Di tích lịch sử

Xem dạng bản đồViệt nam

Danh sách điểm di tích (1319)

Di tích lịch sử quốc gia Phủ Trịnh

Di tích lịch sử quốc gia Phủ Trịnh

Di tích lịch sử quốc gia Phủ Trịnh – Dấu ấn vương triều Lê – Trịnh trên đất Thanh Hóa. Nằm tại xã Vĩnh Hùng, tỉnh Thanh Hóa, Di tích lịch sử quốc gia Phủ Trịnh là điểm đến giàu giá trị lịch sử, gắn liền với vương triều Lê – Trịnh và thời kỳ các chúa Trịnh giữ vai trò quan trọng trong việc điều hành đất nước. Đây không chỉ là nơi thờ các vị chúa Trịnh mà còn là công trình mang đậm dấu ấn văn hóa, kiến trúc và lịch sử của vùng đất "cung vua, phủ chúa". Phủ Trịnh được xây dựng trên quê hương của dòng họ Trịnh, từng là hành dinh và nơi thờ cúng tổ tiên của các chúa Trịnh trong thời kỳ "phò Lê, diệt Mạc". Trải qua nhiều biến cố lịch sử, khu di tích đã được bảo tồn, tu bổ và tôn tạo với nhiều hạng mục kiến trúc theo phong cách cung đình truyền thống, góp phần tái hiện không gian uy nghi của phủ chúa xưa. Đến tham quan Phủ Trịnh, du khách không chỉ được chiêm ngưỡng những công trình mang giá trị nghệ thuật, kiến trúc mà còn có cơ hội tìm hiểu về giai đoạn lịch sử kéo dài gần 250 năm của các chúa Trịnh. Hằng năm, lễ giỗ Minh Khang Thái Vương Trịnh Kiểm diễn ra vào ngày 18 tháng 2 âm lịch thu hút đông đảo người dân và du khách đến dâng hương, tưởng niệm. Ngày nay, Phủ Trịnh là một trong những điểm đến lịch sử tiêu biểu của Thanh Hóa. Khi kết hợp tham quan cùng Thành Nhà Hồ, động Hồ Công và các danh thắng lân cận, nơi đây góp phần tạo nên hành trình khám phá văn hóa, lịch sử đặc sắc của vùng đất xứ Thanh. Theo: Báo du lịch Thanh Hoá

Thanh Hóa

1 lượt xem

Xếp hạng : Di tích cấp quốc gia

Mở

Di tích lịch sử và thắng cảnh Phủ Na

Di tích lịch sử và thắng cảnh Phủ Na

Di tích lịch sử và thắng cảnh Phủ Na – Điểm đến tâm linh giữa núi rừng xứ Thanh. Nằm dưới chân núi Nưa, thuộc xã Xuân Du, tỉnh Thanh Hóa, Phủ Na (Na Sơn Động Phủ) là một trong những điểm du lịch tâm linh nổi tiếng của xứ Thanh. Di tích gắn với tín ngưỡng thờ Mẫu và lưu giữ sự giao thoa độc đáo giữa tín ngưỡng Việt – Mường, thu hút đông đảo du khách và Phật tử đến chiêm bái, vãn cảnh quanh năm. Được xây dựng từ thời Nguyễn, Phủ Na gồm nhiều hạng mục kiến trúc như đền Cô Ba, chính điện thờ Mẫu, đền Bà Chúa Thượng, đền Cô Chín, đền Quan Hoàng cùng các lầu Cô, lầu Cậu. Nổi bật nhất là đền Mẫu Nghi Thiên với kiến trúc truyền thống, các ban thờ được bài trí trang nghiêm và chạm khắc tinh xảo, tạo nên không gian linh thiêng giữa núi rừng. Không chỉ mang giá trị lịch sử và tín ngưỡng, Phủ Na còn hấp dẫn bởi cảnh quan thiên nhiên trong lành với rừng cây xanh mát, những dãy núi trùng điệp và dòng nước ngầm trong vắt chảy quanh năm từ lòng núi. Khung cảnh sơn thủy hữu tình cùng bầu không khí yên bình mang đến cho du khách cảm giác thư thái khi tham quan và hành hương. Ngày nay, sau khi được trùng tu, tôn tạo, Phủ Na ngày càng khang trang và trở thành điểm đến văn hóa, tâm linh tiêu biểu của Thanh Hóa. Đây là nơi lý tưởng để du khách tìm hiểu giá trị lịch sử, tín ngưỡng dân gian, đồng thời tận hưởng vẻ đẹp hài hòa giữa kiến trúc truyền thống và thiên nhiên hùng vĩ. Theo: Du lịch Thanh Hoá

Thanh Hóa

1 lượt xem

Xếp hạng : Di tích cấp quốc gia

Mở

Khu di tích lịch sử cách mạng Yên Trường

Khu di tích lịch sử cách mạng Yên Trường

Khu di tích lịch sử cách mạng Yên Trường – Địa chỉ đỏ của xứ Thanh. Khu di tích lịch sử cách mạng Yên Trường nằm tại xã Thọ Lập, tỉnh Thanh Hóa. Đây là một trong những di tích lịch sử cách mạng tiêu biểu của địa phương, gắn liền với những dấu mốc quan trọng trong quá trình hình thành và phát triển của phong trào cách mạng ở Thanh Hóa. Nơi đây ghi dấu sự kiện thành lập Chi bộ Đảng đầu tiên của huyện Thọ Xuân cũ vào ngày 22/7/1930 và Hội nghị thành lập Đảng bộ tỉnh Thanh Hóa vào ngày 29/7/1930. Trải qua gần một thế kỷ, khu di tích vẫn lưu giữ nhiều hiện vật, tư liệu và không gian lịch sử có giá trị, góp phần tái hiện những năm tháng đấu tranh gian khó nhưng đầy hào hùng của các thế hệ đi trước. Trong những năm gần đây, di tích được đầu tư trùng tu, tôn tạo với nhiều hạng mục như nhà truyền thống, nhà di tích, khuôn viên và hệ thống hạ tầng, vừa bảo tồn giá trị lịch sử, vừa đáp ứng nhu cầu tham quan, học tập và nghiên cứu. Ngày nay, Khu di tích lịch sử cách mạng Yên Trường là điểm đến quen thuộc của các đoàn cán bộ, đảng viên, học sinh, sinh viên và du khách trong các hành trình về nguồn. Nơi đây thường xuyên diễn ra các hoạt động dâng hương, sinh hoạt chính trị, giáo dục truyền thống, góp phần bồi đắp lòng yêu nước và niềm tự hào dân tộc cho các thế hệ. Không chỉ mang ý nghĩa lịch sử sâu sắc, Khu di tích lịch sử cách mạng Yên Trường còn là điểm đến giúp du khách hiểu hơn về truyền thống cách mạng vẻ vang của Thanh Hóa. Mỗi công trình, hiện vật và câu chuyện tại di tích đều góp phần lưu giữ ký ức lịch sử, trở thành "địa chỉ đỏ" có ý nghĩa trong hành trình tìm hiểu văn hóa, lịch sử của vùng đất xứ Thanh. Theo: Báo Thanh Hoá

Thanh Hóa

1 lượt xem

Xếp hạng : Di tích cấp tỉnh

Mở

Bến đò Tứ Tổng

Bến đò Tứ Tổng

Nằm bình yên bên dòng sông Hồng cuộn đỏ phù sa, bến đò Tứ Tổng (nay thuộc Tứ Liên, phường Tây Hồ, Hà Nội) là một chứng nhân lịch sử, ghi dấu những trang sử hào hùng của Thủ đô trong thời kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp. Trước Cách mạng Tháng Tám, vùng đất Tứ Tổng xưa đã là một trong những trung tâm của phong trào cách mạng ở Hà Nội, nơi nuôi giấu và bảo vệ nhiều cán bộ. Khi tiếng súng Toàn quốc kháng chiến bùng nổ, bến đò Tứ Tổng nhanh chóng trở thành mạch máu giao thông chiến lược nối liền nội đô với vùng căn cứ địa an toàn Đông Anh. Đỉnh cao chiến công nơi đây diễn ra vào đêm 15/1/1947, khi lực lượng tự vệ và nhân dân Tứ Tổng bất chấp hiểm nguy, dũng cảm chèo thuyền chở cán bộ, chiến sĩ và vũ khí vượt sông Hồng an toàn dưới làn mưa đạn của kẻ thù. Sự hy sinh thầm lặng cùng tinh thần “quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh” của người dân nơi đây đã góp phần quan trọng bảo vệ lực lượng cốt lõi của cách mạng trong những ngày đầu gian khổ. Giờ đây, chiến tranh đã lùi xa, bến đò xưa đã được Nhà nước gắn biển lưu niệm di tích lịch sử cách mạng kháng chiến. Nơi đây trở thành một "địa chỉ đỏ" linh thiêng, nhắc nhở thế hệ trẻ hôm nay về lòng yêu nước và truyền thống cách mạng kiên cường của cha ông. Theo: Báo Hà Nội mới

Hà Nội

12 lượt xem

Xếp hạng : Di tích cấp tỉnh

Mở

Bãi đá cổ Sa Pa

Bãi đá cổ Sa Pa

Bãi đá cổ Sa Pa – Di sản khảo cổ giữa thung lũng Mường Hoa Nằm giữa thung lũng Mường Hoa, cách trung tâm Sa Pa khoảng 7 km, Bãi đá cổ Sa Pa là một trong những di tích khảo cổ độc đáo bậc nhất Việt Nam. Di tích được học giả người Pháp V. Goloubew phát hiện năm 1925, trải rộng trên địa bàn các xã Lao Chải, Tả Van và Hầu Thào với gần 200 khối đá lớn nhỏ mang nhiều hình chạm khắc bí ẩn. Các phiến đá lưu giữ hàng loạt hoa văn và hình khắc như nhà sàn, con người, động vật, bản đồ, ký hiệu và các hoạt động sinh hoạt của cư dân cổ. Đến nay, nguồn gốc, niên đại cũng như ý nghĩa chính xác của những hình khắc này vẫn chưa được giải mã hoàn toàn, khiến bãi đá trở thành một "cuốn sách bằng đá" đầy bí ẩn, thu hút sự quan tâm của các nhà khảo cổ trong và ngoài nước. Không chỉ có giá trị về khảo cổ và lịch sử, Bãi đá cổ Sa Pa còn phản ánh đời sống văn hóa, tín ngưỡng và tư duy của cư dân cổ từng sinh sống tại vùng Tây Bắc. Năm 1994, di tích được xếp hạng Di tích quốc gia, trở thành điểm đến hấp dẫn dành cho du khách yêu thích khám phá lịch sử, văn hóa và thiên nhiên của Sa Pa. Theo: Báo Du lịch

Lai Châu

10 lượt xem

Xếp hạng : Di tích cấp quốc gia

Mở

Khu Di tích K9 Đá Chông

Khu Di tích K9 Đá Chông

Khu Di tích K9 Đá Chông – Địa chỉ đỏ ghi dấu những năm tháng lịch sử Nằm dưới chân núi Ba Vì, cách trung tâm Hà Nội khoảng 70 km, Khu Di tích K9 Đá Chông là một trong những di tích lịch sử đặc biệt gắn liền với Chủ tịch Hồ Chí Minh và cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước. Năm 1957, trong chuyến công tác tại Ba Vì, Bác Hồ đã dừng chân tại khu vực Đá Chông và nhận thấy nơi đây có vị trí chiến lược quan trọng. Đến năm 1958, Người quyết định chọn K9 làm căn cứ làm việc của Trung ương Đảng. Từ năm 1960 đến năm 1969, K9 là nơi Chủ tịch Hồ Chí Minh cùng Bộ Chính trị họp bàn nhiều quyết sách quan trọng của đất nước, đồng thời đón tiếp nhiều đoàn khách quốc tế. Sau khi Bác qua đời năm 1969, K9 tiếp tục đảm nhận nhiệm vụ đặc biệt là bảo quản, gìn giữ thi hài của Người trong suốt những năm chiến tranh, trước khi được đưa về Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh năm 1975. Đến nay, Khu Di tích K9 Đá Chông vẫn lưu giữ nhiều công trình và hiện vật có giá trị như ngôi nhà sàn hai tầng, phòng làm việc, nhà phục vụ, khu gìn giữ thi hài Chủ tịch Hồ Chí Minh cùng cảnh quan rừng núi nguyên sơ. Không chỉ là minh chứng cho một giai đoạn lịch sử đặc biệt của dân tộc, nơi đây còn là địa chỉ giáo dục truyền thống, góp phần giúp các thế hệ hôm nay hiểu hơn về cuộc đời, tư tưởng và phong cách sống giản dị của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Theo: Trung tâm Thông tin Du lịch

Hà Nội

15 lượt xem

Xếp hạng : Di tích cấp quốc gia đặc biệt

Mở

Đền thờ Cao Lỗ

Đền thờ Cao Lỗ

Đền thờ Cao Lỗ – Di tích lịch sử gắn với vị tướng tài thời An Dương Vương. Đền thờ Cao Lỗ tọa lạc tại thôn Đại Trung, xã Cao Đức, tỉnh Bắc Ninh, là di tích lịch sử - văn hóa tiêu biểu gắn với danh tướng Cao Lỗ Vương, người được xem là vị tướng tài và nhà quân sự lỗi lạc dưới triều An Dương Vương. Theo truyền thuyết, ông có công giúp xây dựng thành Cổ Loa, chế tạo nỏ thần bảo vệ nước Âu Lạc và được nhân dân nhiều địa phương tôn thờ sau khi qua đời. Tương truyền, ngôi đền được khởi dựng từ thời An Dương Vương và đã trải qua nhiều lần trùng tu qua các triều đại. Dù chịu ảnh hưởng của chiến tranh và thời gian, di tích vẫn bảo tồn được nhiều giá trị lịch sử, kiến trúc và nghệ thuật. Bên trong đền còn lưu giữ các hiện vật quý như sắc phong, bia đá, hoành phi, câu đối cùng nhiều mảng chạm khắc gỗ mang đậm phong cách nghệ thuật thời Lê Trung Hưng và thời Nguyễn. Không chỉ có giá trị về lịch sử, đền thờ Cao Lỗ còn là trung tâm sinh hoạt tín ngưỡng của người dân vùng Đại Than. Hằng năm, vào ngày 10 tháng 3 âm lịch, nhân dân các làng cùng tổ chức lễ hội truyền thống để tưởng nhớ công lao của Cao Lỗ Vương, góp phần gìn giữ những giá trị văn hóa, tinh thần đoàn kết cộng đồng và truyền thống uống nước nhớ nguồn. Ngày nay, đền thờ Cao Lỗ là điểm đến ý nghĩa dành cho du khách muốn tìm hiểu về lịch sử thời kỳ dựng nước và khám phá những giá trị văn hóa đặc sắc của vùng đất Kinh Bắc. Nguồn: Cổng Thông tin Du lịch Bắc Ninh

Bắc Ninh

11 lượt xem

Xếp hạng : Di tích cấp quốc gia

Mở

Thành cổ Bắc Ninh

Thành cổ Bắc Ninh

Thành cổ Bắc Ninh – Di tích lịch sử ghi dấu vùng đất Kinh Bắc Thành cổ Bắc Ninh là một trong những di tích lịch sử tiêu biểu của vùng Kinh Bắc, gắn liền với quá trình hình thành và phát triển của tỉnh Bắc Ninh dưới triều Nguyễn. Được xây dựng từ đầu thế kỷ XIX, đây từng là trung tâm hành chính, quân sự quan trọng, giữ vai trò bảo vệ cửa ngõ phía Bắc của kinh thành Thăng Long. Điểm đặc biệt của Thành cổ Bắc Ninh là được xây dựng theo kiến trúc Vauban với mặt bằng hình lục giác – một kiểu thành quân sự hiện đại thời bấy giờ. Hệ thống tường thành, hào nước và các pháo đài góc được bố trí kiên cố, phản ánh sự kết hợp giữa kỹ thuật xây dựng phương Đông và phương Tây dưới thời Nguyễn. Không chỉ có giá trị về kiến trúc, Thành cổ Bắc Ninh còn là chứng nhân của nhiều sự kiện lịch sử quan trọng. Trong thế kỷ XIX, nơi đây từng diễn ra nhiều cuộc giao tranh giữa quân triều đình với các lực lượng nổi dậy, đặc biệt là trận Bắc Ninh năm 1884 trong cuộc xâm lược của thực dân Pháp. Đến Cách mạng Tháng Tám năm 1945, thành tiếp tục là nơi nhân dân Bắc Ninh nổi dậy giành chính quyền, góp phần vào thắng lợi của cách mạng trên cả nước. Trải qua hơn hai thế kỷ cùng những biến động của lịch sử, nhiều hạng mục của tòa thành đã không còn nguyên vẹn. Tuy vậy, những dấu tích còn lại vẫn phản ánh quy mô và vị thế của một công trình quân sự từng giữ vai trò đặc biệt quan trọng trong hệ thống phòng thủ phía Bắc kinh thành Thăng Long. Theo: Báo điện tử Dân Việt

Bắc Ninh

11 lượt xem

Xếp hạng : Di tích cấp tỉnh

Mở

Trại lao động đặc biệt Bà Rá

Trại lao động đặc biệt Bà Rá

Trại lao động đặc biệt Bà Rá – Chứng tích về nhà tù thực dân Pháp ở Nam Bộ. Nằm dưới chân núi Bà Rá, thuộc phường Phước Long, tỉnh Đồng Nai (trước đây thuộc thị xã Phước Long, tỉnh Bình Phước), Trại lao động đặc biệt Bà Rá là một di tích lịch sử tiêu biểu, ghi dấu tội ác của thực dân Pháp đối với các chiến sĩ yêu nước và cách mạng trong những năm 1940 – 1945. Được thực dân Pháp xây dựng từ năm 1940, trại mang danh nghĩa là "trại lao động", nhưng thực chất là một nhà tù trá hình để giam giữ các tù nhân chính trị và những người yêu nước. Nơi đây từng giam cầm nhiều chiến sĩ cách mạng nổi tiếng như Trần Văn Giàu, Nguyễn Thị Định, Nguyễn Thị Lựu… Trong điều kiện rừng núi hoang vu, khí hậu khắc nghiệt, tù nhân phải lao động khổ sai, thiếu thốn lương thực, thuốc men và chịu nhiều cực hình, song vẫn kiên cường giữ vững ý chí đấu tranh. Ngày nay, khu di tích vẫn còn lưu giữ dấu tích nền trại giam cùng nhiều tư liệu, hiện vật phản ánh cuộc sống và tinh thần bất khuất của các chiến sĩ cách mạng. Đây không chỉ là minh chứng cho một giai đoạn lịch sử đau thương mà còn là biểu tượng của lòng yêu nước, ý chí kiên cường và khát vọng giành độc lập của dân tộc Việt Nam. Nguồn: Theo Bảo tàng Lịch sử Quân sự Việt Nam

Đồng Nai

35 lượt xem

Xếp hạng : Di tích cấp quốc gia

Mở

Đền Lăng

Đền Lăng

Đền Lăng – Di tích lịch sử linh thiêng ở Ninh Bình Nằm tại xã Liêm Hà, tỉnh Ninh Bình, Đền Lăng (hay còn gọi là đền Ninh Thái) là di tích lịch sử - văn hóa cấp quốc gia, gắn liền với công lao của vua Đinh Tiên Hoàng và vua Lê Đại Hành. Đây là điểm đến tâm linh, đồng thời là nơi lưu giữ nhiều giá trị lịch sử và kiến trúc truyền thống. Theo truyền thuyết, vùng đất Liêm Hà từng là nơi Đinh Bộ Lĩnh và Lê Hoàn tụ nghĩa, luyện quân. Đền hiện nay là ngôi đền còn lại trong quần thể ba đền Thượng, Trung, Hạ xưa. Công trình được trùng tu dưới thời Nguyễn nhưng vẫn bảo tồn nhiều nét kiến trúc cổ cùng các hiện vật quý như ngai thờ, sập thờ và nhiều đồ thờ có giá trị. Hằng năm, từ ngày mùng 6 đến mùng 8 tháng 3 âm lịch, lễ hội Đền Lăng được tổ chức với các nghi lễ dâng hương, tế lễ và hoạt động văn hóa dân gian, thu hút đông đảo người dân và du khách về dâng hương, tưởng nhớ công lao các bậc tiền nhân. Nguồn: Trung tâm Thông tin Xúc tiến Du lịch Ninh Bình

Ninh Bình

37 lượt xem

Xếp hạng : Di tích cấp quốc gia

Mở

Di tích chiến thắng Ba Gia

Di tích chiến thắng Ba Gia

Chiến thắng Ba Gia – Mốc son lịch sử trên quê hương Quảng Ngãi. Chiến thắng Ba Gia là một trong những chiến công tiêu biểu của quân và dân Quảng Ngãi trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, góp phần làm phá sản chiến lược "Chiến tranh đặc biệt" của Mỹ ở miền Nam. Chiến dịch diễn ra từ tháng 5 đến tháng 7 năm 1965, nổi bật là trận đánh tại Ba Gia (huyện Sơn Tịnh cũ) từ ngày 29 đến 31/5/1965. Chỉ trong hai ngày đêm, quân giải phóng đã tiêu diệt và làm tan rã một chiến đoàn hỗn hợp của quân Mỹ - Ngụy, thu nhiều vũ khí và phương tiện chiến tranh, khẳng định sự trưởng thành của lực lượng vũ trang cách mạng. Ngày nay, khu di tích còn lưu giữ nhiều địa điểm gắn với chiến thắng như núi Tròn, núi Khỉ, núi Chóp Nón, giao thông hào Phước Lộc và điểm cao 47. Tượng đài Chiến thắng Ba Gia được xây dựng dưới chân núi Tròn, trở thành địa chỉ đỏ giáo dục truyền thống yêu nước và cách mạng cho các thế hệ. Với giá trị lịch sử đặc biệt, Di tích Chiến thắng Ba Gia đã được xếp hạng Di tích lịch sử cấp Quốc gia năm 1991, là điểm đến ý nghĩa dành cho du khách muốn tìm hiểu về lịch sử đấu tranh hào hùng của dân tộc. Nguồn: Thư viện Tổng hợp tỉnh Quảng Ngãi

Quảng Ngãi

34 lượt xem

Xếp hạng : Di tích cấp quốc gia

Mở

Trận địa pháo phòng không Lam Hạ

Trận địa pháo phòng không Lam Hạ

Di tích lịch sử Trận địa pháo phòng không Lam Hạ – Địa chỉ đỏ ghi dấu bản hùng ca của 10 nữ dân quân. Nằm tại phường Phủ Lý, tỉnh Ninh Bình (trước đây thuộc phường Lam Hạ, thành phố Phủ Lý, tỉnh Hà Nam), Di tích lịch sử Trận địa pháo phòng không Lam Hạ là một trong những địa chỉ đỏ tiêu biểu, ghi dấu tinh thần chiến đấu anh dũng của quân và dân Hà Nam trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước. Nơi đây gắn liền với sự hy sinh cao cả của 10 nữ dân quân Lam Hạ – những người con ưu tú đã viết nên bản anh hùng ca bất diệt bằng lòng yêu nước và ý chí kiên cường. Trong những năm 1965 – 1972, Lam Hạ là địa bàn có vị trí chiến lược quan trọng với nhiều tuyến giao thông huyết mạch như Quốc lộ 1A, đường sắt Bắc – Nam, cầu Phủ Lý và sông Châu. Đây là những mục tiêu bị không quân Mỹ đánh phá ác liệt nhằm cắt đứt tuyến chi viện từ hậu phương miền Bắc vào chiến trường miền Nam. Để bảo vệ các tuyến giao thông và phối hợp cùng lực lượng phòng không chủ lực, Đại đội Dân quân phòng không Lam Hạ được thành lập với nhiều chiến sĩ trẻ, trong đó có những nữ dân quân tuổi đời còn rất trẻ. Trong các trận chiến đấu ác liệt diễn ra vào tháng 10 năm 1966 và tháng 7 năm 1967, 10 nữ dân quân Lam Hạ đã anh dũng chiến đấu và hy sinh ngay trên trận địa pháo khi làm nhiệm vụ bảo vệ quê hương. Sự hy sinh của các chị đã trở thành biểu tượng sáng ngời của chủ nghĩa anh hùng cách mạng, góp phần làm nên truyền thống vẻ vang của lực lượng dân quân tự vệ Việt Nam. Để tri ân những người đã ngã xuống, tỉnh Hà Nam đã xây dựng Đền thờ 10 nữ dân quân Lam Hạ, tượng đài tưởng niệm cùng khuôn viên di tích ngay trên nền trận địa năm xưa. Không gian di tích hôm nay được quy hoạch trang nghiêm, là nơi nhân dân và du khách đến dâng hương tưởng niệm, tìm hiểu lịch sử và giáo dục truyền thống yêu nước cho thế hệ trẻ. Nguồn: Theo Cổng Thông tin điện tử tỉnh Hà Nam (Ninh Bình)

Ninh Bình

30 lượt xem

Xếp hạng : Di tích cấp quốc gia

Mở

Đền thờ Nữ Tiến sĩ Nguyễn Thị Duệ

Đền thờ Nữ Tiến sĩ Nguyễn Thị Duệ

Đền thờ Nữ Tiến sĩ Nguyễn Thị Duệ – Nơi tôn vinh nữ tiến sĩ đầu tiên trong lịch sử khoa bảng Việt Nam. Đền thờ Nữ Tiến sĩ Nguyễn Thị Duệ tọa lạc dưới chân núi Phượng Hoàng, phường Chu Văn An, thành phố Hải Phòng. Đây là di tích lịch sử - văn hóa gắn với cuộc đời của Nguyễn Thị Duệ (1574–1654), người được xem là nữ tiến sĩ đầu tiên trong lịch sử khoa bảng Việt Nam. Sinh ra tại làng Kiệt Đặc, bà nổi tiếng thông minh và ham học từ nhỏ. Do phụ nữ thời phong kiến không được dự thi, bà cải trang thành nam giới để tham gia khoa thi năm 1594 và đỗ Tiến sĩ. Với tài năng và đức độ, bà được cả triều Mạc và triều Lê – Trịnh trọng dụng, có nhiều đóng góp trong việc đào tạo nhân tài, khuyến khích học tập và phát triển nền giáo dục. Đền thờ cùng khu lăng mộ là nơi tưởng niệm, tôn vinh một người phụ nữ kiệt xuất đã vượt qua những định kiến của thời đại để khẳng định trí tuệ và bản lĩnh. Hằng năm, vào ngày 8 tháng 11 âm lịch, địa phương tổ chức lễ dâng hương tưởng niệm nhằm tri ân công lao của bà và phát huy truyền thống hiếu học, tôn sư trọng đạo. Nguồn: Theo Trung tâm Văn hóa, Thể thao và Truyền thông phường Chu Văn An

Hải Phòng

63 lượt xem

Xếp hạng : Di tích cấp quốc gia

Mở

Công viên Tượng đài - Đền thờ Anh hùng liệt sĩ Võ Thị Sáu

Công viên Tượng đài - Đền thờ Anh hùng liệt sĩ Võ Thị Sáu

Khu di tích lịch sử Công viên Tượng đài và Đền thờ Anh hùng liệt sĩ Võ Thị Sáu tọa lạc tại huyện Đất Đỏ, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu nay là TP Hồ Chí Minh, tiền thân là Chi khu cảnh sát Đất Đỏ thời chiến. Chị Võ Thị Sáu sinh năm 1933 tại xã Phước Thọ. Năm 14 tuổi, chị tham gia đội Công an xung phong Đất Đỏ, dũng cảm làm nhiệm vụ trinh sát và tham gia nhiều trận đánh nguy hiểm, tiêu biểu là vụ ném lựu đạn giải tán cuộc mitting của địch tại chợ Đất Đỏ năm 1948. Đầu năm 1950, do lựu đạn bị lép trong một trận tấn công khác, chị sa vào tay giặc. Dù chịu nhiều trận tra tấn dã man qua các nhà tù, chị vẫn giữ vững khí tiết cách mạng. Tháng 4/1951, thực dân Pháp kết án tử hình chị khi chưa tròn tuổi vị thành niên và lén lút đưa chị ra Côn Đảo. Rạng sáng ngày 23/1/1952, chị bị đưa ra trường bắn. Chị kiên quyết từ chối bịt mắt, cất cao bài hát Tiến quân ca và hiên ngang hy sinh ở tuổi 19. Để ghi nhớ công ơn, giai đoạn 1980–1986, địa phương đã xây dựng Khu công viên Tượng đài với bức tượng đồng cao 6m do nhà điêu khắc Trần Thanh Thanh thực hiện. Đến năm 2001–2003, Đền thờ rộng 960 m² tiếp tục được hoàn thiện ngay phía sau tượng đài để lưu giữ tư liệu và đón tiếp khách thăm. Chị Võ Thị Sáu được truy tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng Vũ trang Nhân dân vào năm 1993. Theo: Cổng thông tin Sở Du lịch TP Hồ Chí Minh

TP Hồ Chí Minh

25 lượt xem

Xếp hạng : Di tích cấp quốc gia

Mở

Đền tưởng niệm Sông Thạch Hãn – Bến thả hoa đăng

Đền tưởng niệm Sông Thạch Hãn – Bến thả hoa đăng

Sông Thạch Hãn – Dòng sông huyền thoại của mùa Hè đỏ lửa Sông Thạch Hãn là con sông lớn nhất tỉnh Quảng Trị, bắt nguồn từ dãy Trường Sơn và chảy qua trung tâm thị xã Quảng Trị trước khi đổ ra biển Cửa Việt. Không chỉ mang vẻ đẹp hiền hòa của miền Trung, dòng sông còn là biểu tượng lịch sử thiêng liêng, gắn liền với cuộc chiến đấu bảo vệ Thành cổ Quảng Trị trong 81 ngày đêm mùa Hè đỏ lửa năm 1972. Trong chiến dịch lịch sử ấy, sông Thạch Hãn là tuyến đường huyết mạch đưa bộ đội, vũ khí và lương thực vượt qua mưa bom bão đạn vào giữ Thành cổ. Hàng nghìn chiến sĩ đã anh dũng chiến đấu và vĩnh viễn nằm lại dưới lòng sông, khiến Thạch Hãn trở thành dòng sông của ký ức, lòng biết ơn và khát vọng hòa bình. Đến nay, bến thả hoa bên sông là nơi diễn ra nhiều hoạt động tri ân, đặc biệt vào dịp kỷ niệm Ngày Thương binh – Liệt sĩ 27/7, khi hàng nghìn hoa đăng được thả trôi theo dòng nước để tưởng nhớ những người đã hy sinh vì độc lập dân tộc. Ngày nay, đến với sông Thạch Hãn, du khách không chỉ được chiêm ngưỡng khung cảnh yên bình của một dòng sông lịch sử mà còn có cơ hội kết nối hành trình tham quan Thành cổ Quảng Trị, Đền tưởng niệm sông Thạch Hãn - Bến thả hoa đăng, Nghĩa trang Liệt sĩ Quốc gia Trường Sơn và nhiều "địa chỉ đỏ" nổi tiếng khác. Đây là điểm đến giàu giá trị lịch sử, góp phần lan tỏa thông điệp về hòa bình, lòng yêu nước và sự tri ân đối với các thế hệ cha anh đã hy sinh vì Tổ quốc. Nguồn: Theo Phong Nha Discovery

Quảng Trị

26 lượt xem

Xếp hạng : Di tích cấp quốc gia đặc biệt

Mở

Đền thờ Sát Hải Đại Vương Hoàng Tá Thốn

Đền thờ Sát Hải Đại Vương Hoàng Tá Thốn

Đền thờ Sát Hải Đại Vương Hoàng Tá Thốn tọa lạc tại xóm Vạn Tràng, xã Hợp Minh, tỉnh Nghệ An. Đây là di tích lịch sử - văn hóa tiêu biểu, thờ Sát Hải Đại Vương Hoàng Tá Thốn (1254 – 1339), vị danh tướng triều Trần có nhiều công lao trong cuộc kháng chiến chống quân Nguyên – Mông, đặc biệt là chiến thắng Bạch Đằng năm 1288. Sau đại thắng, ông được giao thống lĩnh thủy binh, trấn giữ các cửa biển, bảo vệ vùng duyên hải và góp phần giữ vững bờ cõi Đại Việt. Ngôi đền được xây dựng trên vùng đất gắn với cuộc đời và sự nghiệp của ông. Trải qua nhiều thế kỷ, di tích vẫn lưu giữ được kiến trúc truyền thống với các hạng mục như cổng đền, bái đường, thượng điện cùng nhiều hiện vật, đồ thờ và hệ thống chạm khắc gỗ có giá trị, phản ánh nghệ thuật kiến trúc và tín ngưỡng đặc sắc của vùng đất xứ Nghệ. Đây không chỉ là nơi sinh hoạt tín ngưỡng của nhân dân mà còn là địa chỉ giáo dục truyền thống yêu nước và đạo lý "Uống nước nhớ nguồn". Hằng năm, từ ngày 11 đến 16 tháng 6 âm lịch, tại đền diễn ra Lễ hội Đền Hoàng Tá Thốn với các nghi lễ truyền thống như khai quang, yết cáo, rước kiệu, dâng hương và tế lễ, cùng nhiều hoạt động văn hóa, văn nghệ, thể thao dân gian. Lễ hội là dịp tưởng nhớ công lao của vị danh tướng, đồng thời góp phần gìn giữ, phát huy các giá trị văn hóa truyền thống và thu hút đông đảo nhân dân, du khách thập phương về tham dự. Nguồn: Theo Cổng Thông tin điện tử xã Hợp Minh, Nghệ An

Nghệ An

26 lượt xem

Xếp hạng : Di tích cấp quốc gia

Mở

Đền Hưng Long – Lễ hội Di sản văn hóa phi vật thể quốc gia

Đền Hưng Long – Lễ hội Di sản văn hóa phi vật thể quốc gia

Đền Hưng Long – Điểm đến tâm linh gắn với lễ hội Di sản văn hóa phi vật thể quốc gia. Đền Hưng Long (Hưng Long Linh Từ) tọa lạc tại xã Đông Tiền Hải, tỉnh Hưng Yên, là di tích lịch sử - văn hóa và tín ngưỡng gắn liền với tục thờ Quan Hoàng Bơ – vị thánh trong tín ngưỡng Tứ phủ được nhân dân vùng ven biển, sông nước tôn kính. Theo truyền thuyết, Quan Hoàng Bơ từng hiển linh giúp nhân dân chống thiên tai, bảo vệ đê điều và mang lại cuộc sống bình yên, vì vậy người dân đã lập đền để tưởng nhớ và thờ phụng. Trải qua nhiều thế kỷ, ngôi đền trở thành điểm sinh hoạt tín ngưỡng quan trọng của cư dân địa phương. Đền được xây dựng theo kiến trúc truyền thống vùng đồng bằng Bắc Bộ với các hạng mục như tiền tế, trung từ, chính tẩm và cung cấm. Không chỉ có giá trị về kiến trúc và lịch sử, đền còn lưu giữ nhiều hiện vật, đồ thờ tự và những giá trị văn hóa đặc sắc, góp phần phản ánh đời sống tâm linh của cư dân vùng cửa biển. Gắn liền với di tích là Lễ hội đền Hưng Long, được tổ chức hằng năm từ ngày 10 đến 15 tháng 6 âm lịch. Lễ hội nổi bật với nghi thức rước nước (lễ cấp thủy cầu ngư), các nghi lễ tế truyền thống cùng nhiều hoạt động văn hóa dân gian như múa lân, múa rồng, kéo co, vật và tổ tôm điếm, thể hiện khát vọng mưa thuận gió hòa, quốc thái dân an và đời sống no đủ của cư dân vùng sông nước. Tháng 7 năm 2025, Lễ hội đền Hưng Long được Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch ghi danh vào Danh mục Di sản văn hóa phi vật thể quốc gia, góp phần khẳng định giá trị văn hóa tiêu biểu của di tích. Theo: Cổng Thông tin điện tử xã Đông Tiền Hải

Hưng Yên

31 lượt xem

Xếp hạng : Di tích cấp quốc gia

Mở

Tượng vua Lê Thái Tổ bên hồ Gươm

Tượng vua Lê Thái Tổ bên hồ Gươm

Tượng vua Lê Thái Tổ bên hồ Gươm Tượng vua Lê Thái Tổ nằm trong ngôi đền thờ vua lê Thái Tổ tọa lạc tại số 16 phố Lê Thái Tổ, phường Hàng Trống, quận Hoàn Kiếm, Hà Nội, trong không gian xanh bên bờ hồ Hoàn Kiếm. Đây là di tích lịch sử gắn liền với vị anh hùng dân tộc Lê Lợi và truyền thuyết trả gươm thần, một biểu tượng tiêu biểu của Thăng Long – Hà Nội. Theo sử sách và truyền thuyết, sau khi lãnh đạo cuộc khởi nghĩa Lam Sơn đánh thắng quân Minh, lập nên triều Hậu Lê, vua Lê Thái Tổ đã hoàn trả thanh gươm Thuận Thiên cho Rùa Vàng tại hồ Hoàn Kiếm. Từ đó, hồ mang tên Hồ Hoàn Kiếm (hay Hồ Gươm), trở thành biểu tượng của khát vọng hòa bình và nền độc lập dân tộc. Tượng đồng vua Lê Thái Tổ được dựng năm 1896, cao khoảng 1,2m, thể hiện nhà vua trong tư thế uy nghiêm, tay phải cầm kiếm, tay trái chống hông. Toàn bộ khu di tích gồm cổng, sân vườn, nhà Phương đình và tượng đài, hài hòa với cảnh quan hồ Gươm. Năm 2000, công trình được trùng tu, tôn tạo nhân dịp kỷ niệm 990 năm Thăng Long – Hà Nội. Theo: Hà Nội Danh thắng và Di tích

Hà Nội

56 lượt xem

Xếp hạng : Di tích cấp quốc gia

Mở

Di tích nổi bật

Xem tất cả
Khu di tích Láng Le Bàu Cò

Khu di tích Láng Le Bàu Cò

Khu di tích Láng Le Bàu Cò tọa lạc tại xã Tân Nhựt, huyện Bình Chánh, Tp HCM. Láng Le Bàu Cò gắn liền với cuộc kháng chiến chống Pháp xâm lược vào năm 1948 với những trận đánh lớn đi vào lịch sử. Di tích Láng Le Bàu Cò được công nhận là di tích lịch sử cấp thành phố vào năm 2003. Sở dĩ được gọi tên là khu di tích Láng Le Bàu Cò vì Tên gọi của khu di tích Láng Le Bàu Cò là do người dân địa phương đặt ra. Xóm làng được thành lập cạnh những con kênh rạch chằng chịt và dòng sông. Láng Le Bàu Cò có vị trí nằm ở bên trong cánh đồng có diện tích rộng lớn và có rất nhiều tôm, cua, cá. Cùng với nhiều loài chim như vịt trời, cò, con le le, cúm núm, cồng cộc, đa đa, diệc, đỏ nách tới kiếm ăn tại đây. Vì vậy, người dân Tân Nhựt gọi với cái tên thân thuộc và mộc mạc đó là Láng Le Bàu Cò. Di tích Láng Le Bàu Cò được xem là cửa ngõ để di chuyển tới trung tâm căn cứ Vườn Thơm và tấn công cơ quan đầu não của quân địch tại Sài Gòn. Trước đây khu di tích Láng Le Bàu Cò vốn là cánh đồng lau sậy mọc um tùm. Vào ngày 15/4/1948 thực dân Pháp đưa 3 nghìn quân lính cùng nhiều vũ khí hiện đại đồng loạt tấn công khu vực Láng Le Bàu Cò nhằm tiêu diệt căn cứ Vườn Thơm. Khi đó lực lượng vũ trang cách mạng ở Láng Le - Bàu vì lực lượng nhỏ và vũ khí thô sơ tuy nhiên được sự giúp đỡ của người dân địa phương cùng với lợi thế về địa hình. Chỉ sau hơn nửa ngày đấu tranh đã chuyển sang tấn công khiến quân Pháp bị thương vong với số lượng lớn. Chiến thắng Láng Le Bàu Cò đã tiêu diệt 300 tên địch và bắt sống 30 lính đánh thuê cùng phá hủy nhiều máy móc, xe nhà binh, súng các loại của quân giặc. Tuy nhiên, về phía ta có nhiều cán bộ chiến sĩ đã anh dũng hy sinh với tuổi đời còn rất trẻ. Ngày 14/10/1966 tại Láng Le tiểu đoàn biệt động quân Việt Nam Cộng Hòa bị dân quân du khách tiêu diệt. Khu di tích Láng Le Bàu Cò có ý nghĩa lịch sử to lớn đối với người dân Sài Gòn nói riêng và cả nước nói chung. Trước lòng căm thù thực dân Pháp, quân dân Láng Le Bàu Cò đã có cuộc chiến vang lừng lịch sử và có ý nghĩa to lớn mở đầu cho phía ta và phía địch. Đối với phía ta trận đánh mở đầu cho sự anh dũng trong tư thế kháng chiến vững mạnh. Còn với quân địch đã phải lùi vào thế bỏ chiến lược và bị tiêu diệt. Thực dân Pháp không còn định hình được chiến lược đánh bại Việt Minh. Hơn thế, tại căn cứ Vườn Thơm, Láng Le Bàu Cò còn diễn ra trận chiến quyết tâm bảo vệ căn cứ của ta và đập tan mọi kế hoạch phá hoại của quân giặc. Khu di tích Láng Le Bàu Cò sau phong trào Đồng Khởi vào năm 1960 còn là hậu cần, bàn đạp của lực lượng vũ trang để giải phóng Long An - Sài Gòn - Gia Định. Để tưởng nhớ sự hy sinh của đồng bào và các chiến sĩ của ta, vào năm 1988 huyện Bình Chánh đã xây dựng công trình lịch sử tại vùng đất Láng Le Bàu Cò với diện tích rộng 1000m2. Nguồn: Báo thông tin điện tử TP Hồ Chí Minh

TP Hồ Chí Minh

17618 lượt xem

Xếp hạng : Di tích cấp thành phố

Mở

Di Tích Lịch Sử Nhà Lao Tân Hiệp

Di Tích Lịch Sử Nhà Lao Tân Hiệp

Nhà lao Tân Hiệp còn có tên là "Trung tâm cải huấn Tân Hiệp" tọa lạc ở khu phố 6, phường Tân Tiến, TP Biên Hòa. Di tích Nhà lao Tân Hiệp đã được Bộ Văn Hoá Thể Thao xếp hạng là di tích cấp quốc gia ngày 15-1-1994. Nhà lao Tân Hiệp là một trong sáu nhà tù lớn nhất miền Nam Việt Nam và là nhà tù lớn nhất vùng Đông Nam bộ, được xây dựng ở vị trí quân sự quan trọng, án ngữ phía đông bắc thị xã Biên Hòa. Phía trước là quốc lộ 1; phía sau là đường xe lửa Bắc - Nam. Đây là vị trí biệt lập, thuận tiện trong giao thông, dễ dàng cho việc bảo vệ, canh gác, nhận tù từ nơi khác đến và chuyển tù đi Côn Đảo, Phú Quốc... Nhà lao Tân Hiệp có diện tích 46.520m2 với 8 trại giam, trong đó có 5 trại giam những người tù cộng sản, người yêu nước. Xung quanh nhà tù được bao bọc bởi 4 lớp kẽm gai bùng nhùng với 9 lô cốt, 3 tháp canh cùng đội lính bảo vệ và hệ thống báo động tối tân. Mang tên "Trung tâm cải huấn" nhưng thực chất bên trong là kho súng, phòng xét hỏi, tra tấn với những dụng cụ hiện đại bậc nhất. Mỗi trại giam chỉ có diện tích gần 200m2 nhưng giam giữ từ 300-400 người, có lúc lên đến cả ngàn người. Đặc biệt ở đây có các phòng "cải hối", "chuồng cọp" rất nhỏ hẹp và điều kiện sinh hoạt cực kỳ khắc nghiệt, tù nhân sống chẳng khác gì trong lò thiêu xác. Chế độ ăn uống cực kỳ mất vệ sinh, bọn cai ngục mua gạo mục, cá thối dùng để bón ruộng, chiên bằng dầu luyn cho tù nhân ăn dẫn đến nhiều người bị ngộ độc. Với quyết tâm thoát khỏi nhà tù đế quốc, trở về với Đảng, với nhân dân để tiếp tục chiến đấu, giải phóng dân tộc, ngày 2-12-1956, được sự nhất trí của Liên Tỉnh ủy miền Đông, những chiến sĩ cộng sản bị "câu lưu" trong nhà lao Tân Hiệp dưới sự chỉ đạo trực tiếp của đồng chí Nguyễn Trọng Tâm (Bảy Tâm) - phụ trách Đảng ủy nhà tù và một số đồng chí khác đã bất thần làm một cuộc phá xiềng tập thể giải thoát gần 500 đồng chí, đồng bào yêu nước. Sự kiện này đã làm xôn xao cả Lầu Năm Góc. Mỹ - Diệm vội vã huy động cả quân chủ lực lẫn bảo an, dân vệ đang trấn thủ 3 tỉnh Biên Hòa, Bà Rịa, Thủ Dầu Một và hai biệt đoàn biệt động quân đến bủa lưới bao vây, truy bắt đoàn tù nhưng đều thất bại. Các đồng chí, đồng bào của ta thoát khỏi nhà lao Tân Hiệp đã được sự giúp đỡ, che chở của các cơ sở địa phương, trở về căn cứ an toàn. Trong số tù nhân vượt ngục có các đồng chí: Bảy Tâm, Hai Thông, Lý Văn Sâm... đã trở thành những hạt nhân nòng cốt cho phong trào Đồng Khởi sau này. Năm 2001, để tái hiện phần nào tội ác của Mỹ - Diệm đối với các đồng chí, đồng bào ta bị giam cầm tại nhà lao Tân Hiệp và diễn tả lại toàn bộ cuộc nổi dậy phá khám Tân Hiệp ngày 2-12-1956, Bảo tàng Đồng Nai đã tiến hành sưu tầm hình ảnh, tài liệu, hiện vật trưng bày tại di tích và làm một sa bàn để phục vụ nhu cầu nghiên cứu, tham quan của mọi tầng lớp nhân dân. Hàng ngày, di tích luôn mở cửa đón khách tham quan. Nguồn: Báo Đồng Nai Điện Tử

Đồng Nai

16099 lượt xem

Xếp hạng : Di tích cấp quốc gia

Mở

Đền thờ Nguyễn Hữu Cảnh

Đền thờ Nguyễn Hữu Cảnh

Đền thờ Nguyễn Hữu Cảnh còn gọi là đình Bình Kính tọa lạc bên tả ngạn sông Đồng Nai, xưa kia thuộc ấp Bình Kính, thôn Bình Hoành, tổng Trấn Biên, nay là ấp Nhị Hòa, xã Hiệp Hòa, TP Biên Hòa, đã được Bộ Văn Hoá – Thông Tin – Thể Thao & Du Lịch xếp hạng là di tích lịch sử cấp quốc gia ngày 25-3-1991. Đền thờ Nguyễn Hữu Cảnh được xây dựng vào khoảng cuối thế kỷ 18, ban đầu ngôi đền có qui mô nhỏ, vách làm bằng ván, mái ngói âm dương, cách ngôi đền hiện tại khoảng 400m về hướng Nam. Các tư liệu cho biết: ngôi đền được xây dựng lại lần đầu tiên vào năm Tự Đức thứ tư (1851); đến năm 1923, đền được tái thiết lại ở địa điểm hiện nay. Nguyễn Hữu Cảnh sinh vào năm 1650 tại Gia Miêu, huyện Tống Sơn, tỉnh Thanh Hóa trong một gia đình có nhiều bậc danh tướng đương triều. Ông là người văn võ song toàn, lập được nhiều chiến công lớn và được chúa Nguyễn tin yêu, trọng vọng. Mùa Xuân năm Mậu Dần (1698), ông vâng lệnh chúa Nguyễn vào kinh lược xứ Đàng Trong khi ấy còn rất hoang vu. Đến đất Đồng Nai, ông đặt Đại bản doanh ở Cù lao Phố (nay là xã Hiệp Hòa); lấy đất Đồng Nai làm huyện Phước Long, dựng dinh Trấn Biên, lấy xứ Sài Gòn làm huyện Tân Bình, dựng dinh Phiên Trấn, đất đai mở mang ngàn dặm. Ông chiêu mộ lưu dân đến lập nghiệp, tổ chức bộ máy hành chính từng bước có qui củ, khuyến khích khai hoang, thúc đẩy Cù lao Phố phát triển thành một trong những cảng thị sầm uất, năng động nhất đàng Trong suốt thế kỷ 18 và chính thức sáp nhập vùng đất mới phương Nam vào bản đồ Đại Việt. Sau khi kinh lược phương Nam trở về, năm sau ông lại phụng mệnh chúa Nguyễn Phúc Chu thống lĩnh đại binh dẹp vua Chân Lạp giữ vững miền biên ải phương Nam. Tháng 4 năm Canh Thìn (1700), sau khi hoàn thành sứ mệnh, trên đường trở về đến Rạch Gầm (Tiền Giang) thì ông thọ bệnh qua đời nhằm ngày 16 tháng 5 âm lịch, thọ 51 tuổi. Trên đường di quan ông về quê an táng, quan tài của ông được đình lại khu đất khi xưa ông đặt Đại bản doanh ở Cù lao Phố để cho nhân dân địa phương có dịp bái biệt ông lần cuối. Nơi đình quan đã được nhân dân địa phương xây một ngôi mộ vọng để ghi nhớ sự kiện này. Khi hay tin Nguyễn Hữu Cảnh mất, Chúa Nguyễn vô cùng thương tiếc đã phong tặng ông là Thượng đẳng công thần đặc Trấn phủ Chưởng cơ với tước: Lễ Thành Hầu và đưa bài vị của ông vào thờ tại Thái miếu. Nguồn: Báo Đồng Nai Điện Tử

Đồng Nai

14453 lượt xem

Xếp hạng : Di tích cấp quốc gia

Mở

Di tích chiến thắng La Ngà

Di tích chiến thắng La Ngà

Di tích chiến thắng La Ngà (tại km số 104-112 trên quốc lộ 20 đi Đà Lạt, thuộc xã Phú Ngọc, huyện Định Quán) được Bộ Văn hóa xếp hạng di tích lịch sử cấp quốc gia ngày 12-12-1986. Để cổ vũ cho chiến thắng Việt Bắc thu - đông 1947 và cũng để giáng cho kẻ thù một đòn chí mạng, Ban chỉ huy chi đội 10 đã quyết định phải tổ chức một trận đánh lớn, để quân giặc thấy rằng dân tộc Việt Nam, con người Việt Nam không dễ dàng chịu khuất phục trước bất kì một kẻ thù nào; Bằng tinh thần quả cảm và sự khôn khéo sau gần nửa năm chuẩn bị, nghiên cứu địa hình, chọn địa điểm: vào lúc 15 giờ 12 phút ngày 1/3/1948 trận chiến phục kích La Ngà bắt đầu và kết thúc vào lúc 15 giờ 57 phút cùng ngày, chỉ trong vòng 45 phút. Chiến thắng La Ngà đã làm nức lòng nhân dân Định Quán nói riêng, quân dân Đồng Nai nói chung. Đây là chiến thắng thể hiện sự mưu trí, dũng cảm của quân và dân ta làm cho địch một phen kinh hồn, bạt phía. Từ chiến thắng này lực lượng ta ngày càng thêm lớn mạnh, góp phần đánh bại kế hoạch đánh nhanh, thắng nhanh của địch, buộc chúng phải rơi vào thế bị động. Quần thể danh thắng đá Chồng, Thác Mai, sông La Ngà và Tượng đài chiến thắng La Ngà là một quần thể du lịch kì thú của Định Quán. Vẻ đẹp kỳ thú của Hòn Ba Chồng, Núi Đá Voi, Hòn Dĩa, cùng với ngôi chùa thiên nhiên dưới chân núi đá là những cụm tiêu biểu tạo thành cảnh đẹp hài hòa cho khu danh thắng Đá Chồng. Quần thể Đá Chồng Định Quán còn là nơi lưu lại những dấu tích của cuộc sống người tiền sử. Tại đây dưới các mái đá, ven các khe suối và cả các sườn dốc ven thung lũng đã phát hiện nhiều công cụ sản xuất, sinh hoạt của người xưa bằng đá, đồng, đất nung. Trong suốt cuộc kháng chiến dài 30 năm. Định Quán là một phần quan trọng của Chiến khu Đ. Đá Chồng đã chứng kiến sự hình thành, phát triển, trú quân, triển khai chiến đấu của lực lượng cách mạng. Ngày nay, một phần đất của khu danh thắng Đá Chồng Định Quán đã được sử dụng, xây dựng thành khu Trung tâm văn hóa thể thao huyện Định Quán. Tương lai không xa khu danh thắng Đá Chồng Định Quán sẽ được đầu tư tôn tạo góp phần làm cho cảnh quan thiên nhiên ngày càng tươi đẹp, là địa điểm du lịch sinh thái hấp dẫn. Nguồn: Uỷ Ban Nhân Dân Huyện Định Quán

Đồng Nai

14300 lượt xem

Xếp hạng : Di tích cấp quốc gia

Mở

Tháp cổ Chót Mạt

Tháp cổ Chót Mạt

Di tích Lịch sử-Văn hóa Tháp Chót Mạt, tọa lạc ấp Xóm Tháp, xã Tân Phong, huyện Tân Biên, tỉnh Tây Ninh, được Bộ Văn hóa Thông tin (nay là Bộ Văn hóa Thể thao và Du lịch) công nhận là di tích lịch sử - văn hóa ngày 23 tháng 7 năm 1993. Đồng thời là một trong ba công trình tháp cổ cuối cùng còn lại ở miền Nam nước ta. Trải qua nhiều lần trùng tu vào các năm 1938, 2003 và gần đây nhất là vào năm 2013. Mặc dù trải qua các đợt trùng tu tôn tạo, nhưng khu di tích tháp cổ Chót Mạt đã mang cho mình một diện mạo mới nhưng vẫn giữ nguyên được tinh thần kiến trúc cổ. Toàn bộ tòa Tháp được xây dựng bằng gạch và đá phiến với phần đỉnh tháp nhọn dần lên, từ mặt đất lên nơi cao nhất của đỉnh tháp được ước tính là 10m. Ngoài ra, ngọn tháp cổ này nằm trên gò đất cao giữa cánh đồng nên nhìn từ xa nó tựa như ngọn bút đang vươn lên cao dần. Năm 2003 Uỷ ban nhân dân tỉnh Tây Ninh quyết định phê duyệt dự án đầu tư trùng tu tôn tạo bảo tồn di tích tháp Chót Mạt và được tiến hành triển khai trùng tu tôn tạo phục hồi, trưng bày mở hố khai quật năm 2003 đưa vào sử dụng. Ngày 27/11/2019 UBND tỉnh ban hành Quyết định Quy định về phân cấp quản lý, bảo vệ và phát huy giá trị di tích lịch sử văn hóa và danh lam thắng cảnh trên địa bàn tỉnh Tây Ninh. Quyết định giao UBND huyện Tân Biên trực tiếp quản lý 4 di tích, trong đó có di tích cấp Quốc gia di tích Lịch sử- văn Hóa Tháp Chót Mạt. Đặc biệt Di tích Lịch sử-Văn hóa Tháp Chót Mạt trên địa bàn xã Tân Phong, huyện Tân Biên được chọn nằm trong chũi liên kết phát triển du lịch của Tỉnh Tây Ninh. Đây là một địa điểm tham quan rất đáng để khám phá, góp phần phát triển du lịch trên địa bàn xã Tân Phong nói riêng và huyện Tân Biên nói chung. Nguồn: Cổng thông tin điện tử tỉnh Tây Ninh

Tây Ninh

14071 lượt xem

Xếp hạng : Di tích cấp quốc gia

Mở

Dinh Quận Hóc Môn

Dinh Quận Hóc Môn

Dinh Quận Hóc Môn tọa lạc tại số 1, đường Lý Nam Đế, thị trấn Hóc Môn, (cạnh trụ sở UBND huyện) là nơi để lại nhiều sự kiện đấu tranh nổi bật suốt chặng đường dài lịch sử từ 1885 đến ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng của Nhân dân 18 Thôn vườn trầu. Sau khi hạ được Đại đồn Chí Hòa, thực dân Pháp xây dựng tại nơi đây một ngôi nhà gỗ cao 3 tầng dùng làm Đồn binh. Khi tên Trần Tử Ca về nhậm chức Đốc Phủ, dùng Đồn làm Dinh huyện Bình Long. Vốn là một tay say quỷ quyệt của thực dân Pháp, Trần Tử Ca bị nhóm do các ông Phan Văn Hớn (Quản Hớn) và Nguyễn Văn Quá (Chánh Lãnh Binh) cầm đầu gần 1.000 nghĩa quân tiến về đốt Dinh Quận, bắt và cắt đầu bêu giữa chợ. Đó là ngày 8/2/1885 Tết Ất Dậu. Sau đó, Dinh Quận Hóc Môn được xây dựng lại với nền móng đá xanh, tường gạch, có hệ thống phòng thủ từ lầu cao đến tận vòng rào. Lối kiến trúc y như Đồn binh nên người địa phương gọi là Đồn Hóc Môn. Trấn nhậm thay Trần Tử Ca là Đốc phủ Ngôn, đến Quận Trà rồi Quận Thọ. Đây là khoảng thời gian dài người dân vùng Hóc Môn hứng chịu bao cảnh tham tàn, bỉ ổi của thực dân Pháp và bọn tay sai đầu sỏ kể trên. Với truyền thống kiên cường bất khuất của Nhân dân Hóc Môn. Ngày 4/6/1930, khoảng 6 giờ sáng trước Dinh Quận, hàng trăm bà con Hóc Môn kéo biểu tình đòi “bãi bỏ thuế thân, giảm các thuế môn bài và thuế chợ, cấp đất cho dân cày nghèo”. Quận Trà cho mời những người cầm đầu vào Dinh thương lượng, nhưng chúng xảo quyệt bắt giữ họ trong đó có ông Lê Văn Uôi (Bí thư xã Tân Thới Nhì), là người cầm đầu cuộc biểu tình. Mọi người không nao núng, quyết liệt đòi hỏi Quận Trà phải thả những người bị cầm giữ. Đoàn biểu tình càng lúc càng đông, khí thế đấu tranh có phần lan rộng, khiến Quận Trà nhượng bộ. Một mặt chúng thả những người bị giữ, mặc khác chúng gọi điện cho quan thầy ở Sài Gòn cứu viện. 2 giờ sau, cuộc đấu tranh bị 2 tên Blachôlê và Nobbot chỉ huy bắn xối xả vào đoàn biểu tình, gây thương vong nhiều người. Nhưng sự kiện lịch sử gây ấn tượng nhất tại Dinh Quận Hóc Môn là cuộc khởi nghĩa Nam kỳ ngày 23/11/1940. Đồn Hóc Môn rất kiên cố, xây bằng đá xanh như là một pháo đài, cao khoảng 15 thước, có ụ súng và hệ thống phòng thủ lỗ châu mai do một trung đội lính khố xanh trấn giữ. Ngày 22/11/1940, Pháp tăng cường thêm 1 trung đội để đối phó với tình hình. Chiều 22/11/1940, cánh quân của ông Đỗ Văn Cội đột nhập vào thị trấn, giả dạng thường dân, phục kích sau lưng Đồn chờ lệnh cướp Đồn. Một cánh quân khác có nhiệm vụ phá cầu, đốn cây ngăn lộ, đánh chiếm các công sở, nhà việc... Cánh quân từ Phước Vĩnh An, Tân Thông, Tân An Hội, Tân Phú Trung do ông Phạm Văn Sáng và Đặng Công Bỉnh chỉ huy, xuất phát từ ấp Bến Đò, đánh chiếm nhà việc, diệt 1 tên, thu 4 súng, làm chủ tình hình tại đây (Tân Phú trung). Liền đó cánh quân này được lệnh kéo về Hóc Môn. Cánh quân Long Tuy Thượng do ông Bùi Văn Hoạt chỉ huy. Cánh quân thuộc Tổng Long Tuy Trung do ông Đỗ Văn Dậy và Lê Bình Đẳng chỉ huy. Khoảng 24 giờ đêm ngày 22/11/1940, vẫn chưa nghe thấy tiếng pháo lệnh ở Sài Gòn. Sau khi hội ý, các vị chỉ huy những cánh quân thống nhất tấn công Đồn giặc. Lập tức các cánh quân tiến thẳng về Đồn Hóc Môn, nơi trú ngụ của tên Quận trưởng Bùi Ngọc Thọ. 2 nghĩa quân tên Nghé và Kinh xung phong vào cổng trước, hy sinh. Nghĩa quân bốn phía xông vào Đồn như nước vỡ bờ. Trước sức mạnh của nghĩa quân và quần chúng, bọn lính trong Đồn không còn tinh thần kháng cự, bỏ chạy tán loạn. Nghĩa quân chiếm lĩnh hoàn toàn bên trong Đồn nhưng trên lầu, địch vẫn ngoan cố dùng súng bắn tẻ, cùng lúc gọi điện về Sài Gòn, Thủ Dầu Một cấp cứu. Vì nóng lòng bắt cho được tên Quận Thọ nên đồng chí Đỗ Văn Dậy bám ống máng nước để leo lên tầng trên Đồn. Đến lưng chừng bị trúng đạn, đồng chí bị rơi xuống và hy sinh sau đó. Cuộc chiến đấu đang thế giằng co thì viện binh địch đến. Không thể cầm cự, nghĩa quân rút khỏi thị trấn, phân tán về các làng, lực lượng vũ trang rút về ấp Bến Đò (Tân Phú Trung) rồi di chuyển sang ấp Mỹ Hạnh (Đức Hòa). Cuộc tiến công Đồn Hóc Môn (sau gọi là Dinh Quận Hóc Môn) tuy thất bại nhưng đã để lại ấn tượng sâu sắc trong lòng mọi người dân sự khâm phục lòng dũng cảm của các chiến sĩ cách mạng trong cuộc chiến đấu chống thực dân cướp nước. Trong chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, 7 giờ sáng ngày 30/4/1975, thị trấn Hóc Môn hoàn toàn được giải phóng, lá cờ Tổ quốc phất phới bay trên Dinh Quận, nơi tên Quận trưởng Nguyễn Như Sang và bọn tay sai đã chạy trốn từ tối đêm trước. Ngày nay Dinh Quận Hóc Môn được chọn làm Bảo tàng huyện, nơi đây tập trung nhiều tư liệu trưng bày, minh họa các giai đoạn lịch sử thăng trầm cũng như khí thế đấu tranh cách mạng của quân và dân trong huyện Hóc Môn qua 2 cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ. Một Tượng đài đặt trước di tích Dinh Quận Hóc Môn thể hiện gương hy sinh bất khuất của quân và dân 18 Thôn Vườn trầu, được công nhận là di tích lịch sử văn hóa cấp Quốc gia. Nguồn: Ủy ban nhân dân huyện Hóc Môn

TP Hồ Chí Minh

13550 lượt xem

Xếp hạng : Di tích cấp quốc gia

Mở

Tòa đại sứ quán Mỹ

Tòa đại sứ quán Mỹ

Di tích tòa Đại sứ Mỹ còn được gọi "Nhà trắng phương Đông" là nơi xuất phát các âm mưu thâm độc về quân sự lẫn chính trị nhằm thôn tính lâu dài đất nước Việt Nam, địa điểm di tích là tòa nhà 5 tầng xây dựng theo kiến trúc hiện đại, tọa lạc tại góc đường Mạc Đĩnh Chi - Lê Duẩn, Phường Bến Nghé, Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh, trên một mảnh đất rộng gần 5.000m2. Trước đó, tòa đại sứ Mỹ nằm tại số 39 đường Hàm Nghi. Khoảng 10 giờ sáng ngày 30/3/1963, tòa đại sứ Mỹ trên đường Hàm Nghi đã bị đội Biệt động F21 đánh chất nổ làm sập 3 tầng lầu: 1, 2, 3 do đó Mỹ đã quyết định xây lại. Tòa nhà được khởi công xây dựng vào năm 1965, hầu hết vật liệu cũng như máy móc xây dựng đều được chở từ Mỹ sang, dưới sự điều khiển của kỹ sư người Mỹ. Theo thiết kế, tòa nhà bao bọc bởi 7.800 viên đá Taredo có khả năng chống đỡ mìn, đạn pháo. Cửa chính trang bị bằng thép dầy, những cửa khác chắn bởi lớp kín dầy đặc biệt chống đạn. Tất cả cửa sử dụng hệ thống tự động kể cả cửa sắt chắn lối lên các tầng lầu. Bên trong tòa nhà gồm 140 phòng với 200 nhân viên phục vụ ngày đêm ngoài ra bên cạnh tòa nhà còn được xây thêm một dãy nhà phụ gọi là khu "Norodom" dành riêng cho nhân viên C.I.A. Khi khánh thành, tòa nhà chỉ có 3 tầng. Cuối năm 1966 xây thêm 2 tầng và 1 sân thượng dùng làm nơi hạ cánh cho máy bay lên thẳng. Bao quanh tòa nhà là bức tường cao 3m, hai đầu tường sát đường Lê Duẩn xây 2 lô - cốt cao, canh gác ngày đêm. Tòa Đại sứ hoàn thành tháng 9/1967 với một hệ thống phòng thủ như là một pháo đài có 60 lính gác, một hầm tránh bom, một hệ thống màn hình ra-đa nhằm kiểm soát mặt tiền. Ngay sau khi tòa nhà hoàn tất, ngày 24/9/1967, hàng ngàn sinh viên, học sinh kéo đến trước cổng Đại sứ quán Mỹ đấu tranh đòi "Mỹ chấm dứt ném bom miền Bắc", "Mỹ cút về nước" và ra thông báo tố cáo Mỹ "chà đạp và vi phạm nghiêm trọng quyền tự quyết của nhân dân miền Nam". Nhưng sự kiện nổi bật xảy ra tại Tòa Đại sứ Mỹ là trận đánh của Biệt động thành trong Tổng Tiến công và nổi dậy xuân Mậu Thân 1968. Mục tiêu đánh Đại sứ quán Mỹ được bổ sung ngày 24/ 1/1968 do Ngô Thành Vân phụ trách chung. Đội Biệt động 11 nhận lãnh nhiệm vụ quan trọng này gồm đội trưởng Út Nhỏ (đội trưởng trinh sát quân khu) và các chiến sĩ: Bảy Truyền, Tước, Thanh, Chức, Trần Thế Ninh, Chính, Tài, Văn, Đực, Cao Hoài Vinh, Mang, Sáu và 2 lái xe: Trần Sĩ Hùng và Ngô Văn Thuận. Một sự kiện khác cũng không kém phần tủi nhục cho Toà Đại sứ Mỹ là cảnh hỗn loạn tháo chạy xảy ra trong 2 ngày 29 và 30/04/1975 của Mỹ và đồng bọn. Trước sức tấn công thần tốc của quân và dân Việt Nam trong chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, trên 1.000 người Mỹ và hơn 5.000 người Việt thân Mỹ đã chen lấn, xô đẩy, đạp nhau để tranh giành một chỗ trên sân thượng của toà nhà hòng được trực thăng cứu thoát. Di tích này đã được cấp bằng công nhận của Bộ Văn hoá ngày 25/6/1976. Hiện nay, toà nhà Đại Sứ Mỹ đã bị phá bỏ, xây mới thành lãnh sự quán tại Thành phố Hồ Chí Minh, nhưng cạnh đó một bia tưởng niệm ghi nhớ mãi chiến công của các chiến sĩ biệt động đã hy sinh trong trận đánh. Nguồn: Thành Đoàn Thành phố Hồ Chí Minh

TP Hồ Chí Minh

13430 lượt xem

Xếp hạng : Di tích cấp quốc gia

Mở

Lăng Mai Xuân Thưởng

Lăng Mai Xuân Thưởng

Mai Xuân Thưởng là người lãnh đạo phong trào Cần Vương chống Pháp cuối thế kỷ XIX ở Bình Định. Mai Xuân Thưởng sinh năm Canh Thân 1860, mất năm Đinh Hợi 1887 người thôn Phú Lạc, tổng Phú phong, huyện Tuy Viễn, tỉnh Bình Định (nay là thôn Phú Lạc, xã Bình Thành, huyện Tây Sơn, tỉnh Bình Định). Cha là Mai Xuân Tín làm Bố chánh ở Cao Bằng, mẹ là Huỳnh Thị Nguyệt con của một nhà quyền quý trong làng. Mai Xuân Thưởng vốn là người thông minh, ham học. Năm 18 tuổi (1878) ông đỗ Tú tài tại Trường thi Bình Định. năm 25 tuổi (1885) thi đỗ cử nhân. Hưởng ứng chiếu Cần vương của vua Hàm Nghi, Mai Xuân Thưởng về quê Phú Lạc, chiêu mộ nghĩa binh, lập căn cứ ở hòn Sưng dựng cờ cần vương chống Pháp, sau đó Mai Xuân Thưởng đã đem lực lượng của mình gia nhập vào nghĩa quân do Đào Doãn Địch lãnh đạo và được Đào Doãn Địch phong giữ chức Tán lương quân vụ (phụ trách về lương thực của nghĩa quân). Kể từ đó cho đến năm 1887, phong trào cần vương ở Bình Định phát triển mạnh mẽ và lan ra đến Quảng Ngãi, Phú Yên...thu hút hàng chục ngàn người thuộc mọi tầng lớp tham gia. Ngày 20/9/1885 Đào Doãn Địch mất, giao toàn bộ lực lượng cho Mai Xuân Thưởng. Ông chọn vùng núi Lộc Đổng (nay thuộc xã Bình Tường, huyện Tây Sơn) làm đại bản doanh và tổ chức lễ tế cờ , truyền hịch kêu gọi sỹ phu, văn thân, nhân dân tham gia phong trào cần Vương chống Pháp. Trong buổi lễ ấy, nghĩa quân nhiều vùng trong tỉnh Bình Định đã nhất trí suy tôn ông làm Nguyên soái lãnh đạo cuộc khởi nghĩa và nêu cao khẩu hiệu: “Tiền sát tả, hậu đả Tây”. Đầu năm 1887, quân Pháp dưới sự chỉ huy của Trung tá Cherrean và quân triều đình do Trần Bá Lộc chỉ huy cùng với Công sứ Trira đã mở cuộc tấn công lớn lên căn cứ đại bản doanh của phong trào Cần Vương Bình Định, trận giao chiến giữa lực lượng nghĩa quân với giặc Pháp diễn ra vô cùng ác liệt, cuộc chiến đấu không cân sức, cuối cùng lực lượng khởi nghĩa bị đẩy lùi. Tháng 3 năm 1887, sau trận ác chiến ở Bàu Sấu (thị xã An Nhơn, tỉnh Bình Định), Mai Xuân Thưởng bị thương nặng, nghĩa quân rút về Mật khu Linh Ðổng. Ngày 21 tháng 4 năm 1887, Trần Bá Lộc bao vây đánh chiếm căn cứ mật khu Linh Đổng và bắt được một số nghĩa quân, trong đó có thân mẫu Mai Nguyên Soái. Đêm 30 tháng 4 năm 1887, Mai Xuân Thưởng đã cử một đội quân cảm tử đột nhập doanh trại Trần Bá Lộc, giải vây cho những người bị bắt, ông cùng đoàn thuộc hạ gồm 50 người vượt núi vào Phú Yên, tiếp tục kháng chiến, nhưng khi đến đèo Phú Quý (ranh giới giữa Bình Định và Phú Yên) thị bị phục binh Trần Bá Lộc bắt và đưa ra xử trảm tại Gò Chàm (Phía đông Thành Bình Định). Di tích Lăng mộ nhà yêu nước Mai Xuân Thưởng tọa lạc trên ngọn đồi cao của dãy núi Ngang (thuộc thôn Hòa Sơn, xã Bình Tường, huyện Tây Sơn, tỉnh Bình Định) cách thành phố Quy Nhơn khoảng 50km về hướng Tây Bắc; Lăng mộ được xây dựng trên khu đất rộng 1988m2, khánh thành ngày 22 tháng 1 năm 1961.Về tổng thể, Lăng được thiết kế theo kiểu lăng mộ cổ, xung quanh có thành thấp bao bọc. Cổng Lăng (tam quan) là 4 trụ vuông, phía trên thắt lại theo kiểu bầu lọ mang dáng dấp kiến trúc cổng đình, miếu cuối thế kỷ XIX. Giữa nhà Lăng là mộ phần Mai Xuân Thưởng hình khối chữ nhật theo hướng Đông - Tây; Phía đầu mộ dựng tấm Bia đá khắc bài ký ghi tiểu sử và sự nghiệp của Mai Xuân Thưởng: Di tích được Bộ Văn hóa Thông tin quyết định xếp hạng cấp Quốc Gia ngày 20 tháng 4 năm 1995. Nguồn: UBND Huyện Tây Sơn tỉnh Bình Định

Gia Lai

13132 lượt xem

Xếp hạng : Di tích cấp quốc gia

Mở

Thành Nhà Mạc Ở Cao Bằng (Thành Nà Lữ, Thành Bản Phủ, Thành Phục Hòa)

Thành Nhà Mạc Ở Cao Bằng (Thành Nà Lữ, Thành Bản Phủ, Thành Phục Hòa)

Thời kỳ nhà Mạc đóng đô ở Cao Bằng, để phòng bị quân nhà Lê tiến đánh, nhà Mạc đã tu bổ, sửa chữa thành Na Lữ (nay thuộc xã Hoàng Tung, Hòa An) và thành Bản Phủ (nay thuộc xã Hưng Đạo), thành Phục Hòa, ngoài ra còn xây dựng nhiều thành lũy khác ở Cao Bằng, làm cho Cao Bằng trở thành một trung tâm chính trị và quân sự ở vùng biên viễn Đông Bắc thời bấy giờ. Thành Na Lữ và thành Phục Hoà là hai thành được xây dựng từ trước. Theo ghi chép của Bế Hựu Cung trong Cao Bằng thực lục, thành Na Lữ và thành Phục Hòa mở đầu từ đời Đường Ý Tông năm Giáp Thân, niên hiệu Hàm Thông thứ 5 (874). Căn cứ vào sự hiện diện của nhiều ngôi mộ cổ có đá khắc ghi bia mộ tên, địa chỉ, quê quán những người phu dịch xây thành chết ở đây từ thời Hàm Thông có thể khẳng định hai thành này xây từ đời Đường. Thành Na Lữ được xây qua nhiều triều đại khác nhau. Khi nhà Mạc lên Cao Bằng đã cho xây lại bằng gạch. Thành Na Lữ có hình gần chữ nhật, có tổng diện tích khoảng 37,5 ha, chiều dài khoảng 800 m, chiều rộng khoảng 600 m, thành có 4 cửa. Thành Bản Phủ tại kinh đô Nam Bình, nước Nam Cương của Thục Phán khi xưa ở Cao Bình (Cao Bằng), nhà Mạc đã tu bổ thành Vương phủ tại vòng trong của kinh đô cũ Nam Bình và được gọi là thành Bản Phủ hay Vương phủ. Tại kinh đô Nam Bình xưa của nước Nam Cương và của nhà Mạc, thành Bản Phủ vẫn còn dấu tích khá rõ nét. Kinh đô Nam Bình gồm có hai vòng thành, để bảo vệ kinh thành, vòng ngoài có chu vi khoảng 5 km, gồm cả một vùng gò đồi thấp, quanh chân đồi được bạt dựng đứng như một bức tường thành, thuận lợi cho việc xây dựng phòng tuyến bảo vệ. Bờ thành phía Tây chạy song song với bờ sông Bằng đến đầu làng Bó Mạ, nối bờ thành Đông Nam chảy qua trước mặt Bản Phủ theo chân đồi ra gặp quốc lộ 4, phía Đông Bắc chạy theo chân đồi sát phía ngoài quốc lộ 4, lên đến Đầu gò là phía Tây Bắc tiếp tục chạy theo chân đồi, ra đến bờ sông gặp bờ thành phía Tây tạo thành một vòng thành khép kín. Khi nhà Mạc lên đóng đô đã tu sửa lại và xây dựng thêm một số công trình, trong đó thành Bản Phủ (thành nội - nơi của vua làm việc) được xây lên cao hơn trên các tường thành cũ từ thời kỳ Thục Phán, thành nằm trên một khu đất bằng phẳng. Cùng với việc xây dựng lại kinh thành, nhà Mạc còn xây dựng một hệ thống đồn bốt, thành lũy khá dày xung quanh kinh đô và một số điểm biên giới quan trọng, tạo thành một hệ thống bảo vệ kinh thành và bảo vệ biên giới. Thành Phục Hòa (huyện Phục Hoà) được xây theo kiểu hình vuông, mỗi chiều khoảng 400 m, gồm hai vòng thành, khoảng cách giữa hai vòng là 80 m. Hiện nay, tường thành phía Nam đã bị phá huỷ hoàn toàn. Thành Phục Hòa có 2 cổng chính: Cổng phía Bắc được mở thông ra quốc lộ đi Cửa khẩu Tà Lùng ngày nay, nhân dân thường gọi là Pác Cổng, cổng này được xây theo kiểu hình chữ nhật, rộng 8 m, cao 5 m, gồm hai cánh cổng làm bằng gỗ nghiến dày rất chắc chắn; cổng thứ hai ở phía Nam, mở thông ra bờ sông. Cả hai cổng đều bị san phẳng từ lâu, hiện nay không còn vết tích. Gần thành, tại phía Tây Bắc ngoại thành dọc bờ sông còn có nhiều vết tích lò nung gạch, nhân dân cho biết trong quá trình lao động, khai phá đã tìm thấy ở khu vực này nhiều lò gạch còn nguyên vẹn. Qua nghiên cứu, khảo sát cho thấy, tại Cao Bằng, nhà Mạc đã tu bổ, tôn tạo và xây dựng thêm nhiều thành, đồn luỹ, trong đó tu bổ, tôn tạo xây lại thành Bản Phủ, thành Na Lữ, thành Phục Hoà. Các đồn luỹ này đã tạo thành một hệ thống liên hoàn bảo vệ kinh thành khá vững chắc. Đến nay, những thành cổ nhà Mạc xây dựng thời kỳ đóng đô ở Cao Bằng, một số thành xây dựng bằng đất chỉ còn vết tích, nhưng các thành được xây bằng đá vẫn còn rất rõ. Nguồn: Báo Cao Bằng điện tử

Cao Bằng

13036 lượt xem

Xếp hạng : Di tích cấp quốc gia

Mở

KHU TƯỞNG NIỆM LIỆT SĨ NGÃ BA GIỒNG, DI TÍCH LỊCH SỬ QUỐC GIA

KHU TƯỞNG NIỆM LIỆT SĨ NGÃ BA GIỒNG, DI TÍCH LỊCH SỬ QUỐC GIA

Di tích Ngã Ba Giồng là di tích lịch sử cách mạng thuộc Ấp 5, xã Xuân Thới Thượng, huyện Hóc Môn. Được bao quanh bởi ba con đường: Phan Văn Hớn, Nguyễn Văn Bứa và tỉnh lộ 19. Khu di tích Ngã Ba Giồng là khu tưởng niệm về những sự kiện lịch sử trong hai cuộc khácg chiến chống ngoại xâm. Được công nhận là di tích lịch sử cấp quốc gia vào năm 2002. Ngã ba Giòng (còn có tên gọi đầy đủ là Ngã ba Giòng Bằng Lăng) nằm trên địa phận thôn Xuân Thới Tây thuộc 18 thôn vườn trầu xưa được hình thành từ những năm 1698 đến năm 1731. Từ lâu đời, Ngã ba Giồng là 1 địa danh có tên gọi dân gian đã đi vào lịch sử của quê hương 18 thôn vườn trầu Hóc Môn – Bà Điểm. Tục truyền rằng xưa kia nơi đây là 1 vùng đất giồng tương đối cao ráo và là nơi mọc nhiều cây bằng lăng nên địa danh này có tên gọi từ đó. Sau khi cuộc khởi nghĩa Nam kỳ (23/11/1940) bị thất bại, thực dân Pháp đã tăng cường đàn áp, khủng bố khốc liệt phong trào cách mạng vùng Hóc Môn – Bà Điểm. Chúng đã lập ra ở Hóc Môn 3 trường bắn để giết hại các đồng chí lãnh đạo Đảng, các đồng chí đồng bào yêu nước của quê hương Hóc Môn và các vùng lân cận. Ngã ba Giồng là trường bắn thứ ba ghi lại tội ác tày trời của giặc pháp và bọn tay sai đối với nhân dân Hóc Môn. Rút kinh nghiệm từ 2 trường bắn trước (1 tại rạp hát cũ trung tâm Quận lỵ Hóc Môn, 1 cạnh giếng nước sau Bệnh viện Hóc Môn ngày nay), chúng xử bắn công khai, bắt nhân dân đến xem nhằm mục đích uy hiếp tinh thần cách mạng của nhân dân Hóc Môn. Nhưng cách xử bắn đó đã phản tác dụng, nhân dân Hóc Môn đã tận mắt chứng kiến sự tàn ác của thực dân Pháp, sự hy sinh cao cả của các chiến sĩ cộng sản nên ngọn lửa yêu nước của họ càng bùng lên mãnh liệt. Trường bắn thứ 3 này, chúng không dám xây dựng gần trung tâm Quận lỵ nữa mà đưa ra khu vực Ngã ba Giồng là vùng hoang vắng, thưa dân để tránh sự phản kháng của nhân dân. Tại đây, chúng xây dựng thành 1 trường bắn có mô đất kiên cố dài 12m, cao 2,2m, phía trước có trồng 6 cột bắn, mỗi cột cao 1.7m, hướng bắn quay về phía đồng ruộng (bưng Tràm Lạc). Vào năm 1941, tại đây chúng lén lúc xử bắn rất nhiều lần, không cho nhân dân xem, hàng trăm chiến sĩ cộng sản và đồng bào yêu nước bị chúng giết hại. Với ý nghĩa lịch sử vô cùng thiêng liêng của Ngã ba Giồng, nơi ghi dấu tội ác dã man của giặc Pháp, nơi thể hiện ý chí chiến đấu bất khuất kiên cường và sự hy sinh cao cả của đồng chí và đồng bào ta sau cuộc khởi nghĩa Nam kỳ (23/11/1940); sau ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng (30/4/1975), huyện Hóc Môn đã nhanh chóng khôi phục và tôn tạo khu di tích lịch sử cách mạng Ngã ba Giồng nhằm giáo dục truyền thống cho các thế hệ thanh thiếu niên. Nơi đây đã trở thành điểm tham quan, nơi tổ chức lễ hội truyền thống trong những ngày lễ lớn hàng năm của huyện Hóc Môn và thành phố đặc biệt là lễ kỷ niệm ngày Nam kỳ Khởi nghĩa (23/11). Hiện nay được sự nhất trí của thành phố, huyện đang tiến hành tôn tạo xây dựng Ngã ba Giồng thành “Khu tưởng niệm liệt sĩ Ngã ba Giồng”. Nguồn: Cổng thông tin điện tử Hóc Môn

TP Hồ Chí Minh

12842 lượt xem

Xếp hạng : Di tích cấp quốc gia

Mở