Di tích lịch sử

Xem dạng bản đồViệt nam

Danh sách điểm di tích (1372)

Nhà thờ Tiến sĩ Trương Quang Trạch

Nhà thờ Tiến sĩ Trương Quang Trạch

Nhà thờ Tiến sĩ Trương Quang Trạch – Lưu dấu truyền thống khoa bảng. Nhà thờ Tiến sĩ Trương Quang Trạch là di tích lịch sử – văn hóa gắn với một danh nhân khoa bảng tiêu biểu của vùng đất Hà Tĩnh. Di tích hiện thuộc phường Hà Huy Tập, tỉnh Hà Tĩnh, nơi lưu giữ những dấu ấn về cuộc đời, sự nghiệp và truyền thống hiếu học của dòng họ Trương Quang. Trương Quang Trạch sinh năm 1640 trong một gia đình nhà Nho. Năm 20 tuổi, ông đỗ Cử nhân; đến năm 1670, khi 30 tuổi, ông đỗ Đệ tam giáp Đồng Tiến sĩ xuất thân, được ghi danh trên bia số 45 tại Văn Miếu – Quốc Tử Giám. Sau khi đỗ đạt, ông từng giữ nhiều chức vụ, trong đó có Đề chế Giám sát Ngự sử và Đốc trấn Cao Bằng. Trong thời gian làm quan, ông nổi tiếng là người trung thực, cương nghị, dám đấu tranh với tham quan, nịnh thần và luôn đề cao việc chăm lo cho dân, cho nước. Ông qua đời năm 1677, khi mới 37 tuổi. Sau khi mất, nhà vua ban sắc phong thần, nhân dân lập miếu thờ và hằng năm tổ chức lễ tế để tưởng nhớ. Truyền thống này được dòng họ và người dân gìn giữ qua nhiều thế hệ. Nhà thờ hiện có kiến trúc nhỏ gọn nhưng trang nghiêm, gồm cổng vào, nhà thờ và khuôn viên bao quanh. Bên trong đặt long ngai, bài vị, đồ thờ tự cùng hoành phi, câu đối Hán tự, thể hiện lòng thành kính đối với vị tiến sĩ tài đức. Đặc biệt, câu đối “Tổ công, tôn đức thiên niên thịnh – Tử hiếu, tôn hiền vạn đại vinh” gửi gắm mong ước về truyền thống tốt đẹp được lưu truyền mãi cho các thế hệ mai sau. Nguồn: Cổng Thông tin điện tử Bảo tàng Hà Tĩnh

Hà Tĩnh

lượt xem

Xếp hạng : Di tích cấp tỉnh

Mở

Di tích Cầu Trắng

Di tích Cầu Trắng

Di tích Cầu Trắng – chứng tích lịch sử giữa lòng Sơn La. Di tích Cầu Trắng nằm tại phường Tô Hiệu, tỉnh Sơn La, bắc qua suối Nậm La, trên tuyến đường 41, nay là Quốc lộ 6. Với vị trí quan trọng, cây cầu từng giữ vai trò kết nối giao thông và chi viện cho chiến trường Tây Bắc. Trong Chiến dịch Tây Bắc năm 1952 và Chiến dịch Điện Biên Phủ năm 1954, thực dân Pháp nhiều lần ném bom phá cầu nhằm ngăn cản tuyến vận chuyển, chi viện của quân và dân ta lên chiến trường Điện Biên Phủ. Năm 1963, Ty Giao thông Sơn La xây dựng lại Cầu Trắng theo kiểu cầu vòm, dài khoảng 45m, rộng 7m, hai bên có lan can. Đến cuộc kháng chiến chống Mỹ, Cầu Trắng tiếp tục trở thành mục tiêu đánh phá ác liệt. Máy bay Mỹ đã thực hiện 34 trận oanh kích, thả 874 quả bom cùng hàng trăm quả rocket, khiến cầu, mố cầu và đường dẫn bị phá hủy hoàn toàn. Sau chiến tranh, Cầu Trắng nhiều lần được sửa chữa, xây dựng lại để phục vụ giao thông và đời sống nhân dân. Dù diện mạo đã có nhiều thay đổi, nơi đây vẫn là chứng tích ghi dấu những năm tháng chiến tranh gian khổ, tinh thần kiên cường của quân và dân Sơn La trong sự nghiệp bảo vệ tuyến giao thông chiến lược. Nguồn: Theo Địa chí Sơn La

Sơn La

lượt xem

Xếp hạng : Di tích cấp tỉnh

Mở

Chùa Tháp Hắc Y

Chùa Tháp Hắc Y

Chùa Tháp Hắc Y là một di tích lịch sử, văn hóa tiêu biểu nằm tại xã Tân Lĩnh, tỉnh Lào Cai, gắn với quần thể di tích Hắc Y và những dấu tích lịch sử, tín ngưỡng có niên đại từ thời Lý – Trần. Nổi bật nhất tại khu di tích là tháp Hắc Y, công trình mang phong cách kiến trúc thời Trần với mái cong độc đáo, chân tháp và các tầng được trang trí hoa văn hoa sen, sóng nước, lá đề, chim phượng, hoa cúc dây... Các họa tiết được tạo tác trên đất nung tinh xảo, thể hiện trình độ nghệ thuật và sự giao thoa văn hóa của người xưa. Khu vực Hắc Y còn lưu giữ nhiều dấu tích như đình Bến Lăn, núi Thần Áo Đen và đền Đại Cại. Trong đó, đền Đại Cại nằm bên sông Chảy, là không gian tín ngưỡng gắn với những truyền thuyết dân gian về vị thần mặc áo đen từng giúp các vua Hùng chống giặc. Những câu chuyện truyền thuyết cùng dấu tích khảo cổ đã tạo nên vẻ huyền bí, linh thiêng cho cả khu vực. Không chỉ có giá trị về kiến trúc và tín ngưỡng, Hắc Y còn lưu giữ dấu tích của các công trình quân sự, thành đất và những địa điểm gắn với hoạt động của cư dân xưa. Đây là nguồn tư liệu quý góp phần tìm hiểu lịch sử vùng đất phía Tây Bắc. Nguồn: Báo Tin tức Phật giáo

Lào Cai

9 lượt xem

Xếp hạng : Di tích cấp quốc gia

Mở

Hồ Chiềng Khoi

Hồ Chiềng Khoi

Hồ Chiềng Khoi – vẻ đẹp giữa núi rừng Tây Bắc. Hồ có diện tích khoảng 40 ha, nằm giữa thung lũng được bao bọc bởi những dãy núi và đồi xanh. Mặt hồ quanh năm trong xanh, yên ả, uốn lượn giữa núi rừng tạo nên một không gian thơ mộng, thanh bình. Đặc biệt vào mùa hoa ban, sắc trắng phủ dọc các sườn núi càng làm cảnh sắc nơi đây thêm quyến rũ. Theo truyền thuyết của người Thái, xưa kia Chiềng Khoi là vùng đất khô cằn, thiếu nước. Chàng trai Khoi có sức khỏe phi thường đã dời núi, khơi dòng nước từ nhiều hướng về đây, tạo thành hồ để giúp người dân có nước sinh hoạt và sản xuất. Câu chuyện ấy góp phần tạo nên màu sắc huyền thoại cho thắng cảnh. Bên cạnh giá trị cảnh quan, Hồ Chiềng Khoi còn có hệ sinh thái phong phú với rừng núi, các loài chim, cá và nhiều loại cây rừng. Không gian hồ trong lành, yên tĩnh thích hợp cho các hoạt động tham quan, nghỉ ngơi và khám phá thiên nhiên. Đến với Hồ Chiềng Khoi, du khách còn có cơ hội tìm hiểu văn hóa truyền thống của đồng bào Thái với những điệu xòe, tiếng khèn bè, nghề dệt thổ cẩm, thêu khăn piêu cùng nhiều món ăn dân tộc đặc sắc. Sự hòa quyện giữa mặt hồ xanh biếc, núi rừng trùng điệp và bản sắc văn hóa Thái đã tạo nên sức hấp dẫn riêng cho Hồ Chiềng Khoi. Nguồn: Trang thông tin Di tích lịch sử, văn hóa Việt Nam

Sơn La

9 lượt xem

Xếp hạng : Di tích cấp quốc gia

Mở

Di chỉ khảo cổ Đông Sơn

Di chỉ khảo cổ Đông Sơn

Di chỉ khảo cổ Đông Sơn – nơi lắng đọng tinh hoa văn hóa Việt cổ. Nằm bên sông Mã, thuộc phường Hàm Rồng, tỉnh Thanh Hóa, di chỉ khảo cổ Đông Sơn là một trong những địa điểm quan trọng nhất của nền văn hóa Đông Sơn, có niên đại khoảng hơn 2.000 năm trước. Di chỉ được phát hiện vào năm 1924 khi người dân tình cờ tìm thấy những hiện vật bằng đồng bên bờ sông Mã. Qua nhiều đợt khảo sát và khai quật, hàng loạt hiện vật quý đã được phát hiện như công cụ sản xuất, vũ khí, đồ gốm, đồ trang sức và đặc biệt là trống đồng. Những hiện vật này cho thấy cư dân Đông Sơn đã đạt trình độ cao về luyện kim, sản xuất nông nghiệp, thủ công nghiệp và đời sống tinh thần. Đặc biệt, trống đồng Đông Sơn được xem là một trong những biểu tượng tiêu biểu của nền văn minh Việt cổ, thể hiện kỹ thuật đúc đồng tinh xảo và đời sống tín ngưỡng, lễ hội của cư dân xưa. Không chỉ có giá trị về khảo cổ học, di chỉ Đông Sơn còn góp phần làm sáng tỏ quá trình hình thành và phát triển của văn hóa Việt cổ ở lưu vực sông Mã, đồng thời khẳng định vị trí của văn hóa Đông Sơn trong lịch sử Đông Nam Á. Theo: Báo và Phát thanh, Truyền hình Thanh Hoá

Thanh Hóa

7 lượt xem

Xếp hạng : Di tích cấp quốc gia

Mở

Thiên Long Uyển

Thiên Long Uyển

Thiên Long Uyển – dấu tích bí ẩn bên dòng Đá Bạc. Nằm tại khu vực Đức Sơn, phường Hoàng Quế, tỉnh Quảng Ninh, Thiên Long Uyển là vùng đất mang trong mình nhiều dấu tích lịch sử, văn hóa đặc sắc, gắn với không gian chiến thắng Bạch Đằng năm 1288. Dưới thời Trần, nơi đây có tên Thiên Liêu sơn, thuộc trang Ma Liêu. Điểm nổi bật là những bia ma nhai cổ được khắc trực tiếp trên vách đá, tiêu biểu như bia Tam Bảo Địa có niên đại năm 1348 và bia Thiên Long Uyển. Những tư liệu này góp phần phản ánh lịch sử, đời sống tín ngưỡng của vùng đất từ nhiều thế kỷ trước. Thiên Long Uyển còn sở hữu hệ thống núi đá vôi, hang động và các điểm cao có tầm quan sát rộng ra sông Đá Bạc, sông Bạch Đằng. Qua khảo sát khảo cổ, các nhà nghiên cứu đã phát hiện nhiều cọc gỗ, mảnh gốm và dấu tích cổ ven sông, mở ra những hướng nghiên cứu mới về lịch sử cư trú và hoạt động của con người nơi đây. Đặc biệt, vị trí và địa hình của Thiên Long Uyển đã đặt ra giả thuyết về vai trò của khu vực này trong trận Bạch Đằng năm 1288. Dù còn cần tiếp tục nghiên cứu, những dấu tích hiện có đã tạo nên sức hấp dẫn riêng cho vùng đất. Hiện tại di tích đang được tỉnh Quảng Ninh lập hồ sơ để tích hợp thẳng vào Quần thể Di tích Quốc gia đặc biệt Bạch Đằng. Theo: Báo và phát thanh, truyền hình Quảng Ninh

Quảng Ninh

8 lượt xem

Xếp hạng : Di tích cấp tỉnh

Mở

Hang động Pê Răng Ky

Hang động Pê Răng Ky

Hang động Pê Răng Ky – viên ngọc giữa cao nguyên Tủa Chùa. Nằm dưới chân đỉnh núi Pỉn Pàng, thuộc thôn Pê Răng Ky, xã Huổi Só, tỉnh Điện Biên, hang động Pê Răng Ky là một thắng cảnh tiêu biểu giữa không gian núi đá vôi hùng vĩ của vùng cao Tủa Chùa. Trước cửa hang là khu rừng tự nhiên xanh tốt, tạo nên cảnh quan hoang sơ và hấp dẫn. Hang ăn sâu vào lòng núi khoảng 800m, gồm ba khoang với hệ thống nhũ đá, măng đá, cột đá và chuông đá có hình thù độc đáo. Khoang thứ nhất nổi bật với những cột đá lớn và các dải nhũ đá uốn lượn. Sang khoang thứ hai, không gian rộng lớn hơn, những khối nhũ mang hình cây nấm, cây thông, san hô, tượng Phật hay những chùm đèn tự nhiên tạo nên vẻ lung linh, huyền ảo. Khoang thứ ba gây ấn tượng bởi những cột đá cao vút, rừng thạch nhũ kỳ thú và một hồ nước nhỏ trong veo nằm giữa lòng hang. Không chỉ hấp dẫn bởi vẻ đẹp địa chất, Pê Răng Ky còn nằm trong không gian sinh thái đặc sắc của vùng lòng hồ sông Đà, mang đến cho du khách trải nghiệm kết hợp giữa khám phá hang động và cảnh quan núi rừng Tây Bắc. Với những giá trị nổi bật về địa chất, cảnh quan và sinh thái, hang động Pê Răng Ky được Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch xếp hạng Di tích danh lam thắng cảnh cấp quốc gia. Đây được ví như một “bảo tàng nghệ thuật tự nhiên”, nơi du khách có thể chiêm ngưỡng những tác phẩm điêu khắc kỳ diệu được tạo nên qua hàng triệu năm. Nguồn: Cục Du lịch Quốc gia Việt Nam

Điện Biên

14 lượt xem

Xếp hạng : Di tích cấp quốc gia

Mở

Hang động Thẳm Khến

Hang động Thẳm Khến

Hang động Thẳm Khến – kỳ quan trong lòng núi đá vôi Điện Biên. Nằm ở độ cao khoảng 800m so với mực nước biển, Hang động Thẳm Khến thuộc bản Na, xã Mường Đun, tỉnh Điện Biên, là một danh thắng nổi bật với hệ thống hang động kỳ thú giữa vùng núi đá vôi. Theo tiếng Thái, “Thẳm” nghĩa là hang động, “Khến” là tên một loại rau có vị đắng, ngọt mọc nhiều ở cửa hang. Quần thể Thẳm Khến gồm hai hang động nằm cách nhau không xa. Hang thứ nhất dài khoảng 160m, chia thành ba khoang, nổi bật với những cột đá, măng đá và hệ thống thạch nhũ mang hình dáng voi, rồng, phượng, rùa cùng nhiều loài chim. Đặc biệt, ở khoang cuối có một “giếng trời” tự nhiên, đưa ánh sáng từ trên đỉnh núi chiếu xuống, tạo nên không gian lung linh, huyền ảo. Hang thứ hai có chiều sâu khoảng 280m, gồm hai khoang với nhiều ngách nhỏ. Những nhũ đá nơi đây tạo nên hình ảnh như dải lụa, sông suối, ao hồ, ruộng bậc thang và những tầng đá xếp nối tiếp nhau. Một số vách đá khi gõ vào còn phát ra những âm thanh khác nhau, tạo nên nét độc đáo riêng của hang. Không chỉ có giá trị về cảnh quan, Thẳm Khến còn là hệ sinh thái núi đá vôi và hang động có tiềm năng phục vụ nghiên cứu khoa học, bảo tồn thiên nhiên và phát triển du lịch. Với những giá trị nổi bật, Hang động Thẳm Khến được Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch xếp hạng Danh lam thắng cảnh cấp quốc gia. Nguồn: Cục Di sản văn hóa

Điện Biên

14 lượt xem

Xếp hạng : Di tích cấp quốc gia

Mở

Đền Vua Bà

Đền Vua Bà

Đền Vua Bà, còn gọi là đền Vĩnh Bảo Đài, nằm cạnh chùa Láng, trong không gian xanh mát với nhiều cây cổ thụ như muỗm, đại và thông. Đền có kiến trúc truyền thống gồm ba gian, quay hướng Nam, phía trong là hậu cung đặt ngai thờ bà vú nuôi của vua Lý Thần Tông thuở nhỏ. Vì vậy, người dân địa phương từ lâu quen gọi nơi đây là đền Vua Bà. Theo tín ngưỡng dân gian, bà sau khi qua đời vào ngày 3 tháng 12 được triều đình phong hiệu “Từ Phúc Hoa, Lý Mẫu cung thần”. Ngoài nhân vật được thờ chính, đền còn phối thờ Tam Tòa Thánh Mẫu, Thập Nhị Sơn Trang cùng một số nhân vật và ban thờ theo tín ngưỡng dân gian. Đền Vua Bà có mối liên hệ mật thiết với không gian văn hóa và lễ hội chùa Láng. Hằng năm, vào ngày 7 tháng 3 âm lịch, khi kiệu Thánh Láng đi qua, đoàn rước dừng lại để làm lễ bái vọng. Vào ngày mùng Một, ngày Rằm, người dân và du khách đến lễ chùa Láng thường ghé đền Vua Bà như một điểm trình lễ, góp phần gìn giữ nét đẹp tín ngưỡng truyền thống của vùng đất Láng. Với giá trị về lịch sử, tín ngưỡng và sự gắn kết với lễ hội truyền thống, đền Vua Bà là một điểm đến góp phần làm phong phú thêm hệ thống di tích văn hóa của khu vực Láng, Hà Nội. Nguồn: Tạp chí Người Hà Nội

Hà Nội

25 lượt xem

Xếp hạng : Di tích cấp quốc gia

Mở

Thành Sam Mứn

Thành Sam Mứn

Thành Sam Mứn, còn gọi là thành Tam Vạn, nằm tại bản Pom Lót, xã Thanh An, tỉnh Điện Biên. Đây là một di tích lịch sử gắn với quá trình hình thành và những biến động lịch sử của vùng Mường Thanh. Theo tư liệu lịch sử và truyền thuyết địa phương, thành được xây dựng từ nhiều thế kỷ trước, từng là căn cứ quan trọng của các chúa Lự và sau đó trở thành nơi tranh chấp, giằng co của nhiều thế lực tại vùng Tây Bắc. Đặc biệt, vào giữa thế kỷ XVIII, thành Sam Mứn là căn cứ của lực lượng Phạ Chẩu Tin Toòng. Năm 1754, nghĩa quân Hoàng Công Chất phối hợp với các thủ lĩnh người Thái bao vây và đánh chiếm thành. Sau chiến thắng, Hoàng Công Chất chọn Mường Thanh làm căn cứ, từng bước xây dựng lực lượng và mở rộng địa bàn hoạt động. Ngày nay, dấu tích thành Sam Mứn còn lại chủ yếu là đoạn tường thành dài khoảng 3km tại khu vực đồi Pom Lót, cùng vị trí Pú Chom Chảnh – nơi từng được sử dụng làm điểm quan sát bao quát thung lũng Mường Thanh. Với những giá trị nổi bật về lịch sử và văn hóa, thành Sam Mứn được Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch xếp hạng Di tích lịch sử cấp quốc gia năm 2009. Di tích là dấu tích quan trọng góp phần tìm hiểu lịch sử vùng Mường Thanh và truyền thống đấu tranh của các cộng đồng dân tộc Tây Bắc. Nguồn: Wikipedia

Điện Biên

20 lượt xem

Xếp hạng : Di tích cấp quốc gia

Mở

Đình Tường Phiêu

Đình Tường Phiêu

Đình Tường Phiêu, còn gọi là Đình Cả, nằm trên địa bàn xã Tích Giang, thành phố Hà Nội. Đây là công trình tín ngưỡng lâu đời, thờ bốn vị Thành hoàng, trong đó có ba vị Đức Thánh Tản Viên và Quán Sơn Thành hoàng. Đình được xây dựng theo hướng Tây Nam, hướng về núi Ba Vì – nơi gắn với truyền thuyết và tín ngưỡng thờ Đức Thánh Tản. Công trình có kiến trúc hình chữ “Nhất”, gồm ba gian hai chái, nổi bật với hệ thống mái cong, đầu đao mềm mại cùng nhiều mảng chạm khắc tinh xảo. Các đề tài rồng, phượng, lân, hươu, mây nước và hoa lá được thể hiện sinh động, mang đậm dấu ấn nghệ thuật thời Lê Trung hưng và các thời kỳ tu bổ sau này. Đình hiện còn lưu giữ nhiều di vật quý như kiệu rước, ngai thờ, sắc phong, bát hương cổ và các đồ thờ tự có niên đại từ thế kỷ XVII đến đầu thế kỷ XX. Hằng năm, lễ hội đình được tổ chức vào Rằm tháng Giêng, là dịp người dân tưởng nhớ công đức các vị Thành hoàng và gìn giữ những giá trị văn hóa truyền thống. Với những giá trị nổi bật về lịch sử, kiến trúc và nghệ thuật, năm 2018, đình Tường Phiêu được Thủ tướng Chính phủ xếp hạng Di tích quốc gia đặc biệt. Nguồn: Cục Di sản văn hóa

Hà Nội

22 lượt xem

Xếp hạng : Di tích cấp quốc gia đặc biệt

Mở

Chiến khu Ngọc Trạo

Chiến khu Ngọc Trạo

Chiến khu Ngọc Trạo nằm trên địa bàn xã Ngọc Trạo, tỉnh Thanh Hóa, là một trong những địa chỉ đỏ tiêu biểu gắn với phong trào cách mạng ở xứ Thanh. Đầu tháng 6 năm 1941, Tỉnh ủy Thanh Hóa lựa chọn vùng Ngọc Trạo để xây dựng chiến khu. Ngày 19 tháng 9 năm 1941, tại Hang Treo, 21 chiến sĩ du kích đầu tiên đã tuyên thệ chiến đấu, hy sinh vì sự nghiệp giải phóng dân tộc. Từ đây, Đội du kích Ngọc Trạo nhanh chóng phát triển, thu hút thanh niên yêu nước từ nhiều địa phương, trở thành một lực lượng vũ trang cách mạng quan trọng của Thanh Hóa. Rạng sáng ngày 19 tháng 10 năm 1941, thực dân Pháp tổ chức cuộc tấn công vào chiến khu. Các chiến sĩ du kích đã anh dũng chiến đấu, đánh giáp lá cà và chủ động rút lui để bảo toàn lực lượng. Dù tồn tại trong thời gian không dài, Chiến khu Ngọc Trạo đã góp phần đặt nền móng cho phong trào đấu tranh vũ trang, để lại nhiều kinh nghiệm quý báu cho cách mạng trước Tổng khởi nghĩa Tháng Tám năm 1945. Ngày nay, Khu di tích Chiến khu Ngọc Trạo là địa chỉ giáo dục truyền thống cách mạng, giúp thế hệ hôm nay hiểu hơn về tinh thần yêu nước, ý chí quật cường và sự hy sinh của các chiến sĩ cách mạng trong những năm tháng gian khó. Nguồn: Báo Quân đội nhân dân

Thanh Hóa

36 lượt xem

Xếp hạng : Di tích cấp quốc gia

Mở

Tháp cổ Mường Luân

Tháp cổ Mường Luân

Tháp cổ Mường Luân tọa lạc tại bản Mường Luân 1, xã Mường Luân, tỉnh Điện Biên, là công trình kiến trúc nghệ thuật có giá trị tiêu biểu gắn với cộng đồng người Lào ở vùng Tây Bắc. Được xây dựng từ khoảng thế kỷ XVI, tháp cao khoảng 15m, mang dáng bút tháp thanh thoát, gồm ba phần: chân, thân và ngọn. Thân tháp được trang trí nhiều hoa văn đặc sắc như rồng, cánh sen, hình mặt trời và các họa tiết cách điệu, thể hiện sự tinh tế của nghệ thuật kiến trúc và tín ngưỡng dân gian Lào. Công trình được xây dựng chủ yếu bằng những vật liệu địa phương như gạch, vôi, cát và mật mía, cho thấy kỹ thuật xây dựng thủ công độc đáo của cư dân vùng cao xưa. Không chỉ có giá trị về kiến trúc, tháp Mường Luân còn là dấu tích quan trọng phản ánh quá trình giao lưu văn hóa lâu đời giữa cộng đồng người Lào với các dân tộc trên vùng đất Tây Bắc. Bên cạnh tháp từng có một ngôi chùa là nơi sinh hoạt tín ngưỡng của cộng đồng người Lào; nhiều nghi lễ truyền thống, trong đó có lễ tắm tượng Phật, từng được tổ chức tại đây. Ngày 9/2/1991, Tháp Mường Luân được Bộ Văn hóa – Thông tin xếp hạng Di tích kiến trúc nghệ thuật cấp quốc gia. Sau khi được trùng tu, tôn tạo, di tích ngày nay trở thành điểm đến giàu giá trị lịch sử, kiến trúc và văn hóa, góp phần giới thiệu bản sắc đặc sắc của cộng đồng người Lào ở Mường Luân đến du khách. Nguồn: Báo và Phát thanh, Truyền hình Điện Biên

Điện Biên

33 lượt xem

Xếp hạng : Di tích cấp quốc gia

Mở

Đồn cổ Đại Lịch

Đồn cổ Đại Lịch

Đồn cổ Đại Lịch nằm trên đỉnh đồi Khe Gà, thuộc khu vực xã Chấn Thịnh, tỉnh Lào Cai ngày nay. Đây là di tích lịch sử ghi dấu một giai đoạn quan trọng trong quá trình hình thành và bảo vệ vùng đất Đại Lịch xưa. Di tích vẫn còn lưu giữ những dấu tích của một công trình phòng thủ cổ như vách đất được bạt dựng đứng, hệ thống đường hào xoắn ốc, khu chứa nước, bãi luyện quân và tuyến đường cơ động qua đèo Khau Bút. Những dấu tích này cho thấy vị trí đồn từng giữ vai trò quan trọng về quân sự trong khu vực. Theo các nghiên cứu, Đồn cổ Đại Lịch có liên quan đến thời kỳ Đại Lịch từng giữ vai trò lỵ sở châu Văn Chấn dưới triều Nguyễn, đồng thời có thể gắn với hoạt động của thủ lĩnh Cầm Hánh trong cuộc đấu tranh chống quân Cờ Vàng. Khu vực này cũng lưu truyền những câu chuyện về các nhân vật tham gia phong trào Cần Vương do Nguyễn Quang Bích lãnh đạo. Không chỉ có giá trị về lịch sử quân sự, các địa danh như Khe Gà, Khe Lợn, Khe Bò, Ao Rau Muống, Kho Thóc quanh khu vực đồn cổ còn góp phần phản ánh đời sống và vai trò của Đại Lịch trong lịch sử vùng Văn Chấn. Nguồn: Báo Lào Cai điện tử

Lào Cai

44 lượt xem

Xếp hạng : Di tích cấp quốc gia

Mở

Hang Tát Toòng

Hang Tát Toòng

Hang Tát Toòng, hay còn gọi là Thẳm Tát Toòng, mang nghĩa “hang thác đồng”, nằm tại khu vực Chiềng An, tỉnh Sơn La, cách trung tâm thành phố khoảng 2km. Đây là một hang động tự nhiên độc đáo, được công nhận là thắng cảnh quốc gia. Hang gồm hệ thống hang nước và hang khô với cảnh quan đặc sắc. Hang nước có dòng nước trong xanh chảy quanh năm, lòng hang sâu từ 5–6m, vòm hang rộng và cao. Đi sâu vào bên trong, du khách có thể chiêm ngưỡng những khối nhũ đá với hình thù phong phú, lung linh dưới ánh sáng, tạo nên không gian kỳ bí như một thế giới cổ tích. Cách hang nước không xa là hang khô với ba ngăn rộng lớn, nổi bật bởi những khối thạch nhũ được thiên nhiên kiến tạo qua thời gian, gợi liên tưởng đến nhiều hình tượng sinh động như sư tử, đại bàng hay người mẹ bồng con. Với vẻ đẹp nguyên sơ và giá trị cảnh quan đặc sắc, Hang Tát Toòng là điểm đến giàu sức hấp dẫn, góp phần làm nên giá trị du lịch và thắng cảnh của vùng đất Sơn La. Nguồn: Trang thông tin di tích lịch sử văn hóa Việt Nam

Sơn La

37 lượt xem

Xếp hạng : Di tích cấp quốc gia

Mở

Tháp cổ Chiềng Sơ

Tháp cổ Chiềng Sơ

Tháp cổ Chiềng Sơ Tháp cổ Chiềng Sơ nằm tại bản Nà Muông, xã Chiềng Sơ, tỉnh Điện Biên, là một di tích kiến trúc nghệ thuật độc đáo, được các nhà nghiên cứu xác định có niên đại khoảng thế kỷ XV–XVI. Tháp cao 10,5m, được xây bằng gạch và vôi vữa mật, có dáng như một chiếc nậm rượu, chân tháp vuông vững chắc và thân tháp thu nhỏ dần về phía trên. Điểm nổi bật của tháp là hệ thống hoa văn trang trí tinh xảo với hình cánh sen, chim muông, hoa lá và đặc biệt là những con rồng đắp nổi uốn quanh thân tháp. Phần trên được tạo hình như những búp sen, mang vẻ đẹp mềm mại, thanh thoát. Không chỉ có giá trị về kiến trúc và nghệ thuật, Tháp Chiềng Sơ còn là minh chứng cho sự giao lưu văn hóa và tình đoàn kết lâu đời giữa nhân dân hai nước Việt Nam và Lào. Đây là một di sản quý góp phần làm phong phú thêm giá trị lịch sử, văn hóa của vùng đất Điện Biên. Nguồn: Ủy ban nhân dân tỉnh Điện Biên

Điện Biên

45 lượt xem

Xếp hạng : Di tích cấp quốc gia

Mở

Di tích miếu An Tân

Di tích miếu An Tân

Miếu An Tân tọa lạc tại tổ 2, phường An Tân, là một di tích gắn với quá trình khai hoang, lập làng của cư dân thôn An Khê xưa. Với diện tích hơn 3.500m², miếu không chỉ là nơi sinh hoạt tín ngưỡng của cộng đồng mà còn lưu giữ những dấu ấn văn hóa lâu đời của vùng đất An Tân. Vị thần được thờ chính tại miếu là Thiên Y A Na, một nữ thần có nguồn gốc Champa. Bên cạnh đó còn có các vị thần như Thành hoàng, Cao Các nguyên quân, Bạch Mã thái giám, Sơn quân, Tiêu Diện và Chúa Ngung man nương. Hằng năm, người dân tổ chức lễ Khai sơn vào ngày 10 tháng Giêng và lễ Quý Xuân vào ngày 17 tháng Hai âm lịch, thể hiện lòng biết ơn đối với các vị thần đã che chở, bảo vệ cuộc sống bình yên của cộng đồng. Với những giá trị lịch sử và văn hóa đặc sắc, miếu An Tân là điểm đến góp phần tìm hiểu đời sống tín ngưỡng và quá trình hình thành cộng đồng cư dân trên vùng đất An Khê. Nguồn: Báo và Phát thanh, Truyền hình Gia Lai

Gia Lai

75 lượt xem

Xếp hạng : Di tích cấp tỉnh

Mở

Đình Cửu Định

Đình Cửu Định

Đình Cửu Định tọa lạc tại tổ 1, phường An Phước, là một di tích gắn với quá trình hình thành và phát triển cộng đồng cư dân người Việt tại vùng đất An Khê. Với diện tích hơn 1.460m², đình là trung tâm tín ngưỡng của làng Cửu Định xưa. Đình thờ các vị thần được sắc phong như Thiên Y A Na, Thành hoàng, Thổ địa, cùng các bậc Tiền hiền, Hậu hiền có công khai phá, lập làng và xây dựng quê hương. Hằng năm, đình tổ chức các lễ cúng Quý Xuân, Thanh Minh vào ngày 16 tháng 2 và Quý Thu vào ngày 16 tháng 8 âm lịch. Trong đó, lễ Quý Xuân là lễ hội quan trọng, thu hút đông đảo người dân tham dự. Không chỉ có giá trị về tín ngưỡng, đình Cửu Định còn là minh chứng cho quá trình di cư, tụ cư, khai hoang lập làng của người Việt tại An Khê từ những năm đầu thế kỷ XX, góp phần lưu giữ những giá trị lịch sử và văn hóa truyền thống của địa phương. Nguồn: Báo và phát thanh, truyền hình Gia Lai

Gia Lai

78 lượt xem

Xếp hạng : Di tích cấp tỉnh

Mở

Di tích nổi bật

Xem tất cả
Khu di tích Láng Le Bàu Cò

Khu di tích Láng Le Bàu Cò

Khu di tích Láng Le Bàu Cò tọa lạc tại xã Tân Nhựt, huyện Bình Chánh, Tp HCM. Láng Le Bàu Cò gắn liền với cuộc kháng chiến chống Pháp xâm lược vào năm 1948 với những trận đánh lớn đi vào lịch sử. Di tích Láng Le Bàu Cò được công nhận là di tích lịch sử cấp thành phố vào năm 2003. Sở dĩ được gọi tên là khu di tích Láng Le Bàu Cò vì Tên gọi của khu di tích Láng Le Bàu Cò là do người dân địa phương đặt ra. Xóm làng được thành lập cạnh những con kênh rạch chằng chịt và dòng sông. Láng Le Bàu Cò có vị trí nằm ở bên trong cánh đồng có diện tích rộng lớn và có rất nhiều tôm, cua, cá. Cùng với nhiều loài chim như vịt trời, cò, con le le, cúm núm, cồng cộc, đa đa, diệc, đỏ nách tới kiếm ăn tại đây. Vì vậy, người dân Tân Nhựt gọi với cái tên thân thuộc và mộc mạc đó là Láng Le Bàu Cò. Di tích Láng Le Bàu Cò được xem là cửa ngõ để di chuyển tới trung tâm căn cứ Vườn Thơm và tấn công cơ quan đầu não của quân địch tại Sài Gòn. Trước đây khu di tích Láng Le Bàu Cò vốn là cánh đồng lau sậy mọc um tùm. Vào ngày 15/4/1948 thực dân Pháp đưa 3 nghìn quân lính cùng nhiều vũ khí hiện đại đồng loạt tấn công khu vực Láng Le Bàu Cò nhằm tiêu diệt căn cứ Vườn Thơm. Khi đó lực lượng vũ trang cách mạng ở Láng Le - Bàu vì lực lượng nhỏ và vũ khí thô sơ tuy nhiên được sự giúp đỡ của người dân địa phương cùng với lợi thế về địa hình. Chỉ sau hơn nửa ngày đấu tranh đã chuyển sang tấn công khiến quân Pháp bị thương vong với số lượng lớn. Chiến thắng Láng Le Bàu Cò đã tiêu diệt 300 tên địch và bắt sống 30 lính đánh thuê cùng phá hủy nhiều máy móc, xe nhà binh, súng các loại của quân giặc. Tuy nhiên, về phía ta có nhiều cán bộ chiến sĩ đã anh dũng hy sinh với tuổi đời còn rất trẻ. Ngày 14/10/1966 tại Láng Le tiểu đoàn biệt động quân Việt Nam Cộng Hòa bị dân quân du khách tiêu diệt. Khu di tích Láng Le Bàu Cò có ý nghĩa lịch sử to lớn đối với người dân Sài Gòn nói riêng và cả nước nói chung. Trước lòng căm thù thực dân Pháp, quân dân Láng Le Bàu Cò đã có cuộc chiến vang lừng lịch sử và có ý nghĩa to lớn mở đầu cho phía ta và phía địch. Đối với phía ta trận đánh mở đầu cho sự anh dũng trong tư thế kháng chiến vững mạnh. Còn với quân địch đã phải lùi vào thế bỏ chiến lược và bị tiêu diệt. Thực dân Pháp không còn định hình được chiến lược đánh bại Việt Minh. Hơn thế, tại căn cứ Vườn Thơm, Láng Le Bàu Cò còn diễn ra trận chiến quyết tâm bảo vệ căn cứ của ta và đập tan mọi kế hoạch phá hoại của quân giặc. Khu di tích Láng Le Bàu Cò sau phong trào Đồng Khởi vào năm 1960 còn là hậu cần, bàn đạp của lực lượng vũ trang để giải phóng Long An - Sài Gòn - Gia Định. Để tưởng nhớ sự hy sinh của đồng bào và các chiến sĩ của ta, vào năm 1988 huyện Bình Chánh đã xây dựng công trình lịch sử tại vùng đất Láng Le Bàu Cò với diện tích rộng 1000m2. Nguồn: Báo thông tin điện tử TP Hồ Chí Minh

TP Hồ Chí Minh

17790 lượt xem

Xếp hạng : Di tích cấp thành phố

Mở

Di Tích Lịch Sử Nhà Lao Tân Hiệp

Di Tích Lịch Sử Nhà Lao Tân Hiệp

Nhà lao Tân Hiệp còn có tên là "Trung tâm cải huấn Tân Hiệp" tọa lạc ở khu phố 6, phường Tân Tiến, TP Biên Hòa. Di tích Nhà lao Tân Hiệp đã được Bộ Văn Hoá Thể Thao xếp hạng là di tích cấp quốc gia ngày 15-1-1994. Nhà lao Tân Hiệp là một trong sáu nhà tù lớn nhất miền Nam Việt Nam và là nhà tù lớn nhất vùng Đông Nam bộ, được xây dựng ở vị trí quân sự quan trọng, án ngữ phía đông bắc thị xã Biên Hòa. Phía trước là quốc lộ 1; phía sau là đường xe lửa Bắc - Nam. Đây là vị trí biệt lập, thuận tiện trong giao thông, dễ dàng cho việc bảo vệ, canh gác, nhận tù từ nơi khác đến và chuyển tù đi Côn Đảo, Phú Quốc... Nhà lao Tân Hiệp có diện tích 46.520m2 với 8 trại giam, trong đó có 5 trại giam những người tù cộng sản, người yêu nước. Xung quanh nhà tù được bao bọc bởi 4 lớp kẽm gai bùng nhùng với 9 lô cốt, 3 tháp canh cùng đội lính bảo vệ và hệ thống báo động tối tân. Mang tên "Trung tâm cải huấn" nhưng thực chất bên trong là kho súng, phòng xét hỏi, tra tấn với những dụng cụ hiện đại bậc nhất. Mỗi trại giam chỉ có diện tích gần 200m2 nhưng giam giữ từ 300-400 người, có lúc lên đến cả ngàn người. Đặc biệt ở đây có các phòng "cải hối", "chuồng cọp" rất nhỏ hẹp và điều kiện sinh hoạt cực kỳ khắc nghiệt, tù nhân sống chẳng khác gì trong lò thiêu xác. Chế độ ăn uống cực kỳ mất vệ sinh, bọn cai ngục mua gạo mục, cá thối dùng để bón ruộng, chiên bằng dầu luyn cho tù nhân ăn dẫn đến nhiều người bị ngộ độc. Với quyết tâm thoát khỏi nhà tù đế quốc, trở về với Đảng, với nhân dân để tiếp tục chiến đấu, giải phóng dân tộc, ngày 2-12-1956, được sự nhất trí của Liên Tỉnh ủy miền Đông, những chiến sĩ cộng sản bị "câu lưu" trong nhà lao Tân Hiệp dưới sự chỉ đạo trực tiếp của đồng chí Nguyễn Trọng Tâm (Bảy Tâm) - phụ trách Đảng ủy nhà tù và một số đồng chí khác đã bất thần làm một cuộc phá xiềng tập thể giải thoát gần 500 đồng chí, đồng bào yêu nước. Sự kiện này đã làm xôn xao cả Lầu Năm Góc. Mỹ - Diệm vội vã huy động cả quân chủ lực lẫn bảo an, dân vệ đang trấn thủ 3 tỉnh Biên Hòa, Bà Rịa, Thủ Dầu Một và hai biệt đoàn biệt động quân đến bủa lưới bao vây, truy bắt đoàn tù nhưng đều thất bại. Các đồng chí, đồng bào của ta thoát khỏi nhà lao Tân Hiệp đã được sự giúp đỡ, che chở của các cơ sở địa phương, trở về căn cứ an toàn. Trong số tù nhân vượt ngục có các đồng chí: Bảy Tâm, Hai Thông, Lý Văn Sâm... đã trở thành những hạt nhân nòng cốt cho phong trào Đồng Khởi sau này. Năm 2001, để tái hiện phần nào tội ác của Mỹ - Diệm đối với các đồng chí, đồng bào ta bị giam cầm tại nhà lao Tân Hiệp và diễn tả lại toàn bộ cuộc nổi dậy phá khám Tân Hiệp ngày 2-12-1956, Bảo tàng Đồng Nai đã tiến hành sưu tầm hình ảnh, tài liệu, hiện vật trưng bày tại di tích và làm một sa bàn để phục vụ nhu cầu nghiên cứu, tham quan của mọi tầng lớp nhân dân. Hàng ngày, di tích luôn mở cửa đón khách tham quan. Nguồn: Báo Đồng Nai Điện Tử

Đồng Nai

16285 lượt xem

Xếp hạng : Di tích cấp quốc gia

Mở

Đền thờ Nguyễn Hữu Cảnh

Đền thờ Nguyễn Hữu Cảnh

Đền thờ Nguyễn Hữu Cảnh còn gọi là đình Bình Kính tọa lạc bên tả ngạn sông Đồng Nai, xưa kia thuộc ấp Bình Kính, thôn Bình Hoành, tổng Trấn Biên, nay là ấp Nhị Hòa, xã Hiệp Hòa, TP Biên Hòa, đã được Bộ Văn Hoá – Thông Tin – Thể Thao & Du Lịch xếp hạng là di tích lịch sử cấp quốc gia ngày 25-3-1991. Đền thờ Nguyễn Hữu Cảnh được xây dựng vào khoảng cuối thế kỷ 18, ban đầu ngôi đền có qui mô nhỏ, vách làm bằng ván, mái ngói âm dương, cách ngôi đền hiện tại khoảng 400m về hướng Nam. Các tư liệu cho biết: ngôi đền được xây dựng lại lần đầu tiên vào năm Tự Đức thứ tư (1851); đến năm 1923, đền được tái thiết lại ở địa điểm hiện nay. Nguyễn Hữu Cảnh sinh vào năm 1650 tại Gia Miêu, huyện Tống Sơn, tỉnh Thanh Hóa trong một gia đình có nhiều bậc danh tướng đương triều. Ông là người văn võ song toàn, lập được nhiều chiến công lớn và được chúa Nguyễn tin yêu, trọng vọng. Mùa Xuân năm Mậu Dần (1698), ông vâng lệnh chúa Nguyễn vào kinh lược xứ Đàng Trong khi ấy còn rất hoang vu. Đến đất Đồng Nai, ông đặt Đại bản doanh ở Cù lao Phố (nay là xã Hiệp Hòa); lấy đất Đồng Nai làm huyện Phước Long, dựng dinh Trấn Biên, lấy xứ Sài Gòn làm huyện Tân Bình, dựng dinh Phiên Trấn, đất đai mở mang ngàn dặm. Ông chiêu mộ lưu dân đến lập nghiệp, tổ chức bộ máy hành chính từng bước có qui củ, khuyến khích khai hoang, thúc đẩy Cù lao Phố phát triển thành một trong những cảng thị sầm uất, năng động nhất đàng Trong suốt thế kỷ 18 và chính thức sáp nhập vùng đất mới phương Nam vào bản đồ Đại Việt. Sau khi kinh lược phương Nam trở về, năm sau ông lại phụng mệnh chúa Nguyễn Phúc Chu thống lĩnh đại binh dẹp vua Chân Lạp giữ vững miền biên ải phương Nam. Tháng 4 năm Canh Thìn (1700), sau khi hoàn thành sứ mệnh, trên đường trở về đến Rạch Gầm (Tiền Giang) thì ông thọ bệnh qua đời nhằm ngày 16 tháng 5 âm lịch, thọ 51 tuổi. Trên đường di quan ông về quê an táng, quan tài của ông được đình lại khu đất khi xưa ông đặt Đại bản doanh ở Cù lao Phố để cho nhân dân địa phương có dịp bái biệt ông lần cuối. Nơi đình quan đã được nhân dân địa phương xây một ngôi mộ vọng để ghi nhớ sự kiện này. Khi hay tin Nguyễn Hữu Cảnh mất, Chúa Nguyễn vô cùng thương tiếc đã phong tặng ông là Thượng đẳng công thần đặc Trấn phủ Chưởng cơ với tước: Lễ Thành Hầu và đưa bài vị của ông vào thờ tại Thái miếu. Nguồn: Báo Đồng Nai Điện Tử

Đồng Nai

14794 lượt xem

Xếp hạng : Di tích cấp quốc gia

Mở

Di tích chiến thắng La Ngà

Di tích chiến thắng La Ngà

Di tích chiến thắng La Ngà (tại km số 104-112 trên quốc lộ 20 đi Đà Lạt, thuộc xã Phú Ngọc, huyện Định Quán) được Bộ Văn hóa xếp hạng di tích lịch sử cấp quốc gia ngày 12-12-1986. Để cổ vũ cho chiến thắng Việt Bắc thu - đông 1947 và cũng để giáng cho kẻ thù một đòn chí mạng, Ban chỉ huy chi đội 10 đã quyết định phải tổ chức một trận đánh lớn, để quân giặc thấy rằng dân tộc Việt Nam, con người Việt Nam không dễ dàng chịu khuất phục trước bất kì một kẻ thù nào; Bằng tinh thần quả cảm và sự khôn khéo sau gần nửa năm chuẩn bị, nghiên cứu địa hình, chọn địa điểm: vào lúc 15 giờ 12 phút ngày 1/3/1948 trận chiến phục kích La Ngà bắt đầu và kết thúc vào lúc 15 giờ 57 phút cùng ngày, chỉ trong vòng 45 phút. Chiến thắng La Ngà đã làm nức lòng nhân dân Định Quán nói riêng, quân dân Đồng Nai nói chung. Đây là chiến thắng thể hiện sự mưu trí, dũng cảm của quân và dân ta làm cho địch một phen kinh hồn, bạt phía. Từ chiến thắng này lực lượng ta ngày càng thêm lớn mạnh, góp phần đánh bại kế hoạch đánh nhanh, thắng nhanh của địch, buộc chúng phải rơi vào thế bị động. Quần thể danh thắng đá Chồng, Thác Mai, sông La Ngà và Tượng đài chiến thắng La Ngà là một quần thể du lịch kì thú của Định Quán. Vẻ đẹp kỳ thú của Hòn Ba Chồng, Núi Đá Voi, Hòn Dĩa, cùng với ngôi chùa thiên nhiên dưới chân núi đá là những cụm tiêu biểu tạo thành cảnh đẹp hài hòa cho khu danh thắng Đá Chồng. Quần thể Đá Chồng Định Quán còn là nơi lưu lại những dấu tích của cuộc sống người tiền sử. Tại đây dưới các mái đá, ven các khe suối và cả các sườn dốc ven thung lũng đã phát hiện nhiều công cụ sản xuất, sinh hoạt của người xưa bằng đá, đồng, đất nung. Trong suốt cuộc kháng chiến dài 30 năm. Định Quán là một phần quan trọng của Chiến khu Đ. Đá Chồng đã chứng kiến sự hình thành, phát triển, trú quân, triển khai chiến đấu của lực lượng cách mạng. Ngày nay, một phần đất của khu danh thắng Đá Chồng Định Quán đã được sử dụng, xây dựng thành khu Trung tâm văn hóa thể thao huyện Định Quán. Tương lai không xa khu danh thắng Đá Chồng Định Quán sẽ được đầu tư tôn tạo góp phần làm cho cảnh quan thiên nhiên ngày càng tươi đẹp, là địa điểm du lịch sinh thái hấp dẫn. Nguồn: Uỷ Ban Nhân Dân Huyện Định Quán

Đồng Nai

14618 lượt xem

Xếp hạng : Di tích cấp quốc gia

Mở

Tháp cổ Chót Mạt

Tháp cổ Chót Mạt

Di tích Lịch sử-Văn hóa Tháp Chót Mạt, tọa lạc ấp Xóm Tháp, xã Tân Phong, huyện Tân Biên, tỉnh Tây Ninh, được Bộ Văn hóa Thông tin (nay là Bộ Văn hóa Thể thao và Du lịch) công nhận là di tích lịch sử - văn hóa ngày 23 tháng 7 năm 1993. Đồng thời là một trong ba công trình tháp cổ cuối cùng còn lại ở miền Nam nước ta. Trải qua nhiều lần trùng tu vào các năm 1938, 2003 và gần đây nhất là vào năm 2013. Mặc dù trải qua các đợt trùng tu tôn tạo, nhưng khu di tích tháp cổ Chót Mạt đã mang cho mình một diện mạo mới nhưng vẫn giữ nguyên được tinh thần kiến trúc cổ. Toàn bộ tòa Tháp được xây dựng bằng gạch và đá phiến với phần đỉnh tháp nhọn dần lên, từ mặt đất lên nơi cao nhất của đỉnh tháp được ước tính là 10m. Ngoài ra, ngọn tháp cổ này nằm trên gò đất cao giữa cánh đồng nên nhìn từ xa nó tựa như ngọn bút đang vươn lên cao dần. Năm 2003 Uỷ ban nhân dân tỉnh Tây Ninh quyết định phê duyệt dự án đầu tư trùng tu tôn tạo bảo tồn di tích tháp Chót Mạt và được tiến hành triển khai trùng tu tôn tạo phục hồi, trưng bày mở hố khai quật năm 2003 đưa vào sử dụng. Ngày 27/11/2019 UBND tỉnh ban hành Quyết định Quy định về phân cấp quản lý, bảo vệ và phát huy giá trị di tích lịch sử văn hóa và danh lam thắng cảnh trên địa bàn tỉnh Tây Ninh. Quyết định giao UBND huyện Tân Biên trực tiếp quản lý 4 di tích, trong đó có di tích cấp Quốc gia di tích Lịch sử- văn Hóa Tháp Chót Mạt. Đặc biệt Di tích Lịch sử-Văn hóa Tháp Chót Mạt trên địa bàn xã Tân Phong, huyện Tân Biên được chọn nằm trong chũi liên kết phát triển du lịch của Tỉnh Tây Ninh. Đây là một địa điểm tham quan rất đáng để khám phá, góp phần phát triển du lịch trên địa bàn xã Tân Phong nói riêng và huyện Tân Biên nói chung. Nguồn: Cổng thông tin điện tử tỉnh Tây Ninh

Tây Ninh

14457 lượt xem

Xếp hạng : Di tích cấp quốc gia

Mở

Dinh Quận Hóc Môn

Dinh Quận Hóc Môn

Dinh Quận Hóc Môn tọa lạc tại số 1, đường Lý Nam Đế, thị trấn Hóc Môn, (cạnh trụ sở UBND huyện) là nơi để lại nhiều sự kiện đấu tranh nổi bật suốt chặng đường dài lịch sử từ 1885 đến ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng của Nhân dân 18 Thôn vườn trầu. Sau khi hạ được Đại đồn Chí Hòa, thực dân Pháp xây dựng tại nơi đây một ngôi nhà gỗ cao 3 tầng dùng làm Đồn binh. Khi tên Trần Tử Ca về nhậm chức Đốc Phủ, dùng Đồn làm Dinh huyện Bình Long. Vốn là một tay say quỷ quyệt của thực dân Pháp, Trần Tử Ca bị nhóm do các ông Phan Văn Hớn (Quản Hớn) và Nguyễn Văn Quá (Chánh Lãnh Binh) cầm đầu gần 1.000 nghĩa quân tiến về đốt Dinh Quận, bắt và cắt đầu bêu giữa chợ. Đó là ngày 8/2/1885 Tết Ất Dậu. Sau đó, Dinh Quận Hóc Môn được xây dựng lại với nền móng đá xanh, tường gạch, có hệ thống phòng thủ từ lầu cao đến tận vòng rào. Lối kiến trúc y như Đồn binh nên người địa phương gọi là Đồn Hóc Môn. Trấn nhậm thay Trần Tử Ca là Đốc phủ Ngôn, đến Quận Trà rồi Quận Thọ. Đây là khoảng thời gian dài người dân vùng Hóc Môn hứng chịu bao cảnh tham tàn, bỉ ổi của thực dân Pháp và bọn tay sai đầu sỏ kể trên. Với truyền thống kiên cường bất khuất của Nhân dân Hóc Môn. Ngày 4/6/1930, khoảng 6 giờ sáng trước Dinh Quận, hàng trăm bà con Hóc Môn kéo biểu tình đòi “bãi bỏ thuế thân, giảm các thuế môn bài và thuế chợ, cấp đất cho dân cày nghèo”. Quận Trà cho mời những người cầm đầu vào Dinh thương lượng, nhưng chúng xảo quyệt bắt giữ họ trong đó có ông Lê Văn Uôi (Bí thư xã Tân Thới Nhì), là người cầm đầu cuộc biểu tình. Mọi người không nao núng, quyết liệt đòi hỏi Quận Trà phải thả những người bị cầm giữ. Đoàn biểu tình càng lúc càng đông, khí thế đấu tranh có phần lan rộng, khiến Quận Trà nhượng bộ. Một mặt chúng thả những người bị giữ, mặc khác chúng gọi điện cho quan thầy ở Sài Gòn cứu viện. 2 giờ sau, cuộc đấu tranh bị 2 tên Blachôlê và Nobbot chỉ huy bắn xối xả vào đoàn biểu tình, gây thương vong nhiều người. Nhưng sự kiện lịch sử gây ấn tượng nhất tại Dinh Quận Hóc Môn là cuộc khởi nghĩa Nam kỳ ngày 23/11/1940. Đồn Hóc Môn rất kiên cố, xây bằng đá xanh như là một pháo đài, cao khoảng 15 thước, có ụ súng và hệ thống phòng thủ lỗ châu mai do một trung đội lính khố xanh trấn giữ. Ngày 22/11/1940, Pháp tăng cường thêm 1 trung đội để đối phó với tình hình. Chiều 22/11/1940, cánh quân của ông Đỗ Văn Cội đột nhập vào thị trấn, giả dạng thường dân, phục kích sau lưng Đồn chờ lệnh cướp Đồn. Một cánh quân khác có nhiệm vụ phá cầu, đốn cây ngăn lộ, đánh chiếm các công sở, nhà việc... Cánh quân từ Phước Vĩnh An, Tân Thông, Tân An Hội, Tân Phú Trung do ông Phạm Văn Sáng và Đặng Công Bỉnh chỉ huy, xuất phát từ ấp Bến Đò, đánh chiếm nhà việc, diệt 1 tên, thu 4 súng, làm chủ tình hình tại đây (Tân Phú trung). Liền đó cánh quân này được lệnh kéo về Hóc Môn. Cánh quân Long Tuy Thượng do ông Bùi Văn Hoạt chỉ huy. Cánh quân thuộc Tổng Long Tuy Trung do ông Đỗ Văn Dậy và Lê Bình Đẳng chỉ huy. Khoảng 24 giờ đêm ngày 22/11/1940, vẫn chưa nghe thấy tiếng pháo lệnh ở Sài Gòn. Sau khi hội ý, các vị chỉ huy những cánh quân thống nhất tấn công Đồn giặc. Lập tức các cánh quân tiến thẳng về Đồn Hóc Môn, nơi trú ngụ của tên Quận trưởng Bùi Ngọc Thọ. 2 nghĩa quân tên Nghé và Kinh xung phong vào cổng trước, hy sinh. Nghĩa quân bốn phía xông vào Đồn như nước vỡ bờ. Trước sức mạnh của nghĩa quân và quần chúng, bọn lính trong Đồn không còn tinh thần kháng cự, bỏ chạy tán loạn. Nghĩa quân chiếm lĩnh hoàn toàn bên trong Đồn nhưng trên lầu, địch vẫn ngoan cố dùng súng bắn tẻ, cùng lúc gọi điện về Sài Gòn, Thủ Dầu Một cấp cứu. Vì nóng lòng bắt cho được tên Quận Thọ nên đồng chí Đỗ Văn Dậy bám ống máng nước để leo lên tầng trên Đồn. Đến lưng chừng bị trúng đạn, đồng chí bị rơi xuống và hy sinh sau đó. Cuộc chiến đấu đang thế giằng co thì viện binh địch đến. Không thể cầm cự, nghĩa quân rút khỏi thị trấn, phân tán về các làng, lực lượng vũ trang rút về ấp Bến Đò (Tân Phú Trung) rồi di chuyển sang ấp Mỹ Hạnh (Đức Hòa). Cuộc tiến công Đồn Hóc Môn (sau gọi là Dinh Quận Hóc Môn) tuy thất bại nhưng đã để lại ấn tượng sâu sắc trong lòng mọi người dân sự khâm phục lòng dũng cảm của các chiến sĩ cách mạng trong cuộc chiến đấu chống thực dân cướp nước. Trong chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, 7 giờ sáng ngày 30/4/1975, thị trấn Hóc Môn hoàn toàn được giải phóng, lá cờ Tổ quốc phất phới bay trên Dinh Quận, nơi tên Quận trưởng Nguyễn Như Sang và bọn tay sai đã chạy trốn từ tối đêm trước. Ngày nay Dinh Quận Hóc Môn được chọn làm Bảo tàng huyện, nơi đây tập trung nhiều tư liệu trưng bày, minh họa các giai đoạn lịch sử thăng trầm cũng như khí thế đấu tranh cách mạng của quân và dân trong huyện Hóc Môn qua 2 cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ. Một Tượng đài đặt trước di tích Dinh Quận Hóc Môn thể hiện gương hy sinh bất khuất của quân và dân 18 Thôn Vườn trầu, được công nhận là di tích lịch sử văn hóa cấp Quốc gia. Nguồn: Ủy ban nhân dân huyện Hóc Môn

TP Hồ Chí Minh

13855 lượt xem

Xếp hạng : Di tích cấp quốc gia

Mở

Tòa đại sứ quán Mỹ

Tòa đại sứ quán Mỹ

Di tích tòa Đại sứ Mỹ còn được gọi "Nhà trắng phương Đông" là nơi xuất phát các âm mưu thâm độc về quân sự lẫn chính trị nhằm thôn tính lâu dài đất nước Việt Nam, địa điểm di tích là tòa nhà 5 tầng xây dựng theo kiến trúc hiện đại, tọa lạc tại góc đường Mạc Đĩnh Chi - Lê Duẩn, Phường Bến Nghé, Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh, trên một mảnh đất rộng gần 5.000m2. Trước đó, tòa đại sứ Mỹ nằm tại số 39 đường Hàm Nghi. Khoảng 10 giờ sáng ngày 30/3/1963, tòa đại sứ Mỹ trên đường Hàm Nghi đã bị đội Biệt động F21 đánh chất nổ làm sập 3 tầng lầu: 1, 2, 3 do đó Mỹ đã quyết định xây lại. Tòa nhà được khởi công xây dựng vào năm 1965, hầu hết vật liệu cũng như máy móc xây dựng đều được chở từ Mỹ sang, dưới sự điều khiển của kỹ sư người Mỹ. Theo thiết kế, tòa nhà bao bọc bởi 7.800 viên đá Taredo có khả năng chống đỡ mìn, đạn pháo. Cửa chính trang bị bằng thép dầy, những cửa khác chắn bởi lớp kín dầy đặc biệt chống đạn. Tất cả cửa sử dụng hệ thống tự động kể cả cửa sắt chắn lối lên các tầng lầu. Bên trong tòa nhà gồm 140 phòng với 200 nhân viên phục vụ ngày đêm ngoài ra bên cạnh tòa nhà còn được xây thêm một dãy nhà phụ gọi là khu "Norodom" dành riêng cho nhân viên C.I.A. Khi khánh thành, tòa nhà chỉ có 3 tầng. Cuối năm 1966 xây thêm 2 tầng và 1 sân thượng dùng làm nơi hạ cánh cho máy bay lên thẳng. Bao quanh tòa nhà là bức tường cao 3m, hai đầu tường sát đường Lê Duẩn xây 2 lô - cốt cao, canh gác ngày đêm. Tòa Đại sứ hoàn thành tháng 9/1967 với một hệ thống phòng thủ như là một pháo đài có 60 lính gác, một hầm tránh bom, một hệ thống màn hình ra-đa nhằm kiểm soát mặt tiền. Ngay sau khi tòa nhà hoàn tất, ngày 24/9/1967, hàng ngàn sinh viên, học sinh kéo đến trước cổng Đại sứ quán Mỹ đấu tranh đòi "Mỹ chấm dứt ném bom miền Bắc", "Mỹ cút về nước" và ra thông báo tố cáo Mỹ "chà đạp và vi phạm nghiêm trọng quyền tự quyết của nhân dân miền Nam". Nhưng sự kiện nổi bật xảy ra tại Tòa Đại sứ Mỹ là trận đánh của Biệt động thành trong Tổng Tiến công và nổi dậy xuân Mậu Thân 1968. Mục tiêu đánh Đại sứ quán Mỹ được bổ sung ngày 24/ 1/1968 do Ngô Thành Vân phụ trách chung. Đội Biệt động 11 nhận lãnh nhiệm vụ quan trọng này gồm đội trưởng Út Nhỏ (đội trưởng trinh sát quân khu) và các chiến sĩ: Bảy Truyền, Tước, Thanh, Chức, Trần Thế Ninh, Chính, Tài, Văn, Đực, Cao Hoài Vinh, Mang, Sáu và 2 lái xe: Trần Sĩ Hùng và Ngô Văn Thuận. Một sự kiện khác cũng không kém phần tủi nhục cho Toà Đại sứ Mỹ là cảnh hỗn loạn tháo chạy xảy ra trong 2 ngày 29 và 30/04/1975 của Mỹ và đồng bọn. Trước sức tấn công thần tốc của quân và dân Việt Nam trong chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, trên 1.000 người Mỹ và hơn 5.000 người Việt thân Mỹ đã chen lấn, xô đẩy, đạp nhau để tranh giành một chỗ trên sân thượng của toà nhà hòng được trực thăng cứu thoát. Di tích này đã được cấp bằng công nhận của Bộ Văn hoá ngày 25/6/1976. Hiện nay, toà nhà Đại Sứ Mỹ đã bị phá bỏ, xây mới thành lãnh sự quán tại Thành phố Hồ Chí Minh, nhưng cạnh đó một bia tưởng niệm ghi nhớ mãi chiến công của các chiến sĩ biệt động đã hy sinh trong trận đánh. Nguồn: Thành Đoàn Thành phố Hồ Chí Minh

TP Hồ Chí Minh

13741 lượt xem

Xếp hạng : Di tích cấp quốc gia

Mở

Lăng Mai Xuân Thưởng

Lăng Mai Xuân Thưởng

Mai Xuân Thưởng là người lãnh đạo phong trào Cần Vương chống Pháp cuối thế kỷ XIX ở Bình Định. Mai Xuân Thưởng sinh năm Canh Thân 1860, mất năm Đinh Hợi 1887 người thôn Phú Lạc, tổng Phú phong, huyện Tuy Viễn, tỉnh Bình Định (nay là thôn Phú Lạc, xã Bình Thành, huyện Tây Sơn, tỉnh Bình Định). Cha là Mai Xuân Tín làm Bố chánh ở Cao Bằng, mẹ là Huỳnh Thị Nguyệt con của một nhà quyền quý trong làng. Mai Xuân Thưởng vốn là người thông minh, ham học. Năm 18 tuổi (1878) ông đỗ Tú tài tại Trường thi Bình Định. năm 25 tuổi (1885) thi đỗ cử nhân. Hưởng ứng chiếu Cần vương của vua Hàm Nghi, Mai Xuân Thưởng về quê Phú Lạc, chiêu mộ nghĩa binh, lập căn cứ ở hòn Sưng dựng cờ cần vương chống Pháp, sau đó Mai Xuân Thưởng đã đem lực lượng của mình gia nhập vào nghĩa quân do Đào Doãn Địch lãnh đạo và được Đào Doãn Địch phong giữ chức Tán lương quân vụ (phụ trách về lương thực của nghĩa quân). Kể từ đó cho đến năm 1887, phong trào cần vương ở Bình Định phát triển mạnh mẽ và lan ra đến Quảng Ngãi, Phú Yên...thu hút hàng chục ngàn người thuộc mọi tầng lớp tham gia. Ngày 20/9/1885 Đào Doãn Địch mất, giao toàn bộ lực lượng cho Mai Xuân Thưởng. Ông chọn vùng núi Lộc Đổng (nay thuộc xã Bình Tường, huyện Tây Sơn) làm đại bản doanh và tổ chức lễ tế cờ , truyền hịch kêu gọi sỹ phu, văn thân, nhân dân tham gia phong trào cần Vương chống Pháp. Trong buổi lễ ấy, nghĩa quân nhiều vùng trong tỉnh Bình Định đã nhất trí suy tôn ông làm Nguyên soái lãnh đạo cuộc khởi nghĩa và nêu cao khẩu hiệu: “Tiền sát tả, hậu đả Tây”. Đầu năm 1887, quân Pháp dưới sự chỉ huy của Trung tá Cherrean và quân triều đình do Trần Bá Lộc chỉ huy cùng với Công sứ Trira đã mở cuộc tấn công lớn lên căn cứ đại bản doanh của phong trào Cần Vương Bình Định, trận giao chiến giữa lực lượng nghĩa quân với giặc Pháp diễn ra vô cùng ác liệt, cuộc chiến đấu không cân sức, cuối cùng lực lượng khởi nghĩa bị đẩy lùi. Tháng 3 năm 1887, sau trận ác chiến ở Bàu Sấu (thị xã An Nhơn, tỉnh Bình Định), Mai Xuân Thưởng bị thương nặng, nghĩa quân rút về Mật khu Linh Ðổng. Ngày 21 tháng 4 năm 1887, Trần Bá Lộc bao vây đánh chiếm căn cứ mật khu Linh Đổng và bắt được một số nghĩa quân, trong đó có thân mẫu Mai Nguyên Soái. Đêm 30 tháng 4 năm 1887, Mai Xuân Thưởng đã cử một đội quân cảm tử đột nhập doanh trại Trần Bá Lộc, giải vây cho những người bị bắt, ông cùng đoàn thuộc hạ gồm 50 người vượt núi vào Phú Yên, tiếp tục kháng chiến, nhưng khi đến đèo Phú Quý (ranh giới giữa Bình Định và Phú Yên) thị bị phục binh Trần Bá Lộc bắt và đưa ra xử trảm tại Gò Chàm (Phía đông Thành Bình Định). Di tích Lăng mộ nhà yêu nước Mai Xuân Thưởng tọa lạc trên ngọn đồi cao của dãy núi Ngang (thuộc thôn Hòa Sơn, xã Bình Tường, huyện Tây Sơn, tỉnh Bình Định) cách thành phố Quy Nhơn khoảng 50km về hướng Tây Bắc; Lăng mộ được xây dựng trên khu đất rộng 1988m2, khánh thành ngày 22 tháng 1 năm 1961.Về tổng thể, Lăng được thiết kế theo kiểu lăng mộ cổ, xung quanh có thành thấp bao bọc. Cổng Lăng (tam quan) là 4 trụ vuông, phía trên thắt lại theo kiểu bầu lọ mang dáng dấp kiến trúc cổng đình, miếu cuối thế kỷ XIX. Giữa nhà Lăng là mộ phần Mai Xuân Thưởng hình khối chữ nhật theo hướng Đông - Tây; Phía đầu mộ dựng tấm Bia đá khắc bài ký ghi tiểu sử và sự nghiệp của Mai Xuân Thưởng: Di tích được Bộ Văn hóa Thông tin quyết định xếp hạng cấp Quốc Gia ngày 20 tháng 4 năm 1995. Nguồn: UBND Huyện Tây Sơn tỉnh Bình Định

Gia Lai

13380 lượt xem

Xếp hạng : Di tích cấp quốc gia

Mở

Thành Nhà Mạc Ở Cao Bằng (Thành Nà Lữ, Thành Bản Phủ, Thành Phục Hòa)

Thành Nhà Mạc Ở Cao Bằng (Thành Nà Lữ, Thành Bản Phủ, Thành Phục Hòa)

Thời kỳ nhà Mạc đóng đô ở Cao Bằng, để phòng bị quân nhà Lê tiến đánh, nhà Mạc đã tu bổ, sửa chữa thành Na Lữ (nay thuộc xã Hoàng Tung, Hòa An) và thành Bản Phủ (nay thuộc xã Hưng Đạo), thành Phục Hòa, ngoài ra còn xây dựng nhiều thành lũy khác ở Cao Bằng, làm cho Cao Bằng trở thành một trung tâm chính trị và quân sự ở vùng biên viễn Đông Bắc thời bấy giờ. Thành Na Lữ và thành Phục Hoà là hai thành được xây dựng từ trước. Theo ghi chép của Bế Hựu Cung trong Cao Bằng thực lục, thành Na Lữ và thành Phục Hòa mở đầu từ đời Đường Ý Tông năm Giáp Thân, niên hiệu Hàm Thông thứ 5 (874). Căn cứ vào sự hiện diện của nhiều ngôi mộ cổ có đá khắc ghi bia mộ tên, địa chỉ, quê quán những người phu dịch xây thành chết ở đây từ thời Hàm Thông có thể khẳng định hai thành này xây từ đời Đường. Thành Na Lữ được xây qua nhiều triều đại khác nhau. Khi nhà Mạc lên Cao Bằng đã cho xây lại bằng gạch. Thành Na Lữ có hình gần chữ nhật, có tổng diện tích khoảng 37,5 ha, chiều dài khoảng 800 m, chiều rộng khoảng 600 m, thành có 4 cửa. Thành Bản Phủ tại kinh đô Nam Bình, nước Nam Cương của Thục Phán khi xưa ở Cao Bình (Cao Bằng), nhà Mạc đã tu bổ thành Vương phủ tại vòng trong của kinh đô cũ Nam Bình và được gọi là thành Bản Phủ hay Vương phủ. Tại kinh đô Nam Bình xưa của nước Nam Cương và của nhà Mạc, thành Bản Phủ vẫn còn dấu tích khá rõ nét. Kinh đô Nam Bình gồm có hai vòng thành, để bảo vệ kinh thành, vòng ngoài có chu vi khoảng 5 km, gồm cả một vùng gò đồi thấp, quanh chân đồi được bạt dựng đứng như một bức tường thành, thuận lợi cho việc xây dựng phòng tuyến bảo vệ. Bờ thành phía Tây chạy song song với bờ sông Bằng đến đầu làng Bó Mạ, nối bờ thành Đông Nam chảy qua trước mặt Bản Phủ theo chân đồi ra gặp quốc lộ 4, phía Đông Bắc chạy theo chân đồi sát phía ngoài quốc lộ 4, lên đến Đầu gò là phía Tây Bắc tiếp tục chạy theo chân đồi, ra đến bờ sông gặp bờ thành phía Tây tạo thành một vòng thành khép kín. Khi nhà Mạc lên đóng đô đã tu sửa lại và xây dựng thêm một số công trình, trong đó thành Bản Phủ (thành nội - nơi của vua làm việc) được xây lên cao hơn trên các tường thành cũ từ thời kỳ Thục Phán, thành nằm trên một khu đất bằng phẳng. Cùng với việc xây dựng lại kinh thành, nhà Mạc còn xây dựng một hệ thống đồn bốt, thành lũy khá dày xung quanh kinh đô và một số điểm biên giới quan trọng, tạo thành một hệ thống bảo vệ kinh thành và bảo vệ biên giới. Thành Phục Hòa (huyện Phục Hoà) được xây theo kiểu hình vuông, mỗi chiều khoảng 400 m, gồm hai vòng thành, khoảng cách giữa hai vòng là 80 m. Hiện nay, tường thành phía Nam đã bị phá huỷ hoàn toàn. Thành Phục Hòa có 2 cổng chính: Cổng phía Bắc được mở thông ra quốc lộ đi Cửa khẩu Tà Lùng ngày nay, nhân dân thường gọi là Pác Cổng, cổng này được xây theo kiểu hình chữ nhật, rộng 8 m, cao 5 m, gồm hai cánh cổng làm bằng gỗ nghiến dày rất chắc chắn; cổng thứ hai ở phía Nam, mở thông ra bờ sông. Cả hai cổng đều bị san phẳng từ lâu, hiện nay không còn vết tích. Gần thành, tại phía Tây Bắc ngoại thành dọc bờ sông còn có nhiều vết tích lò nung gạch, nhân dân cho biết trong quá trình lao động, khai phá đã tìm thấy ở khu vực này nhiều lò gạch còn nguyên vẹn. Qua nghiên cứu, khảo sát cho thấy, tại Cao Bằng, nhà Mạc đã tu bổ, tôn tạo và xây dựng thêm nhiều thành, đồn luỹ, trong đó tu bổ, tôn tạo xây lại thành Bản Phủ, thành Na Lữ, thành Phục Hoà. Các đồn luỹ này đã tạo thành một hệ thống liên hoàn bảo vệ kinh thành khá vững chắc. Đến nay, những thành cổ nhà Mạc xây dựng thời kỳ đóng đô ở Cao Bằng, một số thành xây dựng bằng đất chỉ còn vết tích, nhưng các thành được xây bằng đá vẫn còn rất rõ. Nguồn: Báo Cao Bằng điện tử

Cao Bằng

13177 lượt xem

Xếp hạng : Di tích cấp quốc gia

Mở

KHU TƯỞNG NIỆM LIỆT SĨ NGÃ BA GIỒNG, DI TÍCH LỊCH SỬ QUỐC GIA

KHU TƯỞNG NIỆM LIỆT SĨ NGÃ BA GIỒNG, DI TÍCH LỊCH SỬ QUỐC GIA

Di tích Ngã Ba Giồng là di tích lịch sử cách mạng thuộc Ấp 5, xã Xuân Thới Thượng, huyện Hóc Môn. Được bao quanh bởi ba con đường: Phan Văn Hớn, Nguyễn Văn Bứa và tỉnh lộ 19. Khu di tích Ngã Ba Giồng là khu tưởng niệm về những sự kiện lịch sử trong hai cuộc khácg chiến chống ngoại xâm. Được công nhận là di tích lịch sử cấp quốc gia vào năm 2002. Ngã ba Giòng (còn có tên gọi đầy đủ là Ngã ba Giòng Bằng Lăng) nằm trên địa phận thôn Xuân Thới Tây thuộc 18 thôn vườn trầu xưa được hình thành từ những năm 1698 đến năm 1731. Từ lâu đời, Ngã ba Giồng là 1 địa danh có tên gọi dân gian đã đi vào lịch sử của quê hương 18 thôn vườn trầu Hóc Môn – Bà Điểm. Tục truyền rằng xưa kia nơi đây là 1 vùng đất giồng tương đối cao ráo và là nơi mọc nhiều cây bằng lăng nên địa danh này có tên gọi từ đó. Sau khi cuộc khởi nghĩa Nam kỳ (23/11/1940) bị thất bại, thực dân Pháp đã tăng cường đàn áp, khủng bố khốc liệt phong trào cách mạng vùng Hóc Môn – Bà Điểm. Chúng đã lập ra ở Hóc Môn 3 trường bắn để giết hại các đồng chí lãnh đạo Đảng, các đồng chí đồng bào yêu nước của quê hương Hóc Môn và các vùng lân cận. Ngã ba Giồng là trường bắn thứ ba ghi lại tội ác tày trời của giặc pháp và bọn tay sai đối với nhân dân Hóc Môn. Rút kinh nghiệm từ 2 trường bắn trước (1 tại rạp hát cũ trung tâm Quận lỵ Hóc Môn, 1 cạnh giếng nước sau Bệnh viện Hóc Môn ngày nay), chúng xử bắn công khai, bắt nhân dân đến xem nhằm mục đích uy hiếp tinh thần cách mạng của nhân dân Hóc Môn. Nhưng cách xử bắn đó đã phản tác dụng, nhân dân Hóc Môn đã tận mắt chứng kiến sự tàn ác của thực dân Pháp, sự hy sinh cao cả của các chiến sĩ cộng sản nên ngọn lửa yêu nước của họ càng bùng lên mãnh liệt. Trường bắn thứ 3 này, chúng không dám xây dựng gần trung tâm Quận lỵ nữa mà đưa ra khu vực Ngã ba Giồng là vùng hoang vắng, thưa dân để tránh sự phản kháng của nhân dân. Tại đây, chúng xây dựng thành 1 trường bắn có mô đất kiên cố dài 12m, cao 2,2m, phía trước có trồng 6 cột bắn, mỗi cột cao 1.7m, hướng bắn quay về phía đồng ruộng (bưng Tràm Lạc). Vào năm 1941, tại đây chúng lén lúc xử bắn rất nhiều lần, không cho nhân dân xem, hàng trăm chiến sĩ cộng sản và đồng bào yêu nước bị chúng giết hại. Với ý nghĩa lịch sử vô cùng thiêng liêng của Ngã ba Giồng, nơi ghi dấu tội ác dã man của giặc Pháp, nơi thể hiện ý chí chiến đấu bất khuất kiên cường và sự hy sinh cao cả của đồng chí và đồng bào ta sau cuộc khởi nghĩa Nam kỳ (23/11/1940); sau ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng (30/4/1975), huyện Hóc Môn đã nhanh chóng khôi phục và tôn tạo khu di tích lịch sử cách mạng Ngã ba Giồng nhằm giáo dục truyền thống cho các thế hệ thanh thiếu niên. Nơi đây đã trở thành điểm tham quan, nơi tổ chức lễ hội truyền thống trong những ngày lễ lớn hàng năm của huyện Hóc Môn và thành phố đặc biệt là lễ kỷ niệm ngày Nam kỳ Khởi nghĩa (23/11). Hiện nay được sự nhất trí của thành phố, huyện đang tiến hành tôn tạo xây dựng Ngã ba Giồng thành “Khu tưởng niệm liệt sĩ Ngã ba Giồng”. Nguồn: Cổng thông tin điện tử Hóc Môn

TP Hồ Chí Minh

13020 lượt xem

Xếp hạng : Di tích cấp quốc gia

Mở