên ngôn Độc lập; tầng hai vẫn được gìn giữ gần như nguyên trạng với các hiện vật gốc, giúp du khách hình dung rõ hơn về những ngày lịch sử mùa thu năm 1945. Ngày nay, Di tích lịch sử 48 Hàng Ngang là điểm đến thu hút đông đảo du khách trong nước và quốc tế. Không chỉ mang giá trị lịch sử to lớn, nơi đây còn góp phần giáo dục truyền thống yêu nước, lòng tự hào dân tộc và tinh thần cách mạng cho các thế hệ hôm nay và mai sau. Trong hành trình khám phá Hà Nội, ngôi nhà số 48 Hàng Ngang là điểm dừng chân ý nghĩa để mỗi người hiểu hơn về thời khắc khai sinh nước Việt Nam độc lập và những dấu ấn bất diệt trong lịch sử dân tộc. Nguồn: Ban Quản lý Di tích danh thắng Hà Nội (tổng hợp).
Hà Nội
612 lượt xem
Xếp hạng : Di tích cấp quốc gia đặc biệt
Bảo tàng Lịch sử Quân sự Việt Nam
Thành lập ngày 17/7/1956 với tên gọi ban đầu là Bảo tàng Quân đội, có địa điểm bên cạnh Cột cờ Hà Nội, mở cửa đón khách tham quan từ ngày 22/12/1959. Trải qua quá trình xây dựng, phát triển và không ngừng lớn mạnh, Bảo tàng được đổi tên thành Bảo tàng Lịch sử Quân sự Việt Nam vào năm 2002 và chính thức đón khách tham quan tại vị trí Đại lộ Thăng Long, Phường Đại Mỗ, Tây Mỗ, Quận Nam Từ Liêm, Thành phố Hà Nội (nay là Phường Xuân Phương, Thành phố Hà Nội) vào tháng 11/2024 . Bảo tàng có chức năng nghiên cứu, sưu tầm, kiểm kê, bảo quản, trưng bày, tuyên truyền giá trị các di sản văn hóa quân sự Việt Nam. Hệ thống trưng bày giới thiệu hàng nghìn hiện vật, được tổ chức, sắp xếp hiện đại, khoa học, phong phú, ứng dụng công nghệ hiện đại và trang thiết bị tiên tiến, phản ánh toàn diện lịch sử đấu tranh chống giặc ngoại xâm, giành độc lập của dân tộc Việt Nam; sự hình thành và phát triển của lực lượng vũ trang nhân dân, nòng cốt là Quân đội nhân dân Việt Nam trong các thời kỳ cách mạng. Thông qua hệ thống trưng bày cũng như các hoạt động giáo dục, Bảo tàng Lịch sử Quân sự Việt Nam góp phần giúp quý khách tham quan hiểu thêm về kho tàng di sản văn hóa quân sự Việt Nam, cảm nhận sự kết nối mạnh mẽ với quá khứ, hiểu thêm về lịch sử hào hùng của dân tộc Việt Nam, trân trọng những giá trị đang có và hướng tới tương lai tươi sáng tốt đẹp hơn.
Hà Nội
1449 lượt xem
Xếp hạng : Di tích cấp quốc gia
Đình Hạ Thái
Di tích kiến trúc nghệ thuật đình Hạ Thái, xã Duyên Thái, huyện Thường Tín, Hà Nội là một trong số 15 di tích của cả nước được Bộ Văn hóa Thể thao và Du lịch xếp hạng di tích quốc gia trong đợt 1/2017. Bộ VHTTDL vừa có quyết định số 824/QĐ- BVHTTDL công nhận Di tích kiến trúc nghệ thuật đình Hạ Thái, xã Duyên Hải, Thường Tín, Hà Nội là di tích quốc gia. Đình Hạ Thái, xã Duyên Thái, huyện Thường Tín mang đậm nét kiến trúc của đồng bằng Bắc bộ với cây đa, bến nước, sân đình. Đây là nơi thờ hai vị thành hoàng làng là quan võ thời Lê Bùi Sĩ Lương và bà Đinh Thị Trạch (hay còn gọi là bà Lạy) người đã hy sinh tính mạng của mình để cho dân làng thoát nạn cống nạp người. Thần phả ghi lại rằng: trước đây vùng đất này hoang vu, cây cối um tùm và dân cư thưa thớt. Lúc đó trong rừng có một con hổ dữ, dân làng gọi là hổ lang thường tìm về bắt người và gia súc ăn thịt. Không thể thu phục được con hổ đã thành tinh này nên hàng năm dân làng đành phải cống nạp cho hổ một người vào ngày 10/11. Trong làng có bà Lạy, một người đàn bà không chồng, không con, thấu hiểu nỗi đau và mất mát của dân làng, bà đã tự nguyện dâng mình cho hổ với mong muốn việc cống nạp này sẽ chấm dứt. Lời khấn cầu nguyện của bà trước trời đất có vẻ linh thiêng và ứng nghiệm, bởi kể từ ngày 10/11 năm đó khi hổ đến vồ bà Lạy và đưa đi mất, người dân không còn thấy hổ quay lại quấy phá nữa. Để tưởng nhớ công ơn của bà, người dân đã xây miếu thờ, sau này bà được tôn làm thành hoàng làng và miếu đó trở thành đình làng Hạ Thái và lấy ngày 10/11 hàng năm là ngày hội làng truyền thống. Đình làng Hạ Thái còn liên quan đến quan võ thời Lê Bùi Sĩ Lương (1544-1597), ông làm đến chức Thái sư kiêm Điện Tiền Chỉ Huy Sứ. Là người thông minh văn võ song toàn, ông có công lớn trong phò Lê, diệt Mạc. Khi đến Hạ Thái, nhận thấy vùng đất nơi này có thế rồng chầu hổ phục, ông đã chọn Hạ Thái để lập gia trang và dạy dân lập nghiệp, vì vậy sau khi mất, ông cũng được tôn là Thành hoàng làng. Lễ hội làng Hạ Thái diễn ra từ ngày 9 đến 11/11 âm lịch hàng năm và thu hút được đông đảo du khách thập phương về tham dự. Nguồn Sở văn hóa và thể thao thành phố Hà Nội.
Hà Nội
6893 lượt xem
Xếp hạng : Di tích cấp quốc gia
ĐÌNH HẠ, ĐÌNH THƯỢNG
Đình Hạ, đình Thượng thuộc xã Tự Nhiên, huyện Thường Tín, thành phố Hà Nội. Theo truyền thuyết, thần phả và các đạo sắc phong còn lưu lại thì hai đình thờ Chử Đồng Tử (một trong tứ bất tử của người Việt) cùng hai phu nhân là công chúa Tiên Dung và nàng Hồng Vân. Sau khi công chúa Tiên Dung lấy Chử Đồng Tử làm chồng, hai người đã học được phép tiên trị bệnh cứu người và cùng dân làng cải tạo, mở mang đất đai, trồng trọt, chăn nuôi lập nên xóm làng trù phú. Vua Hùng nghe tin, cả giận sai quân lính bắt về triều đình để trị tội. Biết tin đó, Chử Đồng Tử và Tiên Dung hóa phép bay về trời, mang theo nàng Hồng Vân của đất Tự Nhiên. Nhân dân biết ơn lập đền thờ. Đình Thượng và đình Hạ là hai công trình kiến trúc nằm song song, có niên đại tương đồng nhau, được khởi dựng vào thời Hậu Lê; tôn tạo, tu sửa làm Hậu cung vào cuối triều Nguyễn. Có điểm khác nhau là Đại bái đình Thượng không có tích “Rồng mẫu tử” mà có tích “Độc long”. Đình Thượng có 69 đạo sắc phong nhiều hơn đình Hạ 03 sắc phong. Lễ hội của làng Tự Nhiên diễn ra vào ngày mồng 1 tháng 4 (âm lịch). Vào ngày này, dân làng tổ chức lễ rước Long Ngư bao gồm 07 cỗ kiệu của ba đình: Đình Thượng, đình Hạ, đình Thủy tộc để tái hiện lại thiên tình sử mấy ngàn năm về trước của Chử Đồng Tử và Tiên Dung. Hai ngôi đình đều được xếp hạng di tích cấp Quốc gia: Đình Hạ xếp hạng năm 1988, đình Thượng xếp hạng năm 2002. Nguồn Cổng thông tin điện tử huyện Thường Tín , thành phố Hà Nội.
Hà Nội
6073 lượt xem
Xếp hạng : Di tích cấp quốc gia
Di tích Đình, Đền, Chùa Đào Xá.
Đến với làng Đào Xá, xã Thắng Lợi, huyện Thường Tín, du khách sẽ được chiêm bái những nét cổ kính, độc đáo của cụm di tích đình, chùa với những nét tinh xảo, độc đáo trong kiến trúc, được hòa mình vào không gian xanh, sạch, đẹp của làng quê yên bình với con người tài hoa, thân thiện, hiếu khách… Xã Thắng Lợi, huyện Thường Tín, nổi tiếng bởi có làng thêu Đào Xá với những sản phẩm có chất lượng nghệ thuật tinh xảo. Nơi đây còn là điểm đến của nhiều du khách xa gần bởi một tổng thể kiến trúc liên hoàn đặc sắc là đình Đông, đình Tây, chùa Đào Xá. Cả 3 di tích này đều được Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch xếp hạng Di tích lịch sử – văn hóa cấp quốc gia vào năm 2000. Đào Xá sở hữu nét đặc biệt mà ít có địa phương nào có được đó là trong một làng lại có tới 2 ngôi đình liền kề nhau. Hai ngôi đình được phân biệt theo cách gọi mộc mạc, dân dã: Đình Đông và đình Tây. Đình Tây Đào Xá vốn là đền thờ Chử Đồng Tử (một trong Tứ bất tử của người Việt) và Tiên Dung công chúa. Tương truyền, Chử Đồng Tử và Tiên Dung trong một lần đi ngang qua làng Đào Xá thấy phong cảnh hữu tình bèn dừng lại nghỉ chân. Để tưởng nhớ Đức thánh và Công chúa, người dân đã lập đền thờ. Đền được xây dựng thời Chính Hòa nguyên niên (1680-1705), đời vua Lê Hy Tông, có kiến trúc theo kiểu chữ “nhị”. Sau này, đền trở thành đình làng. Trước đại bái đình Tây có đôi sấu đá – linh vật phổ biến thời Lý – Trần, còn nguyên vẹn. Đại bái có 5 bậc lên, mái lợp ngói vảy cá, trên đắp nổi hình lưỡng long tranh châu, hai bên hồi có mái. Khoảng cách nối giữa đại bái và thượng điện khoảng 1m, hai bên cổng đắp hình tờ thánh chiếu đang mở ra. Hai bên vách đại bái có hai tấm bia đá chìm ghi lại sự kiện trùng tu đình. Đại bái có 2 bức đại tự chữ Hán “Nhạc độc chung linh” và “Thượng đẳng linh từ” ca ngợi công đức của đức thánh Chử Đồng Tử. Hệ thống cột gỗ được đặt trên các bệ đá, các đầu bảy được điêu khắc hình rồng tinh xảo cùng các linh vật được điêu khắc rời đặt trên hệ thống xà. Đình Đông Đào Xá trước là đền Lá Cọ, được xây dựng vào đầu thế kỷ XX theo kiểu kiến trúc liên hoàn hình chữ “tam”. Ba nếp nhà cao dần từ ngoài vào trong, nhà tiền tế có 4 hàng cột gỗ đặt trên trụ đá kiểu thắt cổ bồng, bên trái là một con chó đá nằm quay đầu ra ngoài. Ngôi đền thờ ông tổ nghề thêu Lê Công Hành (1606-1661), quê gốc ở làng Quất Động (nay là xã Quất Động, huyện Thường Tín). Nhờ giá trị tâm linh to lớn, đền được chuyển thành đình và được gọi là đình Đông để phân biệt với đình Tây thờ Chử Đồng Tử – Tiên Dung. Đình Đông có quy mô nhỏ hơn đình Tây. Đình Đông Đào Xá là nơi tổ chức lễ giỗ tổ nghề thêu Lê Công Hành vào ngày 12 tháng Sáu (âm lịch) hằng năm. Nằm giữa hai ngôi đình là chùa Đào Xá (Vân La tự), có quy mô nhỏ, với 36 pho tượng được bài trí theo từng lớp từ bái đường đến thượng điện. Trước sân chùa có cây hương chạm chữ Hán: “Vĩnh Khánh nguyên niên tuế tại Ất Dậu ngũ nguyệt cốc nhật” (dựng năm 1729, thời vua Lê Duy Phường). Đào Xá là một trong số ít làng còn giữ được kiến trúc tâm linh liên hoàn đình – đền – chùa và hệ thống sân, cổng, ao cùng cây cổ thụ. Tam quan là cổng chung cho cả quần thể được điêu khắc chi tiết. Trải qua thời gian, tam quan mang vẻ đẹp cổ kính, uy nghiêm. Mỗi cổng đều có 2 tầng, gác chuông, lầu khánh. Cổng chính đề 4 chữ Hán “Nhật chiếu nguyệt lâm”, hướng về phía tây nam, cao 15m, trước mặt là sân rộng tạo vẻ uy nghi, bề thế khi nhìn từ phía xa. Lễ hội làng Đào Xá tổ chức vào ngày 12 tháng Hai (âm lịch), cứ 5 năm lại tổ chức lễ tắm Thánh Chử Đồng Tử và Tiên Dung công chúa bằng nước lấy ở đầm Dạ Trạch (tỉnh Hưng Yên). Với những giá trị lịch sử to lớn, năm 2000, di tích đình Đông, đình Tây và chùa Đào Xá được Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch xếp hạng Di tích lịch sử – văn hóa cấp quốc gia. Năm 2009, làng Đào Xá được UBND thành phố Hà Nội công nhận là Làng nghề truyền thống. Đào Xá được nhiều du khách xa gần chọn làm điểm đến trong hành trình du lịch văn hóa tâm linh. Đến với Đào Xá, du khách sẽ được chiêm bái những nét cổ kính, độc đáo của cụm di tích đình chùa với những nét tinh xảo, độc đáo trong kiến trúc, được hòa mình vào không gian xanh, sạch, đẹp của làng quê còn giữ được những nét đặc trưng của nông thôn đồng bằng Bắc bộ. Không những thế, nếu có thời gian, du khách sẽ có thêm những trải nghiệm tuyệt vời tại làng nghề thêu Đào Xá để hiểu thêm về vùng đất, con người nơi này. Nguồn Sở văn hóa và thể thao thành phố Hà Nội.
Hà Nội
6244 lượt xem
Xếp hạng : Di tích cấp quốc gia
Đình Hà Hồi
Hà Hồi là xã ở phía đông bắc huyện Thường Tín. Trước cách mạng tháng Tám năm 1945, xã Hà Hồi thuộc tổng Hà Hồi, phủ Thường Tín, tỉnh Hà Đông. Nhắc đến xã Hà Hồi phải nói đến ngôi đình cổ nằm trong trung tâm xã - đình Hà Hồi, là một trong 6 ngôi đình cổ của vùng đồng bằng Bắc bộ còn tồn tại đến ngày nay. Đình được xây dựng cách đây khoảng hơn 400 năm vào thời nhà Lê, thế kỷ XVI. Theo các nhà khảo cổ học, thì ngôi đình được xây dựng vào năm 1578, đời Mạc Mậu Hợp, thờ Đức thánh Cao Sơn là Thành hoàng của làng. Do có nhiều công lao với dân với nước, ngài Cao Sơn Đại vương đã được các triều đại phong tặng 24 sắc phong còn lưu giữ đến ngày nay, sắc phong cao nhất là Thượng đẳng tối linh thần. Theo dòng lịch sử, ngôi đình đã trải qua nhiều triều đại, sự thăng trầm của thời gian và chiến tranh, đình được tu bổ nhiều lần, song vẫn giữ nguyên được những giá trị nghệ thuật, kiến trúc tinh hoa của các nghệ nhân xưa. Đình Hà Hồi được xây dựng bố cục theo hình chữ Tam, hướng Nam chếch Đông, trước mặt là một thủy đình khá lớn. Tòa đại đình gồm 3 hạng mục lớn, nằm song song liền kề, gồm: Đại bái, Trung cung và Hậu cung. Mái đình được thiết kế theo kiểu hình thuyền lợp ngói mũi, các vì kèo được thiết kế theo hệ thống chồng giường, tạo nên sự vững chắc bề thế cho ngôi đình, phần nền được lát đá nguyên khối, tạo không gian thoáng mát. Đình còn lưu giữ bảo tồn được các mảng kiến trúc chạm trổ, điêu khắc nghệ thuật, thể hiện ở các bức cốn như: Tứ linh (Long, lân, quy, phượng), chuột ngó đầu gậm lá sen, các đầu dư, đầu bẩy chạm khắc rồng hết sức mềm mại và tinh vi. Bức hoành phi ở Trung cung phiên âm hán việt là: “Hộ quốc tí dân” (dịch nghĩa: Phù giúp đất nước, che chở muôn dân). Bên cạnh là đôi câu đối. Phiên âm Hán việt như sau: “Nãi văn nãi vũ, thần công hà hải hộ khang dân, Tối tú tối linh, thánh đức thường lưu phù quốc thái.” Dịch nghĩa: “Là văn là võ, công lao của thần như biển hồ ngầm giúp dân chúng yên ổn, Xuất chúng uy linh, đức của thánh lưu truyền phù trì vận nước thái bình”. Ngoài gian Đại bái có bức hoành phi chính giữa đề 04 chữ là “Sơn anh hà tú” (Tạm dịch nghĩa là: Núi sông anh linh tối tú). Ngoài ra đình còn lưu giữ được nhiều câu đối, hoành phi, cửa võng…và các hạng mục kiến trúc theo phong cách truyền thống bắc bộ, đặc biệt là hai pho tượng phỗng đá Xiêm Thành ngay trước cửa Hậu cung. Phía ngoài sân, trước thềm đại bái, hai đầu hồi có hai tượng chó đá, chính giữa có hai bệ đá chạm khắc rồng tinh tế, tỉ mỉ bằng đá Lam Sơn (Thanh Hóa). Hai dãy nhà hai bên (tả mạc – hữu mạc) hơi lùi xuống so với tòa Đình chính. Nhìn tổng thể từ ngoài vào cổng đình Hà Hồi có tới 5 cửa hay còn gọi là (ngũ môn), khác với những ngôi đình khác, cổng được xây dựng thiết kế theo hình vòng cung, ôm lấy ngôi đình, ba cửa chính giữa có dáng dấp của một tam quan, cửa chính cao tới 15m, tầng dưới được xây thành những khối vuông, cửa dạng cuốn vòm, mái kiểu chồng diêm lợp ngói ri. Hai bên cửa phụ được xây dựng nhỏ hơn, theo kiểu một tầng, nối với tường chạy bao quanh diện tích vào đến nhà Tả mạc - hữu mạc. Qua khỏi Ngũ môn nối với khoảng sân hẹp bắc qua thủy đình là chiếc cầu gạch có 5 nhịp, thành cầu được trang trí những viên gạch có màu men xanh ngọc. Có thể nói, Đình Hà Hồi là công trình kiến trúc nghệ thuật, toàn bộ không gian là tổng hòa của tri thức, ở đó mang hồn cốt kiến trúc dân tộc, ẩn chứa trong mình cả một hệ thống văn hóa – lịch sử. Với những giá trị nghệ thuật và giá trị lịch sử, Đình Hà Hồi như một báu vật lịch sử mà tiền nhân để lại cho hậu thế. Ngày 23/12/1985, Đình Hà Hồi đã được Bộ Văn hóa thông tin công nhận là Di tích lịch sử văn hóa cấp Quốc gia. Nguồn Cổng thông tin điện tử huyện Thường Tín , thành phố Hà Nội.
Hà Nội
6367 lượt xem
Xếp hạng : Di tích cấp quốc gia
Di tích nổi bật
Xem tất cả








































































