Di tích lịch sử

Xem dạng bản đồViệt nam

Danh sách điểm di tích (1477)

Đình Châu Mai

Đình Châu Mai

Đình Châu Mai nay thuộc xã Dân Hòa, thành phố Hà Nội, là công trình tín ngưỡng có giá trị về lịch sử, kiến trúc và nghệ thuật, đồng thời là nơi sinh hoạt văn hóa của cộng đồng địa phương. Theo thần phả, đình thờ Phả Tế Minh Lang thần đại tướng quân, vị tướng dưới triều Trần, có công cùng quân dân nhà Trần chống quân Nguyên – Mông xâm lược thế kỷ XIII. Ông đã chiến đấu và hy sinh tại trận Bạch Đằng, góp phần vào thắng lợi của quân dân Đại Việt. Sau khi ông mất, người dân Châu Mai tôn làm Thành hoàng và lập đình thờ phụng. Đình được xây dựng vào năm 1904, dưới triều vua Thành Thái, mang đặc trưng kiến trúc đình làng thời Nguyễn. Quần thể gồm nghi môn, sân đình, tả vu, hữu vu, đại bái và hậu cung. Nổi bật là hệ thống chạm khắc trên kiến trúc gỗ với các đề tài tứ linh, tứ quý cùng hình ảnh cá, cua, chuột sinh động, thể hiện nét đặc sắc của nghệ thuật dân gian vùng đồng bằng Bắc Bộ. Đình hiện còn lưu giữ nhiều bia đá, hoành phi, câu đối, sắc phong, thần phả và đồ thờ tự có giá trị. Lễ hội đình được tổ chức từ ngày 10 đến 14 tháng 8 âm lịch hằng năm góp phần bảo tồn và phát huy những giá trị văn hóa truyền thống của vùng đất Dân Hòa hôm nay. Nguồn: Cổng Thông tin điện tử thành phố Hà Nội

Hà Nội

74 lượt xem

Xếp hạng : Di tích cấp quốc gia

Mở

Đền Thần Nông

Đền Thần Nông

Đền Thần Nông tọa lạc tại thôn Tri Khê, xã Thạch Hà, tỉnh Hà Tĩnh, là một địa điểm sinh hoạt văn hóa, tín ngưỡng gắn bó với đời sống sản xuất nông nghiệp của người dân địa phương qua nhiều thế hệ. Trong tín ngưỡng dân gian, Thần Nông được xem là vị thần bảo hộ nghề nông, gắn với việc dạy dân cày cấy, trồng trọt và cầu mong mưa thuận gió hòa, mùa màng bội thu, cuộc sống ấm no. Theo tư liệu lịch sử, đền được xây dựng từ thời Nguyễn. Qua thời gian, công trình trở thành nơi người dân thực hành tín ngưỡng, tưởng nhớ vị thần gắn với nghề nông và gửi gắm những mong ước về cuộc sống bình an, sản xuất thuận lợi. Việc thờ Thần Nông tại đây cũng phản ánh vai trò quan trọng của nông nghiệp trong đời sống kinh tế và văn hóa của cộng đồng cư dân địa phương. Năm 2022, đền được trùng tu, tôn tạo với nhiều hạng mục đồng bộ như cổng đền, thượng điện, nhà tả vu, nhà hữu vu, tường rào và khuôn viên. Công trình sau trùng tu vừa đáp ứng nhu cầu sinh hoạt tín ngưỡng, vừa góp phần gìn giữ không gian kiến trúc truyền thống của di tích. Ngày nay, đền Thần Nông không chỉ là nơi sinh hoạt tín ngưỡng của người dân mà còn là địa điểm giúp du khách tìm hiểu về tín ngưỡng thờ Thần Nông và truyền thống văn hóa nông nghiệp của cư dân Hà Tĩnh. Nguồn: Báo Hà Tĩnh

Hà Tĩnh

98 lượt xem

Xếp hạng : Di tích cấp tỉnh

Mở

Chùa Du Anh

Chùa Du Anh

Chùa Du Anh nằm dưới chân núi Xuân Đài, thuộc quần thể danh thắng động Hồ Công, là một ngôi chùa có lịch sử lâu đời, được lập từ thời Lý. Đến thời Trần, vua Trần Nghệ Tông từng đưa công chúa Du Anh về lễ chùa và dưỡng bệnh. Sau khi công chúa khỏi bệnh, chùa được nâng cấp và từ đó mang tên Du Anh. Đầu thế kỷ XVII, chùa được Quảng quận công Trịnh Vĩnh Lộc cho xây dựng lại. Công trình từng có cảnh quan hài hòa với núi Trác Phong, động Hồ Công cùng Nhật Hồ và Nguyệt Hồ. Đặc biệt, chùa còn lưu giữ voi đá và sư tử đá được xem là những dấu tích có giá trị của thời Trần, cùng bia Trùng tu Xuân Đài sơn Hồ Công động Du Anh tự bi dựng năm 1605, ghi lại lịch sử trùng tu chùa và cảnh quan danh thắng nơi đây. Ngày nay, chùa Du Anh đã được trùng tu, gồm chùa chính, nhà Mẫu, nhà Tổ và các công trình phụ trợ. Cùng với núi Xuân Đài, động Hồ Công và núi Trác Phong, chùa tạo nên một quần thể di tích – danh thắng giàu giá trị lịch sử, văn hóa và cảnh quan. Nguồn: Chùa Xứ Thanh

Thanh Hóa

99 lượt xem

Xếp hạng : Di tích cấp quốc gia

Mở

Nhà thờ Tiền hiền Phong Lệ

Nhà thờ Tiền hiền Phong Lệ

Nhà thờ Tiền hiền Phong Lệ là di tích kiến trúc nghệ thuật cấp thành phố ở thôn Phong Nam, phường Hòa Xuân, thành phố Đà Nẵng. Gắn với lịch sử hình thành và phát triển của làng Phong Lệ. Công trình được xây dựng năm 1898, sau nhiều lần trùng tu, tái thiết vẫn lưu giữ những nét kiến trúc truyền thống đặc trưng của miền Trung, với mái ngói âm dương cùng các mảng chạm khắc hình lưỡng long chầu nhật, lưỡng phụng triều nguyệt và hoa văn tinh xảo trên hệ thống cột, kèo. Nhà thờ là nơi thờ các bậc tiền hiền, hậu hiền và sinh hoạt văn hóa của cộng đồng các tộc họ làng Phong Lệ. Đây cũng là không gian lưu giữ những giá trị truyền thống gắn với quá trình khai làng, lập ấp và đời sống văn hóa của cư dân địa phương. Di tích hiện là một địa chỉ góp phần bảo tồn, giáo dục truyền thống và phát huy các giá trị văn hóa của làng Phong Lệ. Nguồn: Báo Văn Hóa

Đà Nẵng

87 lượt xem

Xếp hạng : Di tích cấp tỉnh

Mở

Đền thờ Cô Bé Minh Lương

Đền thờ Cô Bé Minh Lương

Đền thờ Cô Bé Minh Lương là một điểm đến tâm linh nằm trên một quả đồi, thuộc khu vực Minh Lương, nay thuộc xã Lăng Quán, tỉnh Tuyên Quang. Đền được bao bọc bởi ngòi Lịch và ngòi Cơi; hai dòng suối gặp nhau trước cửa đền rồi chảy về sông Lô, tạo nên không gian xanh mát, yên bình. Đền thờ Cô Bé Minh Lương, một vị tiên cô trong tín ngưỡng Tứ phủ, đồng thời có các ban thờ Phật và Đức Thánh Trần. Trải qua nhiều lần trùng tu, đền hiện có Lầu Cô, Lầu Cậu, Quan Sơn Thần, ban Mẫu Cửu Trùng Thiên cùng các công trình phục vụ du khách. Đặc biệt, trước cửa đền có hai cây thiên tuế cổ, trong đó một cây được cho là đã có tuổi đời hàng trăm năm. Hằng năm, ngày 24 tháng 6 âm lịch là ngày tiệc Cô Bé Minh Lương, thu hút người dân và du khách đến dâng hương, cầu bình an, tài lộc. Đền cũng nằm trong không gian du lịch tâm linh gắn với các điểm đến và làng văn hóa của khu vực Yên Sơn. Nguồn: Chốn Thiêng – Danh bạ tâm linh đất Việt

Tuyên Quang

94 lượt xem

Xếp hạng : Di tích cấp quốc gia

Mở

Động Hồ Công

Động Hồ Công

Động Hồ Công – Kỳ quan giữa non nước xứ Thanh. Quần thể di tích danh thắng Động Hồ Công nằm tại xã Vĩnh Lộc, tỉnh Thanh Hóa, gồm động Hồ Công, núi Xuân Đài, núi Trác Phong và chùa Du Anh. Động Hồ Công nằm ở lưng chừng núi Xuân Đài, có cảnh quan độc đáo với những khối đá tự nhiên và nhiều dấu tích văn hóa. Trên vách động còn lưu giữ nhiều bài thơ đề vịnh của các vua, chúa và danh nhân như Lê Thánh Tông, Lê Hiến Tông, Nguyễn Nghiễm, Trịnh Sâm. Đặc biệt, nơi đây từng được ca ngợi là “Hồ Công đệ nhất” trong số 36 động đẹp của trời Nam. Dưới chân núi là chùa Du Anh, được cho là có từ thời Lý, góp phần tạo nên quần thể hài hòa giữa núi, động, sông nước và không gian tâm linh. Với những giá trị nổi bật về lịch sử, văn hóa, tôn giáo và cảnh quan, quần thể Động Hồ Công được xếp hạng di tích cấp quốc gia năm 2009. Nguồn: Báo Thanh Hóa

Thanh Hóa

101 lượt xem

Xếp hạng : Di tích cấp quốc gia

Mở

Khu linh địa cổ Mẫu Sơn

Khu linh địa cổ Mẫu Sơn

Khu linh địa cổ Mẫu Sơn nằm ở độ cao khoảng 1.190m so với mực nước biển, trên sườn phía Đông – Nam dãy núi Mẫu Sơn, thuộc thôn Lặp Pịa, xã Mẫu Sơn, tỉnh Lạng Sơn. Các dấu tích tại đây có niên đại từ khoảng thế kỷ X đến đầu thế kỷ XX, gắn với đời sống tín ngưỡng của cộng đồng cư dân sinh sống trên dãy Mẫu Sơn. Theo tư liệu khảo cổ, chủ nhân của khu linh địa thời kỳ đầu là người Tày cổ; về sau có sự hiện diện của người Nùng và Dao. Cộng đồng cư dân đã lập nơi thờ thần núi và duy trì các nghi lễ, hoạt động tín ngưỡng nhằm cầu mong bình an, cuộc sống thuận lợi. Năm 2003, Bảo tàng Lạng Sơn tiến hành khai quật và phát hiện nhiều dấu tích của khu linh địa. Hiện nay, du khách có thể tìm thấy những dấu vết của công trình đền cổ như chân cột đá, tường đá, tường gạch, bậc thềm, cánh cửa đá và hầm mộ đá. Hành trình đến khu linh địa cổ cũng là dịp khám phá hệ sinh thái rừng trên dãy Mẫu Sơn. Từ khu di tích, du khách có thể quan sát cảnh quan núi rừng rộng lớn, tìm hiểu thêm về lịch sử cư trú và đời sống tín ngưỡng của các cộng đồng dân tộc ở vùng núi biên giới Lạng Sơn. Với giá trị khảo cổ, lịch sử và văn hóa, Khu linh địa cổ Mẫu Sơn là một điểm đến đặc biệt trên dãy Mẫu Sơn, góp phần làm rõ những lớp văn hóa lâu đời của vùng đất này. Nguồn: Báo và Phát thanh, Truyền hình Lạng Sơn

Lạng Sơn

124 lượt xem

Xếp hạng : Di tích cấp quốc gia

Mở

Núi Tô Thị

Núi Tô Thị

Núi Tô Thị, còn gọi là núi Vọng Phu, nằm ở phía tây bắc núi Tam Thanh, thuộc phường Tam Thanh, tỉnh Lạng Sơn. Trên núi có một khối đá tự nhiên mang hình dáng người phụ nữ bồng con, hướng ánh nhìn về phía xa. Hình tượng này từ lâu đã gắn với câu chuyện dân gian về nàng Tô Thị – người phụ nữ thủy chung chờ chồng đi chinh chiến. Theo truyền thuyết, nàng Tô Thị bồng con đứng trên núi ngóng chờ chồng trở về. Chờ đợi trong thời gian dài, hai mẹ con hóa thành đá. Từ đó, hình tượng người phụ nữ bồng con trên núi được gọi là nàng Tô Thị, trở thành biểu tượng quen thuộc của lòng son sắt, thủy chung trong văn hóa dân gian Việt Nam. Qua thời gian, khối đá chịu tác động của thiên nhiên và từng bị hư hại. Để bảo tồn hình ảnh gắn với một biểu tượng văn hóa của Lạng Sơn, địa phương đã phục dựng hình tượng nàng Tô Thị. Ngày nay, núi Tô Thị là một điểm tham quan gắn với quần thể danh thắng Tam Thanh – Nhị Thanh, thu hút du khách đến tìm hiểu cảnh quan và những câu chuyện dân gian đặc sắc của xứ Lạng. Không chỉ có giá trị về cảnh quan, núi Tô Thị còn là hình ảnh giàu ý nghĩa trong đời sống văn hóa Việt Nam, gắn với câu chuyện về tình yêu, lòng thủy chung và sự chờ đợi. Nguồn: Cục Du lịch Quốc gia Việt Nam

Lạng Sơn

114 lượt xem

Xếp hạng : Di tích cấp quốc gia

Mở

Đình Vĩnh Ngươn

Đình Vĩnh Ngươn

Đình Vĩnh Ngươn tọa lạc tại khu vực đầu kênh Vĩnh Tế, nơi giao nhau với sông Hậu, thuộc phường Châu Đốc, tỉnh An Giang. Đình được hình thành từ quá trình cư dân đến khai phá, lập làng ở vùng đất Châu Đốc. Đây là nơi thờ Thành hoàng và các vị được phối thờ, trong đó có Nguyễn Hữu Lễ, đồng thời là không gian sinh hoạt tín ngưỡng của cộng đồng cư dân địa phương. Năm 2011, đình được công nhận là di tích kiến trúc nghệ thuật cấp quốc gia. Về kiến trúc, đình mang đặc trưng của đình làng Nam Bộ với hệ thống mái ngói, các mảng trang trí rồng, phượng và những cột gỗ được chạm khắc các hình tượng Long – Lân – Quy – Phụng. Không gian đình kết hợp hài hòa giữa giá trị kiến trúc truyền thống và cảnh quan sông nước đặc trưng của vùng Châu Đốc. Hằng năm, đình tổ chức các nghi lễ truyền thống, trong đó có lễ cúng Thần hoàng Nguyễn Hữu Lễ vào ngày 16/4 âm lịch, cầu mong quốc thái dân an, mưa thuận gió hòa, cuộc sống bình an, no đủ. Những nghi lễ này góp phần duy trì đời sống tín ngưỡng và phong tục truyền thống của cộng đồng cư dân địa phương, góp phần giới thiệu những nét đặc sắc trong đời sống văn hóa của cư dân vùng sông nước Tây Nam Bộ. Nguồn: Báo An Giang

An Giang

123 lượt xem

Xếp hạng : Di tích cấp quốc gia

Mở

Địa đạo Suối Linh

Địa đạo Suối Linh

Địa đạo Suối Linh được xây dựng và sử dụng trong giai đoạn 1962–1967, nằm giữa vùng rừng nguyên sinh miền Đông Nam Bộ. Địa đạo Suối Linh là di tích lịch sử cấp quốc gia, thuộc xã Trị An, tỉnh Đồng Nai và do Khu Bảo tồn Thiên nhiên - Văn hóa Đồng Nai quản lý Địa đạo được xây dựng trên một khu đồi tương đối bằng phẳng, gồm hệ thống giao thông hào dài khoảng 260,7m và hệ thống địa đạo liên hoàn dài 383,5m, phân bố theo hai hướng Bắc và Đông Bắc. Các đường hầm được thiết kế quanh co, có tầng trên, tầng dưới, lỗ thông hơi và nhiều miệng địa đạo vừa đủ cho một người chui qua. Hệ thống hầm trú ẩn được bố trí trên mặt bằng địa đạo, kết hợp với các tuyến phòng thủ từ xa bằng rào cây và chông. Từ năm 1962 đến 1967, Ban Thông tin Khu Đông Nam Bộ đứng chân tại đây, tổ chức đào tạo cán bộ thông tin, lắp ráp, sửa chữa máy móc và vận hành hệ thống điện đài phục vụ chiến trường. Từ căn cứ Suối Linh, thông tin liên lạc giữa Trung ương, Khu ủy và các tỉnh được duy trì, góp phần phục vụ công tác chỉ đạo chiến đấu trên nhiều chiến trường ở Đông Nam Bộ. Với hệ thống công trình ngầm được tổ chức chặt chẽ, khoa học và phù hợp với điều kiện chiến đấu, Địa đạo Suối Linh là một trong những di tích quan trọng gắn với hoạt động thông tin liên lạc trong kháng chiến chống Mỹ. Cùng với các căn cứ cách mạng tại Chiến khu Đ, di tích góp phần làm rõ vai trò của vùng căn cứ Đông Nam Bộ trong lịch sử đấu tranh giải phóng dân tộc. Nguồn: Báo Đồng Nai

Đồng Nai

142 lượt xem

Xếp hạng : Di tích cấp quốc gia

Mở

Đình Bàn Môn

Đình Bàn Môn

Đình Bàn Môn nằm bên sông Truồi, thuộc thôn Nam, làng Bàn Môn, xã Lộc An, thành phố Huế. Được xây dựng vào cuối thế kỷ XIX, đình là nơi thờ hai vị khai canh, khai khẩn và là không gian sinh hoạt cộng đồng của người dân địa phương. Trong lịch sử cách mạng, Đình Bàn Môn từng là một địa điểm quan trọng của phong trào cách mạng ở vùng Truồi. Giai đoạn 1936–1939, Chi bộ cộng sản Truồi đã tổ chức tại đây các hoạt động thực hiện chủ trương thành lập Hương hội theo chế độ dân chủ và chia công điền, công thổ cho nông dân. Năm 1942, khi trung tâm lãnh đạo cách mạng tỉnh Thừa Thiên chuyển về Phú Lộc, đồng chí Nguyễn Chí Thanh đã hoạt động tại Đình Bàn Môn và truyền đạt Nghị quyết 8 của Trung ương về thành lập Mặt trận Việt Minh và chuẩn bị khởi nghĩa. Trong những năm 1944–1945, đình là nơi tổ chức các cuộc mít tinh bí mật, huấn luyện lực lượng tự vệ, chuẩn bị cho Tổng khởi nghĩa giành chính quyền. Sau Cách mạng Tháng Tám, đình trở thành trụ sở của Mặt trận Việt Minh và Ủy ban nhân dân cách mạng xã Đại Thành, đồng thời là nơi phát động nhiều phong trào cứu quốc và tổ chức bỏ phiếu bầu Quốc hội đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ngày 6/1/1946. Trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ, Đình Bàn Môn tiếp tục là nơi trú quân của bộ đội chủ lực và bộ đội địa phương. Ngày nay, di tích là nơi lưu giữ những dấu ấn về truyền thống văn hóa và lịch sử cách mạng của vùng đất Bàn Môn, góp phần giáo dục truyền thống cho các thế hệ hôm nay và mai sau. Nguồn: Cổng thông tin điện tử Thành phố Huế

Thừa Thiên Huế

142 lượt xem

Xếp hạng : Di tích cấp quốc gia

Mở

Đình Kim Mã Thượng

Đình Kim Mã Thượng

Đình Kim Mã Thượng nằm tại khu vực ngõ 294 phố Đội Cấn, phường Ngọc Hà, thành phố Hà Nội, là một di tích gắn với làng Kim Mã Thượng – một trong những làng cổ thuộc khu vực Thập tam trại phía Tây kinh thành Thăng Long xưa. Theo truyền thống địa phương, đình thờ Linh Lang Đại vương, vị thần được tôn thờ tại nhiều làng phía Tây kinh thành và gắn với truyền thuyết về vị hoàng tử có công đánh giặc thời Lý. Từ lâu, đình là nơi sinh hoạt tín ngưỡng và văn hóa cộng đồng của cư dân Kim Mã Thượng. Đình từng bị ảnh hưởng bởi chiến tranh và trải qua nhiều lần tu sửa. Trong khuôn viên di tích từng có Trường Tiểu học Nguyễn Bá Ngọc, ngôi trường đã gắn bó với đình trong nhiều thập kỷ trước khi chuyển sang địa điểm mới. Đây cũng là một dấu ấn đặc biệt trong lịch sử sử dụng và bảo tồn di tích giữa lòng đô thị. Hằng năm, đình tổ chức các nghi lễ và lễ hội truyền thống, trong đó có những ngày lễ tưởng niệm Linh Lang Đại vương, thu hút nhân dân địa phương tham gia. Những hoạt động này góp phần duy trì phong tục, tín ngưỡng và sự gắn kết cộng đồng. Ngày nay, Đình Kim Mã Thượng là một dấu tích quan trọng của làng Kim Mã Thượng xưa, góp phần lưu giữ những giá trị lịch sử, văn hóa và tín ngưỡng của khu vực phía Tây Thăng Long trong không gian Hà Nội hiện đại. Nguồn: Di tích Đình làng Kim Mã Thượng (phường Ngọc Hà)

Hà Nội

159 lượt xem

Xếp hạng : Di tích cấp quốc gia

Mở

Đình Kim Mã Hạ

Đình Kim Mã Hạ

Đình Kim Mã Hạ nằm tại số 61 phố Kim Mã, nay thuộc phường Giảng Võ, thành phố Hà Nội, là di tích lịch sử, kiến trúc nghệ thuật gắn với lịch sử làng Kim Mã xưa. Theo thư tịch, sắc phong và thần phả, đình thờ ba vị Thành hoàng là Bố Cái Đại vương Phùng Hưng, Linh Lang Đại vương và Thái tể Hoàng Phúc Trung. Trong đó, Phùng Hưng là vị anh hùng dân tộc thế kỷ VIII, người đã lãnh đạo nhân dân nổi dậy chống chính quyền đô hộ nhà Đường, giành quyền làm chủ ở Tống Bình. Nhân dân trại Mã xưa tôn ông làm Thành hoàng và lập đình thờ phụng. Đình từng bị thực dân Pháp phá hủy, sau đó được sửa chữa và khôi phục làm nơi thờ tự. Di tích hiện còn văn bia dựng năm 1875 ghi lại những thông tin về Phùng Hưng và làng Kim Mã, cùng sắc phong, thần phả và một cỗ ngai có niên đại thế kỷ XIX. Cách đình khoảng 500 m còn có lăng Phùng Hưng, cũng là một di tích lịch sử. Dù kiến trúc đã có nhiều thay đổi, địa điểm đình vẫn gắn với lịch sử làng Kim Mã và những dấu tích, truyền thuyết về khu vực phía Tây kinh thành Thăng Long, trong đó có câu chuyện về nơi luyện ngựa của cung đình thời Lý. Đình Kim Mã Hạ được xếp hạng di tích lịch sử, kiến trúc nghệ thuật năm 1990. Ngày nay, di tích là nơi lưu giữ những giá trị lịch sử, tín ngưỡng và ký ức văn hóa của làng Kim Mã xưa giữa không gian đô thị Hà Nội. Nguồn: Hà Nội Danh thắng và Di tích

Hà Nội

143 lượt xem

Xếp hạng : Di tích cấp quốc gia

Mở

Đền thờ Dương Đình Nghệ

Đền thờ Dương Đình Nghệ

Đền thờ Dương Đình Nghệ nằm tại làng Dương Xá (làng Giàng), nay thuộc phường Hàm Rồng, tỉnh Thanh Hóa, là di tích lịch sử gắn với Dương Đình Nghệ – vị hào trưởng, danh tướng có công lớn trong cuộc đấu tranh giành lại nền tự chủ của dân tộc thế kỷ X. Dương Đình Nghệ vốn là tướng của họ Khúc. Sau khi chính quyền họ Khúc thất bại, ông trở về Dương Xá, tập hợp lực lượng, chiêu nạp hào kiệt và xây dựng căn cứ. Năm 931, từ quê hương, Dương Đình Nghệ đưa quân ra Bắc, bao vây và đánh chiếm thành Đại La, đánh tan quân Nam Hán do Trình Bảo chỉ huy. Chiến thắng này góp phần khôi phục nền tự chủ của đất nước, tạo tiền đề quan trọng cho chiến thắng Bạch Đằng năm 938 của Ngô Quyền, con rể ông. Dương Đình Nghệ bị Kiều Công Tiễn sát hại năm 937. Sau khi mất, ông được nhân dân quê hương tôn làm Phúc thần và lập đền thờ để tưởng nhớ công lao. Đền được Nhà nước xếp hạng Di tích lịch sử - văn hóa cấp quốc gia năm 1996. Trải qua nhiều lần tu bổ, đền vẫn giữ được vẻ cổ kính, uy nghiêm và lưu giữ nhiều hiện vật có giá trị như tượng voi quỳ, ngựa đá, đôi phỗng đá và bia đá ghi công đức. Bên cạnh đền là chùa Phúc Hưng, tạo thành không gian văn hóa, tín ngưỡng gắn với lịch sử vùng Dương Xá. Hằng năm, lễ hội đền Dương Đình Nghệ được tổ chức vào mùa xuân, thu hút nhân dân và du khách về tưởng niệm vị danh tướng có công đánh đuổi quân Nam Hán, góp phần mở ra thời kỳ tự chủ của dân tộc. Nguồn: Trang thông tin điện tử phường Hàm Rồng

Thanh Hóa

145 lượt xem

Xếp hạng : Di tích cấp quốc gia

Mở

Đền thờ Trạng nguyên Nguyễn Hiền

Đền thờ Trạng nguyên Nguyễn Hiền

Đền thờ Trạng nguyên Nguyễn Hiền nằm tại thôn Dương A, xã Nam Hồng, tỉnh Ninh Bình, là di tích lịch sử - văn hóa gắn với cuộc đời và sự nghiệp của Nguyễn Hiền, vị Trạng nguyên trẻ tuổi nhất trong lịch sử khoa bảng Việt Nam. Nguyễn Hiền sinh năm 1235 tại làng Dương Miện xưa. Xuất thân trong hoàn cảnh khó khăn nhưng sớm nổi tiếng thông minh, ham học, năm 1247, khi mới 13 tuổi, ông đỗ Trạng nguyên dưới triều Trần Thái Tông. Sau khi ra làm quan, Nguyễn Hiền được triều đình trọng dụng, có nhiều đóng góp trong việc bang giao, quân sự và trị thủy. Ông mất năm 1255 khi tuổi đời còn rất trẻ. Sau đó, triều đình cho lập đền thờ tại quê nhà, nhân dân tôn ông làm Thành hoàng để tưởng nhớ tài năng và công lao của vị hiền tài. Trải qua nhiều lần tu bổ, di tích vẫn lưu giữ những nét kiến trúc truyền thống của vùng đồng bằng Bắc Bộ. Đền có bố cục “tiền chữ Nhất - hậu chữ Đinh”, gồm tiền đường, cung đệ nhị và cung cấm. Hệ thống khung gỗ lim cùng các mảng chạm khắc như long ẩn vân, cá hóa long, trúc hóa long; cửa gỗ lim chạm tứ quý và các sắc phong, câu đối, đại tự góp phần tạo nên giá trị lịch sử, nghệ thuật của di tích. Hằng năm, vào mồng 10 tháng Giêng, đền tổ chức lễ khai bút đầu xuân với sự tham gia của nhân dân, giáo viên và học sinh. Hoạt động này thể hiện sự tri ân tiền nhân, đồng thời góp phần gìn giữ và lan tỏa truyền thống hiếu học của quê hương. Với giá trị về lịch sử, kiến trúc và giáo dục truyền thống, Đền thờ Trạng nguyên Nguyễn Hiền là một điểm đến văn hóa tiêu biểu của xã Nam Hồng, góp phần giới thiệu truyền thống khoa bảng và tinh thần trọng học, trọng tài của vùng đất Ninh Bình. Nguồn: Trang thông tin điện tử Văn nghệ Ninh Bình

Ninh Bình

110 lượt xem

Xếp hạng : Di tích cấp quốc gia

Mở

Đền Sơn Hải

Đền Sơn Hải

Đền Sơn Hải, tên chữ là Sơn Hải linh từ, hiện ở số 16, ngõ 53 đường Bạch Đằng, phường Hồng Hà, thành phố Hà Nội, bên cầu Chương Dương và hướng ra sông Hồng. Theo tư liệu của Bảo tàng Lịch sử Quốc gia, đền thờ Quốc công tiết chế Hưng Đạo Đại vương Trần Quốc Tuấn; đồng thời thờ bốn người con trai của Ngài gồm Trần Quốc Nghiễn, Trần Quốc Hiến, Trần Quốc Tảng, Trần Quốc Uất cùng 18 vị tướng tài danh thời Trần. Theo tư liệu tại đền, năm 1785, cư dân các làng vạn chài ven sông đã dựng đền thờ Đức Thánh Trần. Đền từng nằm trên khu vực bãi sông Hồng, gắn với đời sống của cộng đồng cư dân làm nghề chài lưới. Năm 1946, đền bị cháy trong chiến tranh, các bài vị, tượng thờ và đồ tế tự được người dân đưa xuống thuyền đinh để tiếp tục gìn giữ. Đến năm 1984, đền được xây dựng lại trên khu đất hiện nay và các đồ thờ được rước lên bờ. Không gian thờ tự của đền thể hiện rõ tín ngưỡng tôn thờ các nhân vật lịch sử thời Trần. Gian giữa thờ Trần Hưng Đạo cùng Yết Kiêu, Dã Tượng và bốn người con trai; hai bên tiền tế thờ 18 vị tướng nhà Trần. Hậu cung phối thờ Trúc Lâm Tam Tổ gồm Trần Nhân Tông, Pháp Loa và Huyền Quang, cùng một số nhân vật khác của triều Trần. Hằng năm, đền có các ngày lễ, ngày giỗ tưởng niệm Đức Thánh Trần và các nhân vật được thờ tại đây, tiêu biểu là ngày 20 tháng 8 – ngày giỗ Trần Hưng Đạo. Với lịch sử hình thành gắn với cộng đồng cư dân ven sông và hệ thống thờ tự phong phú, Đền Sơn Hải là một địa điểm có giá trị về lịch sử, văn hóa và tín ngưỡng trên không gian ven sông Hồng của Hà Nội. Nguồn: Bảo tàng Lịch sử Quốc gia

Hà Nội

175 lượt xem

Xếp hạng : Di tích cấp tỉnh

Mở

Chùa Sơn Hải

Chùa Sơn Hải

Chùa Sơn Hải còn được người dân địa phương gọi là Đền Nẻ hoặc gắn liền với địa danh cổ Gia Đôi, là một di tích lịch sử và văn hóa tâm linh nổi tiếng, tọa lạc tại xóm Đông Sơn, xã Hải Lộc, tỉnh Nghệ An. Chùa được xây dựng vào thời Nguyễn tại xã La Hoàng, tổng La Hoàng, huyện Chân Lộc xưa. Chùa Sơn Hải thờ Phật, Bồ-tát theo hệ phái Phật giáo Bắc tông. Trong quá trình lịch sử, do chiến tranh và sự biến đổi của các công trình tín ngưỡng trong vùng, nhân dân đã đưa long ngai, bài vị và tượng thờ từ một số đền, miếu về phối thờ tại chùa. Hiện chùa còn thờ các vị như Tam Tòa Thánh Mẫu, Tứ Vị Thánh Nương, Cao Sơn Cao Các, Sát Hải Đại vương Hoàng Tá Thốn và Bạch Y Công chúa. Về kiến trúc, Chùa Sơn Hải hiện còn các hạng mục có nguồn gốc từ thời Nguyễn. Trong đó, tam quan là một công trình kiến trúc gốc còn khá nguyên vẹn, cùng hệ thống hạ điện, trung điện và thượng điện. Chùa cũng lưu giữ nhiều hiện vật cổ như tượng Phật, tượng thần, hương án, hoành phi, đại tự, góp phần phản ánh lịch sử hình thành và đời sống tín ngưỡng của cộng đồng cư dân địa phương. Không chỉ là nơi thờ tự, Chùa Sơn Hải còn là không gian sinh hoạt văn hóa cộng đồng. Hằng năm, bên cạnh các nghi lễ như Phật Đản, Vu Lan và lễ giỗ Đức Thánh Mẫu, tại đây còn duy trì một số hoạt động hội truyền thống như cờ người, kéo co, đi cà kheo, chọi gà... Những hoạt động này góp phần bảo tồn phong tục, tạo không gian giao lưu văn hóa và đáp ứng nhu cầu tín ngưỡng của người dân, du khách. Nguồn: Báo Nghệ An

Nghệ An

121 lượt xem

Xếp hạng : Di tích cấp tỉnh

Mở

Phủ Đàng Cao

Phủ Đàng Cao

Phủ Đàng Cao – dấu ấn kiến trúc độc đáo giữa vùng quê xứ Nghệ. Giữa cánh đồng Am, xã Đại Đồng, tỉnh Nghệ An, Phủ Đàng Cao là một di tích lịch sử – kiến trúc nghệ thuật có giá trị, gắn với lịch sử dòng họ Nguyễn Cảnh và vùng Đại Đồng. Di tích được hình thành từ thời Lê Trung Hưng, là nơi nhân dân địa phương phụng thờ ba danh tướng họ Nguyễn Cảnh có công với đất nước: Thái phó Tấn quốc công Nguyễn Cảnh Hoan, Cường quận công Nguyễn Cảnh Vạn và Phó nham hầu Nguyễn Cảnh Yên. Phủ có khuôn viên rộng gần 2.000 m², gồm các hạng mục chính như nghi môn, hạ điện, trung điện, thượng điện, sân và hồ sen. Trong đó, nổi bật nhất là nghi môn với kiến trúc ba tầng, được xây dựng trong giai đoạn 1938–1941. Công trình kết hợp hài hòa các yếu tố kiến trúc phương Đông với ảnh hưởng kiến trúc Âu – Pháp, tạo nên diện mạo đặc biệt so với nhiều nghi môn truyền thống ở xứ Nghệ. Nghi môn gồm lầu, trụ biểu, tượng canh, cột đèn và nhiều mảng trang trí. Các họa tiết rồng, nghê, mây, hoa lá, tứ linh, tứ quý được đắp nổi công phu trên tường, cột và các bộ phận kiến trúc. Lầu nghi môn cao hơn 10 m, có ba tầng, các cửa và mái được trang trí với nhiều hoa văn mang dấu ấn nghệ thuật của thời kỳ xây dựng. Bên trong phủ, các công trình hạ điện, trung điện và thượng điện vẫn lưu giữ nhiều chi tiết chạm khắc trên cột, xà, cổ nghé, ván cửa với các đề tài vân mây, hoa lá, rồng và tứ linh. Di tích cũng còn lưu giữ một số sắc phong, khám thờ, hương án, lư hương và các đồ thờ tự, góp phần phản ánh lịch sử tín ngưỡng cũng như giá trị nghệ thuật của di tích. Với lịch sử lâu đời, không gian tín ngưỡng trang nghiêm và đặc biệt là nghi môn có kiến trúc hiếm thấy, Phủ Đàng Cao là một điểm đến giàu giá trị văn hóa của vùng Thanh Chương xưa. Nguồn: Báo Nghệ An

Nghệ An

155 lượt xem

Xếp hạng : Di tích cấp quốc gia

Mở

Di tích nổi bật

Xem tất cả
Khu di tích Láng Le Bàu Cò

Khu di tích Láng Le Bàu Cò

Khu di tích Láng Le Bàu Cò tọa lạc tại xã Tân Nhựt, huyện Bình Chánh, Tp HCM. Láng Le Bàu Cò gắn liền với cuộc kháng chiến chống Pháp xâm lược vào năm 1948 với những trận đánh lớn đi vào lịch sử. Di tích Láng Le Bàu Cò được công nhận là di tích lịch sử cấp thành phố vào năm 2003. Sở dĩ được gọi tên là khu di tích Láng Le Bàu Cò vì Tên gọi của khu di tích Láng Le Bàu Cò là do người dân địa phương đặt ra. Xóm làng được thành lập cạnh những con kênh rạch chằng chịt và dòng sông. Láng Le Bàu Cò có vị trí nằm ở bên trong cánh đồng có diện tích rộng lớn và có rất nhiều tôm, cua, cá. Cùng với nhiều loài chim như vịt trời, cò, con le le, cúm núm, cồng cộc, đa đa, diệc, đỏ nách tới kiếm ăn tại đây. Vì vậy, người dân Tân Nhựt gọi với cái tên thân thuộc và mộc mạc đó là Láng Le Bàu Cò. Di tích Láng Le Bàu Cò được xem là cửa ngõ để di chuyển tới trung tâm căn cứ Vườn Thơm và tấn công cơ quan đầu não của quân địch tại Sài Gòn. Trước đây khu di tích Láng Le Bàu Cò vốn là cánh đồng lau sậy mọc um tùm. Vào ngày 15/4/1948 thực dân Pháp đưa 3 nghìn quân lính cùng nhiều vũ khí hiện đại đồng loạt tấn công khu vực Láng Le Bàu Cò nhằm tiêu diệt căn cứ Vườn Thơm. Khi đó lực lượng vũ trang cách mạng ở Láng Le - Bàu vì lực lượng nhỏ và vũ khí thô sơ tuy nhiên được sự giúp đỡ của người dân địa phương cùng với lợi thế về địa hình. Chỉ sau hơn nửa ngày đấu tranh đã chuyển sang tấn công khiến quân Pháp bị thương vong với số lượng lớn. Chiến thắng Láng Le Bàu Cò đã tiêu diệt 300 tên địch và bắt sống 30 lính đánh thuê cùng phá hủy nhiều máy móc, xe nhà binh, súng các loại của quân giặc. Tuy nhiên, về phía ta có nhiều cán bộ chiến sĩ đã anh dũng hy sinh với tuổi đời còn rất trẻ. Ngày 14/10/1966 tại Láng Le tiểu đoàn biệt động quân Việt Nam Cộng Hòa bị dân quân du khách tiêu diệt. Khu di tích Láng Le Bàu Cò có ý nghĩa lịch sử to lớn đối với người dân Sài Gòn nói riêng và cả nước nói chung. Trước lòng căm thù thực dân Pháp, quân dân Láng Le Bàu Cò đã có cuộc chiến vang lừng lịch sử và có ý nghĩa to lớn mở đầu cho phía ta và phía địch. Đối với phía ta trận đánh mở đầu cho sự anh dũng trong tư thế kháng chiến vững mạnh. Còn với quân địch đã phải lùi vào thế bỏ chiến lược và bị tiêu diệt. Thực dân Pháp không còn định hình được chiến lược đánh bại Việt Minh. Hơn thế, tại căn cứ Vườn Thơm, Láng Le Bàu Cò còn diễn ra trận chiến quyết tâm bảo vệ căn cứ của ta và đập tan mọi kế hoạch phá hoại của quân giặc. Khu di tích Láng Le Bàu Cò sau phong trào Đồng Khởi vào năm 1960 còn là hậu cần, bàn đạp của lực lượng vũ trang để giải phóng Long An - Sài Gòn - Gia Định. Để tưởng nhớ sự hy sinh của đồng bào và các chiến sĩ của ta, vào năm 1988 huyện Bình Chánh đã xây dựng công trình lịch sử tại vùng đất Láng Le Bàu Cò với diện tích rộng 1000m2. Nguồn: Báo thông tin điện tử TP Hồ Chí Minh

TP Hồ Chí Minh

18198 lượt xem

Xếp hạng : Di tích cấp thành phố

Mở

Di Tích Lịch Sử Nhà Lao Tân Hiệp

Di Tích Lịch Sử Nhà Lao Tân Hiệp

Nhà lao Tân Hiệp còn có tên là "Trung tâm cải huấn Tân Hiệp" tọa lạc ở khu phố 6, phường Tân Tiến, TP Biên Hòa. Di tích Nhà lao Tân Hiệp đã được Bộ Văn Hoá Thể Thao xếp hạng là di tích cấp quốc gia ngày 15-1-1994. Nhà lao Tân Hiệp là một trong sáu nhà tù lớn nhất miền Nam Việt Nam và là nhà tù lớn nhất vùng Đông Nam bộ, được xây dựng ở vị trí quân sự quan trọng, án ngữ phía đông bắc thị xã Biên Hòa. Phía trước là quốc lộ 1; phía sau là đường xe lửa Bắc - Nam. Đây là vị trí biệt lập, thuận tiện trong giao thông, dễ dàng cho việc bảo vệ, canh gác, nhận tù từ nơi khác đến và chuyển tù đi Côn Đảo, Phú Quốc... Nhà lao Tân Hiệp có diện tích 46.520m2 với 8 trại giam, trong đó có 5 trại giam những người tù cộng sản, người yêu nước. Xung quanh nhà tù được bao bọc bởi 4 lớp kẽm gai bùng nhùng với 9 lô cốt, 3 tháp canh cùng đội lính bảo vệ và hệ thống báo động tối tân. Mang tên "Trung tâm cải huấn" nhưng thực chất bên trong là kho súng, phòng xét hỏi, tra tấn với những dụng cụ hiện đại bậc nhất. Mỗi trại giam chỉ có diện tích gần 200m2 nhưng giam giữ từ 300-400 người, có lúc lên đến cả ngàn người. Đặc biệt ở đây có các phòng "cải hối", "chuồng cọp" rất nhỏ hẹp và điều kiện sinh hoạt cực kỳ khắc nghiệt, tù nhân sống chẳng khác gì trong lò thiêu xác. Chế độ ăn uống cực kỳ mất vệ sinh, bọn cai ngục mua gạo mục, cá thối dùng để bón ruộng, chiên bằng dầu luyn cho tù nhân ăn dẫn đến nhiều người bị ngộ độc. Với quyết tâm thoát khỏi nhà tù đế quốc, trở về với Đảng, với nhân dân để tiếp tục chiến đấu, giải phóng dân tộc, ngày 2-12-1956, được sự nhất trí của Liên Tỉnh ủy miền Đông, những chiến sĩ cộng sản bị "câu lưu" trong nhà lao Tân Hiệp dưới sự chỉ đạo trực tiếp của đồng chí Nguyễn Trọng Tâm (Bảy Tâm) - phụ trách Đảng ủy nhà tù và một số đồng chí khác đã bất thần làm một cuộc phá xiềng tập thể giải thoát gần 500 đồng chí, đồng bào yêu nước. Sự kiện này đã làm xôn xao cả Lầu Năm Góc. Mỹ - Diệm vội vã huy động cả quân chủ lực lẫn bảo an, dân vệ đang trấn thủ 3 tỉnh Biên Hòa, Bà Rịa, Thủ Dầu Một và hai biệt đoàn biệt động quân đến bủa lưới bao vây, truy bắt đoàn tù nhưng đều thất bại. Các đồng chí, đồng bào của ta thoát khỏi nhà lao Tân Hiệp đã được sự giúp đỡ, che chở của các cơ sở địa phương, trở về căn cứ an toàn. Trong số tù nhân vượt ngục có các đồng chí: Bảy Tâm, Hai Thông, Lý Văn Sâm... đã trở thành những hạt nhân nòng cốt cho phong trào Đồng Khởi sau này. Năm 2001, để tái hiện phần nào tội ác của Mỹ - Diệm đối với các đồng chí, đồng bào ta bị giam cầm tại nhà lao Tân Hiệp và diễn tả lại toàn bộ cuộc nổi dậy phá khám Tân Hiệp ngày 2-12-1956, Bảo tàng Đồng Nai đã tiến hành sưu tầm hình ảnh, tài liệu, hiện vật trưng bày tại di tích và làm một sa bàn để phục vụ nhu cầu nghiên cứu, tham quan của mọi tầng lớp nhân dân. Hàng ngày, di tích luôn mở cửa đón khách tham quan. Nguồn: Báo Đồng Nai Điện Tử

Đồng Nai

16656 lượt xem

Xếp hạng : Di tích cấp quốc gia

Mở

Đền thờ Nguyễn Hữu Cảnh

Đền thờ Nguyễn Hữu Cảnh

Đền thờ Nguyễn Hữu Cảnh còn gọi là đình Bình Kính tọa lạc bên tả ngạn sông Đồng Nai, xưa kia thuộc ấp Bình Kính, thôn Bình Hoành, tổng Trấn Biên, nay là ấp Nhị Hòa, xã Hiệp Hòa, TP Biên Hòa, đã được Bộ Văn Hoá – Thông Tin – Thể Thao & Du Lịch xếp hạng là di tích lịch sử cấp quốc gia ngày 25-3-1991. Đền thờ Nguyễn Hữu Cảnh được xây dựng vào khoảng cuối thế kỷ 18, ban đầu ngôi đền có qui mô nhỏ, vách làm bằng ván, mái ngói âm dương, cách ngôi đền hiện tại khoảng 400m về hướng Nam. Các tư liệu cho biết: ngôi đền được xây dựng lại lần đầu tiên vào năm Tự Đức thứ tư (1851); đến năm 1923, đền được tái thiết lại ở địa điểm hiện nay. Nguyễn Hữu Cảnh sinh vào năm 1650 tại Gia Miêu, huyện Tống Sơn, tỉnh Thanh Hóa trong một gia đình có nhiều bậc danh tướng đương triều. Ông là người văn võ song toàn, lập được nhiều chiến công lớn và được chúa Nguyễn tin yêu, trọng vọng. Mùa Xuân năm Mậu Dần (1698), ông vâng lệnh chúa Nguyễn vào kinh lược xứ Đàng Trong khi ấy còn rất hoang vu. Đến đất Đồng Nai, ông đặt Đại bản doanh ở Cù lao Phố (nay là xã Hiệp Hòa); lấy đất Đồng Nai làm huyện Phước Long, dựng dinh Trấn Biên, lấy xứ Sài Gòn làm huyện Tân Bình, dựng dinh Phiên Trấn, đất đai mở mang ngàn dặm. Ông chiêu mộ lưu dân đến lập nghiệp, tổ chức bộ máy hành chính từng bước có qui củ, khuyến khích khai hoang, thúc đẩy Cù lao Phố phát triển thành một trong những cảng thị sầm uất, năng động nhất đàng Trong suốt thế kỷ 18 và chính thức sáp nhập vùng đất mới phương Nam vào bản đồ Đại Việt. Sau khi kinh lược phương Nam trở về, năm sau ông lại phụng mệnh chúa Nguyễn Phúc Chu thống lĩnh đại binh dẹp vua Chân Lạp giữ vững miền biên ải phương Nam. Tháng 4 năm Canh Thìn (1700), sau khi hoàn thành sứ mệnh, trên đường trở về đến Rạch Gầm (Tiền Giang) thì ông thọ bệnh qua đời nhằm ngày 16 tháng 5 âm lịch, thọ 51 tuổi. Trên đường di quan ông về quê an táng, quan tài của ông được đình lại khu đất khi xưa ông đặt Đại bản doanh ở Cù lao Phố để cho nhân dân địa phương có dịp bái biệt ông lần cuối. Nơi đình quan đã được nhân dân địa phương xây một ngôi mộ vọng để ghi nhớ sự kiện này. Khi hay tin Nguyễn Hữu Cảnh mất, Chúa Nguyễn vô cùng thương tiếc đã phong tặng ông là Thượng đẳng công thần đặc Trấn phủ Chưởng cơ với tước: Lễ Thành Hầu và đưa bài vị của ông vào thờ tại Thái miếu. Nguồn: Báo Đồng Nai Điện Tử

Đồng Nai

15274 lượt xem

Xếp hạng : Di tích cấp quốc gia

Mở

Di tích chiến thắng La Ngà

Di tích chiến thắng La Ngà

Di tích chiến thắng La Ngà (tại km số 104-112 trên quốc lộ 20 đi Đà Lạt, thuộc xã Phú Ngọc, huyện Định Quán) được Bộ Văn hóa xếp hạng di tích lịch sử cấp quốc gia ngày 12-12-1986. Để cổ vũ cho chiến thắng Việt Bắc thu - đông 1947 và cũng để giáng cho kẻ thù một đòn chí mạng, Ban chỉ huy chi đội 10 đã quyết định phải tổ chức một trận đánh lớn, để quân giặc thấy rằng dân tộc Việt Nam, con người Việt Nam không dễ dàng chịu khuất phục trước bất kì một kẻ thù nào; Bằng tinh thần quả cảm và sự khôn khéo sau gần nửa năm chuẩn bị, nghiên cứu địa hình, chọn địa điểm: vào lúc 15 giờ 12 phút ngày 1/3/1948 trận chiến phục kích La Ngà bắt đầu và kết thúc vào lúc 15 giờ 57 phút cùng ngày, chỉ trong vòng 45 phút. Chiến thắng La Ngà đã làm nức lòng nhân dân Định Quán nói riêng, quân dân Đồng Nai nói chung. Đây là chiến thắng thể hiện sự mưu trí, dũng cảm của quân và dân ta làm cho địch một phen kinh hồn, bạt phía. Từ chiến thắng này lực lượng ta ngày càng thêm lớn mạnh, góp phần đánh bại kế hoạch đánh nhanh, thắng nhanh của địch, buộc chúng phải rơi vào thế bị động. Quần thể danh thắng đá Chồng, Thác Mai, sông La Ngà và Tượng đài chiến thắng La Ngà là một quần thể du lịch kì thú của Định Quán. Vẻ đẹp kỳ thú của Hòn Ba Chồng, Núi Đá Voi, Hòn Dĩa, cùng với ngôi chùa thiên nhiên dưới chân núi đá là những cụm tiêu biểu tạo thành cảnh đẹp hài hòa cho khu danh thắng Đá Chồng. Quần thể Đá Chồng Định Quán còn là nơi lưu lại những dấu tích của cuộc sống người tiền sử. Tại đây dưới các mái đá, ven các khe suối và cả các sườn dốc ven thung lũng đã phát hiện nhiều công cụ sản xuất, sinh hoạt của người xưa bằng đá, đồng, đất nung. Trong suốt cuộc kháng chiến dài 30 năm. Định Quán là một phần quan trọng của Chiến khu Đ. Đá Chồng đã chứng kiến sự hình thành, phát triển, trú quân, triển khai chiến đấu của lực lượng cách mạng. Ngày nay, một phần đất của khu danh thắng Đá Chồng Định Quán đã được sử dụng, xây dựng thành khu Trung tâm văn hóa thể thao huyện Định Quán. Tương lai không xa khu danh thắng Đá Chồng Định Quán sẽ được đầu tư tôn tạo góp phần làm cho cảnh quan thiên nhiên ngày càng tươi đẹp, là địa điểm du lịch sinh thái hấp dẫn. Nguồn: Uỷ Ban Nhân Dân Huyện Định Quán

Đồng Nai

15105 lượt xem

Xếp hạng : Di tích cấp quốc gia

Mở

Tháp cổ Chót Mạt

Tháp cổ Chót Mạt

Di tích Lịch sử-Văn hóa Tháp Chót Mạt, tọa lạc ấp Xóm Tháp, xã Tân Phong, huyện Tân Biên, tỉnh Tây Ninh, được Bộ Văn hóa Thông tin (nay là Bộ Văn hóa Thể thao và Du lịch) công nhận là di tích lịch sử - văn hóa ngày 23 tháng 7 năm 1993. Đồng thời là một trong ba công trình tháp cổ cuối cùng còn lại ở miền Nam nước ta. Trải qua nhiều lần trùng tu vào các năm 1938, 2003 và gần đây nhất là vào năm 2013. Mặc dù trải qua các đợt trùng tu tôn tạo, nhưng khu di tích tháp cổ Chót Mạt đã mang cho mình một diện mạo mới nhưng vẫn giữ nguyên được tinh thần kiến trúc cổ. Toàn bộ tòa Tháp được xây dựng bằng gạch và đá phiến với phần đỉnh tháp nhọn dần lên, từ mặt đất lên nơi cao nhất của đỉnh tháp được ước tính là 10m. Ngoài ra, ngọn tháp cổ này nằm trên gò đất cao giữa cánh đồng nên nhìn từ xa nó tựa như ngọn bút đang vươn lên cao dần. Năm 2003 Uỷ ban nhân dân tỉnh Tây Ninh quyết định phê duyệt dự án đầu tư trùng tu tôn tạo bảo tồn di tích tháp Chót Mạt và được tiến hành triển khai trùng tu tôn tạo phục hồi, trưng bày mở hố khai quật năm 2003 đưa vào sử dụng. Ngày 27/11/2019 UBND tỉnh ban hành Quyết định Quy định về phân cấp quản lý, bảo vệ và phát huy giá trị di tích lịch sử văn hóa và danh lam thắng cảnh trên địa bàn tỉnh Tây Ninh. Quyết định giao UBND huyện Tân Biên trực tiếp quản lý 4 di tích, trong đó có di tích cấp Quốc gia di tích Lịch sử- văn Hóa Tháp Chót Mạt. Đặc biệt Di tích Lịch sử-Văn hóa Tháp Chót Mạt trên địa bàn xã Tân Phong, huyện Tân Biên được chọn nằm trong chũi liên kết phát triển du lịch của Tỉnh Tây Ninh. Đây là một địa điểm tham quan rất đáng để khám phá, góp phần phát triển du lịch trên địa bàn xã Tân Phong nói riêng và huyện Tân Biên nói chung. Nguồn: Cổng thông tin điện tử tỉnh Tây Ninh

Tây Ninh

14966 lượt xem

Xếp hạng : Di tích cấp quốc gia

Mở

Dinh Quận Hóc Môn

Dinh Quận Hóc Môn

Dinh Quận Hóc Môn tọa lạc tại số 1, đường Lý Nam Đế, thị trấn Hóc Môn, (cạnh trụ sở UBND huyện) là nơi để lại nhiều sự kiện đấu tranh nổi bật suốt chặng đường dài lịch sử từ 1885 đến ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng của Nhân dân 18 Thôn vườn trầu. Sau khi hạ được Đại đồn Chí Hòa, thực dân Pháp xây dựng tại nơi đây một ngôi nhà gỗ cao 3 tầng dùng làm Đồn binh. Khi tên Trần Tử Ca về nhậm chức Đốc Phủ, dùng Đồn làm Dinh huyện Bình Long. Vốn là một tay say quỷ quyệt của thực dân Pháp, Trần Tử Ca bị nhóm do các ông Phan Văn Hớn (Quản Hớn) và Nguyễn Văn Quá (Chánh Lãnh Binh) cầm đầu gần 1.000 nghĩa quân tiến về đốt Dinh Quận, bắt và cắt đầu bêu giữa chợ. Đó là ngày 8/2/1885 Tết Ất Dậu. Sau đó, Dinh Quận Hóc Môn được xây dựng lại với nền móng đá xanh, tường gạch, có hệ thống phòng thủ từ lầu cao đến tận vòng rào. Lối kiến trúc y như Đồn binh nên người địa phương gọi là Đồn Hóc Môn. Trấn nhậm thay Trần Tử Ca là Đốc phủ Ngôn, đến Quận Trà rồi Quận Thọ. Đây là khoảng thời gian dài người dân vùng Hóc Môn hứng chịu bao cảnh tham tàn, bỉ ổi của thực dân Pháp và bọn tay sai đầu sỏ kể trên. Với truyền thống kiên cường bất khuất của Nhân dân Hóc Môn. Ngày 4/6/1930, khoảng 6 giờ sáng trước Dinh Quận, hàng trăm bà con Hóc Môn kéo biểu tình đòi “bãi bỏ thuế thân, giảm các thuế môn bài và thuế chợ, cấp đất cho dân cày nghèo”. Quận Trà cho mời những người cầm đầu vào Dinh thương lượng, nhưng chúng xảo quyệt bắt giữ họ trong đó có ông Lê Văn Uôi (Bí thư xã Tân Thới Nhì), là người cầm đầu cuộc biểu tình. Mọi người không nao núng, quyết liệt đòi hỏi Quận Trà phải thả những người bị cầm giữ. Đoàn biểu tình càng lúc càng đông, khí thế đấu tranh có phần lan rộng, khiến Quận Trà nhượng bộ. Một mặt chúng thả những người bị giữ, mặc khác chúng gọi điện cho quan thầy ở Sài Gòn cứu viện. 2 giờ sau, cuộc đấu tranh bị 2 tên Blachôlê và Nobbot chỉ huy bắn xối xả vào đoàn biểu tình, gây thương vong nhiều người. Nhưng sự kiện lịch sử gây ấn tượng nhất tại Dinh Quận Hóc Môn là cuộc khởi nghĩa Nam kỳ ngày 23/11/1940. Đồn Hóc Môn rất kiên cố, xây bằng đá xanh như là một pháo đài, cao khoảng 15 thước, có ụ súng và hệ thống phòng thủ lỗ châu mai do một trung đội lính khố xanh trấn giữ. Ngày 22/11/1940, Pháp tăng cường thêm 1 trung đội để đối phó với tình hình. Chiều 22/11/1940, cánh quân của ông Đỗ Văn Cội đột nhập vào thị trấn, giả dạng thường dân, phục kích sau lưng Đồn chờ lệnh cướp Đồn. Một cánh quân khác có nhiệm vụ phá cầu, đốn cây ngăn lộ, đánh chiếm các công sở, nhà việc... Cánh quân từ Phước Vĩnh An, Tân Thông, Tân An Hội, Tân Phú Trung do ông Phạm Văn Sáng và Đặng Công Bỉnh chỉ huy, xuất phát từ ấp Bến Đò, đánh chiếm nhà việc, diệt 1 tên, thu 4 súng, làm chủ tình hình tại đây (Tân Phú trung). Liền đó cánh quân này được lệnh kéo về Hóc Môn. Cánh quân Long Tuy Thượng do ông Bùi Văn Hoạt chỉ huy. Cánh quân thuộc Tổng Long Tuy Trung do ông Đỗ Văn Dậy và Lê Bình Đẳng chỉ huy. Khoảng 24 giờ đêm ngày 22/11/1940, vẫn chưa nghe thấy tiếng pháo lệnh ở Sài Gòn. Sau khi hội ý, các vị chỉ huy những cánh quân thống nhất tấn công Đồn giặc. Lập tức các cánh quân tiến thẳng về Đồn Hóc Môn, nơi trú ngụ của tên Quận trưởng Bùi Ngọc Thọ. 2 nghĩa quân tên Nghé và Kinh xung phong vào cổng trước, hy sinh. Nghĩa quân bốn phía xông vào Đồn như nước vỡ bờ. Trước sức mạnh của nghĩa quân và quần chúng, bọn lính trong Đồn không còn tinh thần kháng cự, bỏ chạy tán loạn. Nghĩa quân chiếm lĩnh hoàn toàn bên trong Đồn nhưng trên lầu, địch vẫn ngoan cố dùng súng bắn tẻ, cùng lúc gọi điện về Sài Gòn, Thủ Dầu Một cấp cứu. Vì nóng lòng bắt cho được tên Quận Thọ nên đồng chí Đỗ Văn Dậy bám ống máng nước để leo lên tầng trên Đồn. Đến lưng chừng bị trúng đạn, đồng chí bị rơi xuống và hy sinh sau đó. Cuộc chiến đấu đang thế giằng co thì viện binh địch đến. Không thể cầm cự, nghĩa quân rút khỏi thị trấn, phân tán về các làng, lực lượng vũ trang rút về ấp Bến Đò (Tân Phú Trung) rồi di chuyển sang ấp Mỹ Hạnh (Đức Hòa). Cuộc tiến công Đồn Hóc Môn (sau gọi là Dinh Quận Hóc Môn) tuy thất bại nhưng đã để lại ấn tượng sâu sắc trong lòng mọi người dân sự khâm phục lòng dũng cảm của các chiến sĩ cách mạng trong cuộc chiến đấu chống thực dân cướp nước. Trong chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, 7 giờ sáng ngày 30/4/1975, thị trấn Hóc Môn hoàn toàn được giải phóng, lá cờ Tổ quốc phất phới bay trên Dinh Quận, nơi tên Quận trưởng Nguyễn Như Sang và bọn tay sai đã chạy trốn từ tối đêm trước. Ngày nay Dinh Quận Hóc Môn được chọn làm Bảo tàng huyện, nơi đây tập trung nhiều tư liệu trưng bày, minh họa các giai đoạn lịch sử thăng trầm cũng như khí thế đấu tranh cách mạng của quân và dân trong huyện Hóc Môn qua 2 cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ. Một Tượng đài đặt trước di tích Dinh Quận Hóc Môn thể hiện gương hy sinh bất khuất của quân và dân 18 Thôn Vườn trầu, được công nhận là di tích lịch sử văn hóa cấp Quốc gia. Nguồn: Ủy ban nhân dân huyện Hóc Môn

TP Hồ Chí Minh

14273 lượt xem

Xếp hạng : Di tích cấp quốc gia

Mở

Tòa đại sứ quán Mỹ

Tòa đại sứ quán Mỹ

Di tích tòa Đại sứ Mỹ còn được gọi "Nhà trắng phương Đông" là nơi xuất phát các âm mưu thâm độc về quân sự lẫn chính trị nhằm thôn tính lâu dài đất nước Việt Nam, địa điểm di tích là tòa nhà 5 tầng xây dựng theo kiến trúc hiện đại, tọa lạc tại góc đường Mạc Đĩnh Chi - Lê Duẩn, Phường Bến Nghé, Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh, trên một mảnh đất rộng gần 5.000m2. Trước đó, tòa đại sứ Mỹ nằm tại số 39 đường Hàm Nghi. Khoảng 10 giờ sáng ngày 30/3/1963, tòa đại sứ Mỹ trên đường Hàm Nghi đã bị đội Biệt động F21 đánh chất nổ làm sập 3 tầng lầu: 1, 2, 3 do đó Mỹ đã quyết định xây lại. Tòa nhà được khởi công xây dựng vào năm 1965, hầu hết vật liệu cũng như máy móc xây dựng đều được chở từ Mỹ sang, dưới sự điều khiển của kỹ sư người Mỹ. Theo thiết kế, tòa nhà bao bọc bởi 7.800 viên đá Taredo có khả năng chống đỡ mìn, đạn pháo. Cửa chính trang bị bằng thép dầy, những cửa khác chắn bởi lớp kín dầy đặc biệt chống đạn. Tất cả cửa sử dụng hệ thống tự động kể cả cửa sắt chắn lối lên các tầng lầu. Bên trong tòa nhà gồm 140 phòng với 200 nhân viên phục vụ ngày đêm ngoài ra bên cạnh tòa nhà còn được xây thêm một dãy nhà phụ gọi là khu "Norodom" dành riêng cho nhân viên C.I.A. Khi khánh thành, tòa nhà chỉ có 3 tầng. Cuối năm 1966 xây thêm 2 tầng và 1 sân thượng dùng làm nơi hạ cánh cho máy bay lên thẳng. Bao quanh tòa nhà là bức tường cao 3m, hai đầu tường sát đường Lê Duẩn xây 2 lô - cốt cao, canh gác ngày đêm. Tòa Đại sứ hoàn thành tháng 9/1967 với một hệ thống phòng thủ như là một pháo đài có 60 lính gác, một hầm tránh bom, một hệ thống màn hình ra-đa nhằm kiểm soát mặt tiền. Ngay sau khi tòa nhà hoàn tất, ngày 24/9/1967, hàng ngàn sinh viên, học sinh kéo đến trước cổng Đại sứ quán Mỹ đấu tranh đòi "Mỹ chấm dứt ném bom miền Bắc", "Mỹ cút về nước" và ra thông báo tố cáo Mỹ "chà đạp và vi phạm nghiêm trọng quyền tự quyết của nhân dân miền Nam". Nhưng sự kiện nổi bật xảy ra tại Tòa Đại sứ Mỹ là trận đánh của Biệt động thành trong Tổng Tiến công và nổi dậy xuân Mậu Thân 1968. Mục tiêu đánh Đại sứ quán Mỹ được bổ sung ngày 24/ 1/1968 do Ngô Thành Vân phụ trách chung. Đội Biệt động 11 nhận lãnh nhiệm vụ quan trọng này gồm đội trưởng Út Nhỏ (đội trưởng trinh sát quân khu) và các chiến sĩ: Bảy Truyền, Tước, Thanh, Chức, Trần Thế Ninh, Chính, Tài, Văn, Đực, Cao Hoài Vinh, Mang, Sáu và 2 lái xe: Trần Sĩ Hùng và Ngô Văn Thuận. Một sự kiện khác cũng không kém phần tủi nhục cho Toà Đại sứ Mỹ là cảnh hỗn loạn tháo chạy xảy ra trong 2 ngày 29 và 30/04/1975 của Mỹ và đồng bọn. Trước sức tấn công thần tốc của quân và dân Việt Nam trong chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, trên 1.000 người Mỹ và hơn 5.000 người Việt thân Mỹ đã chen lấn, xô đẩy, đạp nhau để tranh giành một chỗ trên sân thượng của toà nhà hòng được trực thăng cứu thoát. Di tích này đã được cấp bằng công nhận của Bộ Văn hoá ngày 25/6/1976. Hiện nay, toà nhà Đại Sứ Mỹ đã bị phá bỏ, xây mới thành lãnh sự quán tại Thành phố Hồ Chí Minh, nhưng cạnh đó một bia tưởng niệm ghi nhớ mãi chiến công của các chiến sĩ biệt động đã hy sinh trong trận đánh. Nguồn: Thành Đoàn Thành phố Hồ Chí Minh

TP Hồ Chí Minh

14182 lượt xem

Xếp hạng : Di tích cấp quốc gia

Mở

Lăng Mai Xuân Thưởng

Lăng Mai Xuân Thưởng

Mai Xuân Thưởng là người lãnh đạo phong trào Cần Vương chống Pháp cuối thế kỷ XIX ở Bình Định. Mai Xuân Thưởng sinh năm Canh Thân 1860, mất năm Đinh Hợi 1887 người thôn Phú Lạc, tổng Phú phong, huyện Tuy Viễn, tỉnh Bình Định (nay là thôn Phú Lạc, xã Bình Thành, huyện Tây Sơn, tỉnh Bình Định). Cha là Mai Xuân Tín làm Bố chánh ở Cao Bằng, mẹ là Huỳnh Thị Nguyệt con của một nhà quyền quý trong làng. Mai Xuân Thưởng vốn là người thông minh, ham học. Năm 18 tuổi (1878) ông đỗ Tú tài tại Trường thi Bình Định. năm 25 tuổi (1885) thi đỗ cử nhân. Hưởng ứng chiếu Cần vương của vua Hàm Nghi, Mai Xuân Thưởng về quê Phú Lạc, chiêu mộ nghĩa binh, lập căn cứ ở hòn Sưng dựng cờ cần vương chống Pháp, sau đó Mai Xuân Thưởng đã đem lực lượng của mình gia nhập vào nghĩa quân do Đào Doãn Địch lãnh đạo và được Đào Doãn Địch phong giữ chức Tán lương quân vụ (phụ trách về lương thực của nghĩa quân). Kể từ đó cho đến năm 1887, phong trào cần vương ở Bình Định phát triển mạnh mẽ và lan ra đến Quảng Ngãi, Phú Yên...thu hút hàng chục ngàn người thuộc mọi tầng lớp tham gia. Ngày 20/9/1885 Đào Doãn Địch mất, giao toàn bộ lực lượng cho Mai Xuân Thưởng. Ông chọn vùng núi Lộc Đổng (nay thuộc xã Bình Tường, huyện Tây Sơn) làm đại bản doanh và tổ chức lễ tế cờ , truyền hịch kêu gọi sỹ phu, văn thân, nhân dân tham gia phong trào cần Vương chống Pháp. Trong buổi lễ ấy, nghĩa quân nhiều vùng trong tỉnh Bình Định đã nhất trí suy tôn ông làm Nguyên soái lãnh đạo cuộc khởi nghĩa và nêu cao khẩu hiệu: “Tiền sát tả, hậu đả Tây”. Đầu năm 1887, quân Pháp dưới sự chỉ huy của Trung tá Cherrean và quân triều đình do Trần Bá Lộc chỉ huy cùng với Công sứ Trira đã mở cuộc tấn công lớn lên căn cứ đại bản doanh của phong trào Cần Vương Bình Định, trận giao chiến giữa lực lượng nghĩa quân với giặc Pháp diễn ra vô cùng ác liệt, cuộc chiến đấu không cân sức, cuối cùng lực lượng khởi nghĩa bị đẩy lùi. Tháng 3 năm 1887, sau trận ác chiến ở Bàu Sấu (thị xã An Nhơn, tỉnh Bình Định), Mai Xuân Thưởng bị thương nặng, nghĩa quân rút về Mật khu Linh Ðổng. Ngày 21 tháng 4 năm 1887, Trần Bá Lộc bao vây đánh chiếm căn cứ mật khu Linh Đổng và bắt được một số nghĩa quân, trong đó có thân mẫu Mai Nguyên Soái. Đêm 30 tháng 4 năm 1887, Mai Xuân Thưởng đã cử một đội quân cảm tử đột nhập doanh trại Trần Bá Lộc, giải vây cho những người bị bắt, ông cùng đoàn thuộc hạ gồm 50 người vượt núi vào Phú Yên, tiếp tục kháng chiến, nhưng khi đến đèo Phú Quý (ranh giới giữa Bình Định và Phú Yên) thị bị phục binh Trần Bá Lộc bắt và đưa ra xử trảm tại Gò Chàm (Phía đông Thành Bình Định). Di tích Lăng mộ nhà yêu nước Mai Xuân Thưởng tọa lạc trên ngọn đồi cao của dãy núi Ngang (thuộc thôn Hòa Sơn, xã Bình Tường, huyện Tây Sơn, tỉnh Bình Định) cách thành phố Quy Nhơn khoảng 50km về hướng Tây Bắc; Lăng mộ được xây dựng trên khu đất rộng 1988m2, khánh thành ngày 22 tháng 1 năm 1961.Về tổng thể, Lăng được thiết kế theo kiểu lăng mộ cổ, xung quanh có thành thấp bao bọc. Cổng Lăng (tam quan) là 4 trụ vuông, phía trên thắt lại theo kiểu bầu lọ mang dáng dấp kiến trúc cổng đình, miếu cuối thế kỷ XIX. Giữa nhà Lăng là mộ phần Mai Xuân Thưởng hình khối chữ nhật theo hướng Đông - Tây; Phía đầu mộ dựng tấm Bia đá khắc bài ký ghi tiểu sử và sự nghiệp của Mai Xuân Thưởng: Di tích được Bộ Văn hóa Thông tin quyết định xếp hạng cấp Quốc Gia ngày 20 tháng 4 năm 1995. Nguồn: UBND Huyện Tây Sơn tỉnh Bình Định

Gia Lai

13899 lượt xem

Xếp hạng : Di tích cấp quốc gia

Mở

Thành Nhà Mạc Ở Cao Bằng (Thành Nà Lữ, Thành Bản Phủ, Thành Phục Hòa)

Thành Nhà Mạc Ở Cao Bằng (Thành Nà Lữ, Thành Bản Phủ, Thành Phục Hòa)

Thời kỳ nhà Mạc đóng đô ở Cao Bằng, để phòng bị quân nhà Lê tiến đánh, nhà Mạc đã tu bổ, sửa chữa thành Na Lữ (nay thuộc xã Hoàng Tung, Hòa An) và thành Bản Phủ (nay thuộc xã Hưng Đạo), thành Phục Hòa, ngoài ra còn xây dựng nhiều thành lũy khác ở Cao Bằng, làm cho Cao Bằng trở thành một trung tâm chính trị và quân sự ở vùng biên viễn Đông Bắc thời bấy giờ. Thành Na Lữ và thành Phục Hoà là hai thành được xây dựng từ trước. Theo ghi chép của Bế Hựu Cung trong Cao Bằng thực lục, thành Na Lữ và thành Phục Hòa mở đầu từ đời Đường Ý Tông năm Giáp Thân, niên hiệu Hàm Thông thứ 5 (874). Căn cứ vào sự hiện diện của nhiều ngôi mộ cổ có đá khắc ghi bia mộ tên, địa chỉ, quê quán những người phu dịch xây thành chết ở đây từ thời Hàm Thông có thể khẳng định hai thành này xây từ đời Đường. Thành Na Lữ được xây qua nhiều triều đại khác nhau. Khi nhà Mạc lên Cao Bằng đã cho xây lại bằng gạch. Thành Na Lữ có hình gần chữ nhật, có tổng diện tích khoảng 37,5 ha, chiều dài khoảng 800 m, chiều rộng khoảng 600 m, thành có 4 cửa. Thành Bản Phủ tại kinh đô Nam Bình, nước Nam Cương của Thục Phán khi xưa ở Cao Bình (Cao Bằng), nhà Mạc đã tu bổ thành Vương phủ tại vòng trong của kinh đô cũ Nam Bình và được gọi là thành Bản Phủ hay Vương phủ. Tại kinh đô Nam Bình xưa của nước Nam Cương và của nhà Mạc, thành Bản Phủ vẫn còn dấu tích khá rõ nét. Kinh đô Nam Bình gồm có hai vòng thành, để bảo vệ kinh thành, vòng ngoài có chu vi khoảng 5 km, gồm cả một vùng gò đồi thấp, quanh chân đồi được bạt dựng đứng như một bức tường thành, thuận lợi cho việc xây dựng phòng tuyến bảo vệ. Bờ thành phía Tây chạy song song với bờ sông Bằng đến đầu làng Bó Mạ, nối bờ thành Đông Nam chảy qua trước mặt Bản Phủ theo chân đồi ra gặp quốc lộ 4, phía Đông Bắc chạy theo chân đồi sát phía ngoài quốc lộ 4, lên đến Đầu gò là phía Tây Bắc tiếp tục chạy theo chân đồi, ra đến bờ sông gặp bờ thành phía Tây tạo thành một vòng thành khép kín. Khi nhà Mạc lên đóng đô đã tu sửa lại và xây dựng thêm một số công trình, trong đó thành Bản Phủ (thành nội - nơi của vua làm việc) được xây lên cao hơn trên các tường thành cũ từ thời kỳ Thục Phán, thành nằm trên một khu đất bằng phẳng. Cùng với việc xây dựng lại kinh thành, nhà Mạc còn xây dựng một hệ thống đồn bốt, thành lũy khá dày xung quanh kinh đô và một số điểm biên giới quan trọng, tạo thành một hệ thống bảo vệ kinh thành và bảo vệ biên giới. Thành Phục Hòa (huyện Phục Hoà) được xây theo kiểu hình vuông, mỗi chiều khoảng 400 m, gồm hai vòng thành, khoảng cách giữa hai vòng là 80 m. Hiện nay, tường thành phía Nam đã bị phá huỷ hoàn toàn. Thành Phục Hòa có 2 cổng chính: Cổng phía Bắc được mở thông ra quốc lộ đi Cửa khẩu Tà Lùng ngày nay, nhân dân thường gọi là Pác Cổng, cổng này được xây theo kiểu hình chữ nhật, rộng 8 m, cao 5 m, gồm hai cánh cổng làm bằng gỗ nghiến dày rất chắc chắn; cổng thứ hai ở phía Nam, mở thông ra bờ sông. Cả hai cổng đều bị san phẳng từ lâu, hiện nay không còn vết tích. Gần thành, tại phía Tây Bắc ngoại thành dọc bờ sông còn có nhiều vết tích lò nung gạch, nhân dân cho biết trong quá trình lao động, khai phá đã tìm thấy ở khu vực này nhiều lò gạch còn nguyên vẹn. Qua nghiên cứu, khảo sát cho thấy, tại Cao Bằng, nhà Mạc đã tu bổ, tôn tạo và xây dựng thêm nhiều thành, đồn luỹ, trong đó tu bổ, tôn tạo xây lại thành Bản Phủ, thành Na Lữ, thành Phục Hoà. Các đồn luỹ này đã tạo thành một hệ thống liên hoàn bảo vệ kinh thành khá vững chắc. Đến nay, những thành cổ nhà Mạc xây dựng thời kỳ đóng đô ở Cao Bằng, một số thành xây dựng bằng đất chỉ còn vết tích, nhưng các thành được xây bằng đá vẫn còn rất rõ. Nguồn: Báo Cao Bằng điện tử

Cao Bằng

13510 lượt xem

Xếp hạng : Di tích cấp quốc gia

Mở

KHU TƯỞNG NIỆM LIỆT SĨ NGÃ BA GIỒNG, DI TÍCH LỊCH SỬ QUỐC GIA

KHU TƯỞNG NIỆM LIỆT SĨ NGÃ BA GIỒNG, DI TÍCH LỊCH SỬ QUỐC GIA

Di tích Ngã Ba Giồng là di tích lịch sử cách mạng thuộc Ấp 5, xã Xuân Thới Thượng, huyện Hóc Môn. Được bao quanh bởi ba con đường: Phan Văn Hớn, Nguyễn Văn Bứa và tỉnh lộ 19. Khu di tích Ngã Ba Giồng là khu tưởng niệm về những sự kiện lịch sử trong hai cuộc khácg chiến chống ngoại xâm. Được công nhận là di tích lịch sử cấp quốc gia vào năm 2002. Ngã ba Giòng (còn có tên gọi đầy đủ là Ngã ba Giòng Bằng Lăng) nằm trên địa phận thôn Xuân Thới Tây thuộc 18 thôn vườn trầu xưa được hình thành từ những năm 1698 đến năm 1731. Từ lâu đời, Ngã ba Giồng là 1 địa danh có tên gọi dân gian đã đi vào lịch sử của quê hương 18 thôn vườn trầu Hóc Môn – Bà Điểm. Tục truyền rằng xưa kia nơi đây là 1 vùng đất giồng tương đối cao ráo và là nơi mọc nhiều cây bằng lăng nên địa danh này có tên gọi từ đó. Sau khi cuộc khởi nghĩa Nam kỳ (23/11/1940) bị thất bại, thực dân Pháp đã tăng cường đàn áp, khủng bố khốc liệt phong trào cách mạng vùng Hóc Môn – Bà Điểm. Chúng đã lập ra ở Hóc Môn 3 trường bắn để giết hại các đồng chí lãnh đạo Đảng, các đồng chí đồng bào yêu nước của quê hương Hóc Môn và các vùng lân cận. Ngã ba Giồng là trường bắn thứ ba ghi lại tội ác tày trời của giặc pháp và bọn tay sai đối với nhân dân Hóc Môn. Rút kinh nghiệm từ 2 trường bắn trước (1 tại rạp hát cũ trung tâm Quận lỵ Hóc Môn, 1 cạnh giếng nước sau Bệnh viện Hóc Môn ngày nay), chúng xử bắn công khai, bắt nhân dân đến xem nhằm mục đích uy hiếp tinh thần cách mạng của nhân dân Hóc Môn. Nhưng cách xử bắn đó đã phản tác dụng, nhân dân Hóc Môn đã tận mắt chứng kiến sự tàn ác của thực dân Pháp, sự hy sinh cao cả của các chiến sĩ cộng sản nên ngọn lửa yêu nước của họ càng bùng lên mãnh liệt. Trường bắn thứ 3 này, chúng không dám xây dựng gần trung tâm Quận lỵ nữa mà đưa ra khu vực Ngã ba Giồng là vùng hoang vắng, thưa dân để tránh sự phản kháng của nhân dân. Tại đây, chúng xây dựng thành 1 trường bắn có mô đất kiên cố dài 12m, cao 2,2m, phía trước có trồng 6 cột bắn, mỗi cột cao 1.7m, hướng bắn quay về phía đồng ruộng (bưng Tràm Lạc). Vào năm 1941, tại đây chúng lén lúc xử bắn rất nhiều lần, không cho nhân dân xem, hàng trăm chiến sĩ cộng sản và đồng bào yêu nước bị chúng giết hại. Với ý nghĩa lịch sử vô cùng thiêng liêng của Ngã ba Giồng, nơi ghi dấu tội ác dã man của giặc Pháp, nơi thể hiện ý chí chiến đấu bất khuất kiên cường và sự hy sinh cao cả của đồng chí và đồng bào ta sau cuộc khởi nghĩa Nam kỳ (23/11/1940); sau ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng (30/4/1975), huyện Hóc Môn đã nhanh chóng khôi phục và tôn tạo khu di tích lịch sử cách mạng Ngã ba Giồng nhằm giáo dục truyền thống cho các thế hệ thanh thiếu niên. Nơi đây đã trở thành điểm tham quan, nơi tổ chức lễ hội truyền thống trong những ngày lễ lớn hàng năm của huyện Hóc Môn và thành phố đặc biệt là lễ kỷ niệm ngày Nam kỳ Khởi nghĩa (23/11). Hiện nay được sự nhất trí của thành phố, huyện đang tiến hành tôn tạo xây dựng Ngã ba Giồng thành “Khu tưởng niệm liệt sĩ Ngã ba Giồng”. Nguồn: Cổng thông tin điện tử Hóc Môn

TP Hồ Chí Minh

13376 lượt xem

Xếp hạng : Di tích cấp quốc gia

Mở