Di tích lịch sử

Xem dạng bản đồViệt nam

Danh sách điểm di tích (1474)

Chùa Liên Phái

Chùa Liên Phái

Chùa Liên Phái – Dấu ấn dòng thiền Liên Tông giữa lòng Hà Nội Chùa Liên Phái, tên chữ là Liên Phái tự, tọa lạc tại khu vực phố Bạch Mai, phường Cầu Dền, thành phố Hà Nội. Chùa được dựng năm 1726, ban đầu có tên Liên Hoa, sau đổi thành Liên Tông và đến năm 1840 mang tên Liên Phái như ngày nay. Đây là ngôi chùa gắn với Lân Giác Thượng sĩ Trịnh Thập, người sáng lập và trở thành vị tổ của dòng thiền Liên Tông thời Hậu Lê. Trải qua gần ba thế kỷ, Chùa Liên Phái vẫn lưu giữ không gian kiến trúc và cảnh quan đặc trưng của một ngôi chùa cổ Thăng Long. Quần thể gồm tam quan, tháp Liên Hoa 11 tầng, nhà bia, chùa chính, nhà Mẫu, nhà Tổ và vườn tháp. Các công trình cùng hệ thống tượng thờ, bia đá, hoành phi, câu đối và đồ thờ tạo nên giá trị phong phú về lịch sử, văn hóa và nghệ thuật. Đặc biệt, chùa còn bảo lưu nhiều di vật quý, trong đó có quả chuông thời Lê Trung Hưng, nhiều bia đá và pho tượng Nguyễn Đăng Giai – người từng xây dựng chùa Liên Trì bên hồ Hoàn Kiếm. Với những giá trị tiêu biểu, Chùa Liên Phái được Bộ Văn hóa xếp hạng Di tích quốc gia năm 1962. Ngày nay, chùa vừa là nơi sinh hoạt tín ngưỡng, vừa là địa chỉ góp phần bảo tồn những dấu ấn lịch sử, kiến trúc và Phật giáo lâu đời của Thăng Long – Hà Nội. Nguồn: Sở Văn hóa và Thể thao Hà Nội.

Hà Nội

11 lượt xem

Xếp hạng : Di tích cấp quốc gia

Mở

Đình An Mỹ

Đình An Mỹ

Đình An Mỹ tọa lạc tại khối An Mỹ, phường Cẩm Châu, thành phố Đà Nẵng, là một di tích gắn với lịch sử hình thành và đời sống tín ngưỡng của cộng đồng cư dân An Mỹ. Đình được xây dựng khoảng đầu thế kỷ XIX, là nơi thờ Thành Hoàng, Đại Càn, Thiên Y A Na cùng các vị Tiền hiền, Hậu hiền có công với làng. Trải qua hơn hai thế kỷ, ngôi đình đã nhiều lần được tu bổ nhưng vẫn lưu giữ những nét kiến trúc truyền thống. Công trình có kết cấu ba gian hai chái, hai lòng, hệ vì kèo bằng gỗ và mái lợp ngói âm dương, tạo nên vẻ cổ kính, trang nghiêm đặc trưng của đình làng xứ Quảng. Đình không chỉ là nơi thờ tự mà còn phản ánh quá trình hình thành, phát triển của làng An Mỹ. Những tư liệu lịch sử cho thấy cộng đồng nơi đây đã hình thành từ cuối thế kỷ XVIII; đến đầu thế kỷ XIX, xã An Mỹ được xác lập và từng bước xây dựng các thiết chế tín ngưỡng của làng. Ngày nay, đình vẫn là không gian sinh hoạt tín ngưỡng của cộng đồng, góp phần gìn giữ những phong tục, ký ức và nét đẹp văn hóa truyền thống của làng quê Hội An. Nguồn: Trung tâm Quản lý Bảo tồn Di sản Văn hóa Hội An

Đà Nẵng

7 lượt xem

Xếp hạng : Di tích cấp tỉnh

Mở

Đình Chiên Đàn

Đình Chiên Đàn

Đình Chiên Đàn tọa lạc tại xã Chiên Đàn, thành phố Đà Nẵng, là một trong những ngôi đình cổ tiêu biểu của vùng đất Quảng Nam xưa. Theo truyền thuyết và tư liệu truyền khẩu, đình được dựng khoảng cuối thế kỷ XV, vào thời kỳ những cư dân người Việt bắt đầu khai phá, định cư trên vùng đất này. Đình là nơi thờ Thành hoàng, các bậc tiền hiền có công khai khẩn và những nhân vật có công với quê hương, đất nước. Với lịch sử hơn 500 năm, đình hiện vẫn giữ được quy mô và nhiều yếu tố kiến trúc truyền thống đặc sắc. Công trình có diện tích khoảng 440m², được dựng theo kiểu chữ Nhất, gồm năm gian hai chái, với 30 cột gỗ mít lớn. Mái lợp ngói âm dương, trên nóc nổi bật hình lưỡng long triều nguyệt, cùng các họa tiết kỳ lân và nhiều mảng chạm khắc tinh xảo. Đặc biệt, hệ thống kèo, kiện và cấu kiện gỗ trong đình được chạm trổ công phu, thể hiện tay nghề của những nghệ nhân làng mộc Văn Hà. Trải qua nhiều lần tu sửa, nhất là vào các năm 1932, 1955, 1967, 1972, 1996 và 2006, đình vẫn bảo tồn được những giá trị kiến trúc cốt lõi. Hằng năm, vào ngày 15 tháng 7 âm lịch, lễ hội đình được tổ chức để tưởng nhớ các bậc tiền nhân, đồng thời là dịp cộng đồng địa phương gìn giữ và phát huy những giá trị văn hóa truyền thống của vùng đất xứ Quảng. Nguồn: Cổng thông tin điện tử thành phố Đà Nẵng

Đà Nẵng

6 lượt xem

Xếp hạng : Di tích cấp quốc gia

Mở

Di tích lịch sử Chiến thắng Plei Kần

Di tích lịch sử Chiến thắng Plei Kần

Di tích lịch sử Chiến thắng Plei Kần nằm trên địa bàn xã Bờ Y, tỉnh Quảng Ngãi, vùng đất có vị trí chiến lược ở khu vực ngã ba biên giới Việt Nam – Lào – Campuchia. Trong kháng chiến chống Mỹ, Plei Kần là một vị trí quân sự quan trọng, án ngữ các tuyến giao thông chiến lược qua Bắc Tây Nguyên và hành lang biên giới. Năm 1966, quân Mỹ và chính quyền Việt Nam Cộng hòa từng bước xây dựng Plei Kần thành một cụm cứ điểm kiên cố với nhiều khu phòng thủ, hầm ngầm, lô cốt, hào giao thông, trận địa pháo, xe tăng và sân bay dã chiến. Cụm cứ điểm này được tổ chức nhằm ngăn chặn lực lượng cách mạng từ phía Bắc và từ hành lang biên giới tiến vào Tây Nguyên. Đầu tháng 10 năm 1972, Bộ Tư lệnh Mặt trận Tây Nguyên giao Sư đoàn 10 tổ chức tiến công Plei Kần. Sau hơn hai ngày đêm chiến đấu quyết liệt, đến ngày 12 và 13/10/1972, quân ta làm chủ hoàn toàn cụm cứ điểm. Chiến thắng đã tiêu diệt hơn 400 tên địch, bắt sống 65 tên, thu nhiều pháo, xe tăng cùng kho tàng, vũ khí và khí tài quân sự. Chiến thắng Plei Kần có ý nghĩa quan trọng trong việc mở rộng vùng giải phóng, khai thông hành lang biên giới Đông Dương và góp phần bảo đảm tuyến vận tải chiến lược trên đường Hồ Chí Minh. Di tích được xếp hạng di tích lịch sử cấp quốc gia năm 2000, là địa chỉ góp phần giáo dục truyền thống yêu nước, tinh thần chiến đấu và ý chí bảo vệ độc lập, chủ quyền dân tộc. Nguồn: Trang thông tin Di tích lịch sử văn hóa

Quảng Ngãi

8 lượt xem

Xếp hạng : Di tích cấp quốc gia

Mở

Chùa Lý Triều Quốc Sư

Chùa Lý Triều Quốc Sư

Tọa lạc tại số 50 phố Lý Quốc Sư, phường Hoàn Kiếm, thành phố Hà Nội, Chùa Lý Triều Quốc Sư (hay Đền Lý Quốc Sư) là một di tích lịch sử, kiến trúc nghệ thuật tiêu biểu giữa khu phố cổ Thăng Long. Xưa kia, nơi đây vốn là đền thờ Thiền sư Minh Không – vị Quốc sư triều Lý, người có công chữa bệnh cho vua Lý Thần Tông. Theo tư liệu lịch sử, năm 1131, vua Lý Thần Tông cho dựng nhà để Quốc sư nghỉ lại mỗi khi về kinh. Sau khi Minh Không viên tịch, nhân dân lập đền thờ để tưởng nhớ công đức của ngài. Đến năm 1932, chùa được tôn trí thêm hệ thống tượng Phật, Bồ Tát và từ đó mang tên Chùa Lý Triều Quốc Sư. Trải qua nhiều lần trùng tu, chùa vẫn lưu giữ nhiều dấu tích và hiện vật quý. Nổi bật là bia đá thời Nguyễn, trụ đá “Long Nữ thiên tài” cùng các tượng Thiền sư Minh Không, Từ Đạo Hạnh, Giác Hải và thân phụ, thân mẫu của Từ Đạo Hạnh, mang giá trị đặc sắc về lịch sử và nghệ thuật điêu khắc truyền thống. Vừa mang dấu ấn của một ngôi đền thờ nhân thần, vừa là nơi thờ Phật, Chùa Lý Triều Quốc Sư góp phần lưu giữ những lớp trầm tích văn hóa của kinh thành Thăng Long. Với những giá trị nổi bật, chùa được xếp hạng Di tích lịch sử văn hóa, kiến trúc nghệ thuật cấp quốc gia năm 1995. Nguồn: Bảo tàng Lịch sử Quốc gia

Hà Nội

18 lượt xem

Xếp hạng : Di tích cấp quốc gia

Mở

Đình Châu Phú

Đình Châu Phú

Đình Châu Phú – Dấu ấn lịch sử bên dòng sông Hậu. Tọa lạc tại phường Châu Đốc, tỉnh An Giang, bên dòng sông Hậu, Đình Châu Phú là một trong những công trình tín ngưỡng tiêu biểu của vùng đất Châu Đốc. Tiền thân của đình là Lễ Công Từ đường, được dựng vào khoảng đầu thế kỷ XIX để thờ Lễ Thành hầu Nguyễn Hữu Cảnh, người có công lớn trong quá trình khai phá, mở mang vùng đất Nam Bộ. Sau đó, công trình được di dời và xây dựng lại; ngôi đình hiện nay hoàn thành vào năm 1926. Đình có quy mô bề thế, mang đậm phong cách kiến trúc đình làng Nam Bộ. Công trình được bố trí theo kiểu chữ Tam, với hệ thống cột gỗ lớn, mái ngói và nhiều mảng chạm khắc tinh xảo. Trên mái và các cấu kiện kiến trúc nổi bật những đề tài truyền thống như lưỡng long tranh châu, lưỡng long chầu nguyệt, cá hóa rồng, phượng, sư tử. Bên trong còn lưu giữ nhiều hoành phi, liễn đối, đồ thờ tự và hiện vật có giá trị. Ngoài Nguyễn Hữu Cảnh, đình còn thờ Thoại Ngọc Hầu Nguyễn Văn Thoại cùng một số nhân vật có công với vùng đất Châu Đốc. Hằng năm, đình tổ chức lễ Kỳ yên vào ngày 10 và 11 tháng 5 âm lịch, thu hút đông đảo người dân đến dâng hương, tưởng niệm. Với những giá trị đặc sắc về lịch sử, văn hóa và kiến trúc nghệ thuật, Đình Châu Phú là một điểm đến góp phần làm nên diện mạo văn hóa tâm linh đặc trưng của Châu Đốc và vùng Tây Nam Bộ. Nguồn: Báo Tuổi Trẻ

An Giang

41 lượt xem

Xếp hạng : Di tích cấp quốc gia

Mở

Núi Cậu – Lòng hồ Dầu Tiếng

Núi Cậu – Lòng hồ Dầu Tiếng

Núi Cậu – Lòng hồ Dầu Tiếng là cụm danh lam thắng cảnh nổi bật tại xã Dầu Tiếng, Thành phố Hồ Chí Minh, nơi hội tụ vẻ đẹp của núi rừng, hồ nước và không gian văn hóa tâm linh. Với diện tích hơn 1.600 ha, quần thể Núi Cậu gồm 21 ngọn núi lớn nhỏ nối tiếp nhau, tạo thành một dãy núi xanh trải dài giữa vùng đất Dầu Tiếng. Trong đó, núi Cửa Ông cao khoảng 295 mét là ngọn núi cao nhất của quần thể. Không chỉ có cảnh quan tự nhiên phong phú, Núi Cậu còn gắn với hệ sinh thái rừng và nhiều loài cây gỗ đặc trưng như gõ, căm xe, giáng hương, bằng lăng. Dưới chân núi là hồ Dầu Tiếng rộng lớn, mặt nước xanh trong trải dài, tạo nên không gian sơn thủy hữu tình. Từ những điểm cao trên Núi Cậu, du khách có thể thu vào tầm mắt cảnh hồ rộng lớn hòa cùng những triền rừng xanh mát. Trong quần thể danh thắng còn có suối Trúc với dòng nước len qua những triền đá giữa không gian cây rừng yên tĩnh. Cùng với đó là các công trình tín ngưỡng như chùa Thái Sơn và những địa điểm gắn với tín ngưỡng dân gian, tạo nên sự giao hòa giữa cảnh quan thiên nhiên và đời sống văn hóa của cư dân địa phương. Với những giá trị nổi bật về cảnh quan, sinh thái và văn hóa, Núi Cậu – Lòng hồ Dầu Tiếng đã được xếp hạng di tích danh lam thắng cảnh cấp thành phố. Đây không chỉ là điểm đến hấp dẫn của vùng Dầu Tiếng mà còn là nơi góp phần lưu giữ vẻ đẹp tự nhiên và những giá trị văn hóa đặc trưng của vùng đất phía Tây Thành phố Hồ Chí Minh. Nguồn: Cổng Thông tin du lịch Bình Dương

TP Hồ Chí Minh

27 lượt xem

Xếp hạng : Di tích cấp quốc gia

Mở

Chùa Linh Sơn Củ Chi

Chùa Linh Sơn Củ Chi

Tọa lạc tại ấp Phú Lợi, xã Phú Hòa Đông, Thành phố Hồ Chí Minh, chùa Linh Sơn là một trong những ngôi chùa có lịch sử lâu đời ở vùng đất Củ Chi. Chùa được Tổ sư Bửu Tịnh – Phổ Tế, đời thứ 35 dòng Lâm Tế, dựng nên vào năm 1806, ban đầu chỉ là một am tranh đơn sơ để người dân tìm về nương tựa nơi cửa Phật. Đến năm 1816, nhờ sự đóng góp của Phật tử và thiện tín, chùa được xây dựng khang trang hơn với chánh điện và nhà tổ, mang những nét đặc trưng của kiến trúc chùa Nam Bộ. Trải qua thời gian và những năm tháng chiến tranh, chùa nhiều lần bị hư hại, nhưng vẫn được các thế hệ trụ trì và Phật tử tu bổ, gìn giữ. Chùa Linh Sơn được xây dựng theo lối chữ Tam, gồm chánh điện, giảng đường và nhà khách; các nếp nhà mang kết cấu tứ trụ truyền thống. Những hàng cột gỗ, mái ngói, cửa gỗ cùng các chi tiết chạm khắc tạo nên vẻ cổ kính, mộc mạc mà đặc trưng. Đặc biệt, chùa còn lưu giữ nhiều hiện vật có giá trị như bộ tượng Di Đà Tam Tôn bằng gỗ, tượng Đạt-ma, tượng Di Lặc bằng đất nung, chuông đồng, hoành phi, liễn đối và bộ tượng Thập bát La-hán bằng đất nung. Đây là những tư liệu quý góp phần phản ánh đời sống tín ngưỡng và nghệ thuật Phật giáo Nam Bộ qua nhiều thời kỳ. Nguồn: Báo Giác Ngộ

TP Hồ Chí Minh

43 lượt xem

Xếp hạng : Di tích cấp tỉnh

Mở

Đình Nhân Lý

Đình Nhân Lý

Đình Nhân Lý – Dấu ấn linh thiêng của làng khoa bảng. Tọa lạc tại thôn Nhân Đào, xã Nam Sách, thành phố Hải Phòng, đình Nhân Lý là một di tích lịch sử, văn hóa tiêu biểu, gắn với truyền thống khoa bảng nổi tiếng của vùng đất Nam Sách. Nơi đây từng có 12 vị đại khoa, trong đó nhiều người giữ những chức vụ quan trọng trong triều đình, góp phần làm nên danh tiếng của một vùng đất địa linh nhân kiệt. Theo tư liệu lịch sử, đình Nhân Lý được khởi dựng từ thời Lê và trải qua nhiều lần tu bổ, mở rộng. Công trình mang dáng vẻ bề thế, với những hàng cột gỗ lim lớn cùng hệ thống chạm khắc tinh xảo. Các đề tài rồng, ly, phượng, lân, mây, trúc… được thể hiện sinh động trên xà ngang, đầu dư và các cấu kiện kiến trúc, tạo nên giá trị đặc sắc cho nghệ thuật đình làng truyền thống. Đình là nơi thờ Thành hoàng Đào Tuấn Lương, vị tướng được nhân dân tôn kính vì có công phò tá Lý Nam Đế chống quân Lương vào thế kỷ VI. Đồng thời, đình cũng là nơi ghi danh, tưởng niệm 12 vị đại khoa của làng, thể hiện truyền thống trọng đạo học, tôn vinh hiền tài của cộng đồng. Hằng năm, lễ hội truyền thống được tổ chức vào tháng Hai âm lịch với các nghi lễ dâng hương cùng nhiều hoạt động văn hóa dân gian. Trải qua nhiều thế kỷ, đình Nhân Lý vẫn là nơi lưu giữ những giá trị lịch sử, kiến trúc và tín ngưỡng đặc sắc, đồng thời là biểu tượng cho truyền thống hiếu học và tinh thần trọng nghĩa, trọng tài của quê hương Nam Sách. Nguồn: Cổng Thông tin điện tử xã Nam Sách, thành phố Hải Phòng

Hải Phòng

50 lượt xem

Xếp hạng : Di tích cấp quốc gia

Mở

Hang Đá Đen

Hang Đá Đen

Hang Đá Đen – Dấu tích người nguyên thủy trên đất Tuyên Quang. Hang Đá Đen, thuộc xã Yên Phú, tỉnh Tuyên Quang, là một di tích cổ sinh – khảo cổ có giá trị đặc biệt, ghi dấu sự hiện diện của con người từ thời tiền sử. Di tích được phát hiện trong cuộc khảo sát khảo cổ năm 2004 do Viện Khảo cổ học Việt Nam phối hợp với Bảo tàng Tuyên Quang thực hiện. Tại hang, các nhà khảo cổ phát hiện lớp trầm tích dày khoảng 1,2 m chứa nhiều xương, răng động vật hóa thạch, trong đó có răng vượn người và voi răng kiếm. Những phát hiện này góp phần làm rõ điều kiện môi trường tự nhiên và sự phát triển của hệ động vật ở khu vực Tuyên Quang thời tiền sử. Đáng chú ý, tại gò Gốc Kheo, thuộc khu vực Yên Phú, còn phát hiện 5 công cụ đá gồm 3 công cụ ghè đẽo thô và 2 mũi nhọn. Đây là những công cụ cuội có niên đại rất sớm, được xem là những dấu tích quan trọng về thời đại Đá cũ trên đất Tuyên Quang. Các phát hiện tại Hang Đá Đen và khu vực lân cận có giá trị lớn trong nghiên cứu nguồn gốc con người, đời sống cư dân tiền sử và những biến đổi môi trường tự nhiên ở Việt Nam và Đông Nam Á. Nguồn: Báo Tuyên Quang

Tuyên Quang

53 lượt xem

Xếp hạng : Di tích cấp quốc gia

Mở

Thác Lụa

Thác Lụa

Thác Lụa bắt nguồn từ dãy Cham Chu, chảy qua địa bàn xã Hòa Phú, tỉnh Tuyên Quang. Dòng thác quanh năm nước chảy trong xanh, không chỉ tạo nên cảnh quan thiên nhiên tươi đẹp mà còn cung cấp nguồn nước quý giá cho sinh hoạt và sản xuất của người dân địa phương. Từ bao đời nay, dòng nước Thác Lụa đã góp phần tưới mát những cánh đồng, gắn bó mật thiết với đời sống của cộng đồng nơi đây. Thác Lụa được tạo nên bởi ba tầng thác chính là Tát Cao, Tát Vóc và Tát Lụa. Tát Cao bắt nguồn từ một khe núi hẹp, có độ cao hơn 30m; Tát Vóc nằm thấp hơn và song song với Tát Cao. Hai dòng thác gặp nhau rồi hợp thành Tát Lụa ở tầng cuối, tạo nên một dòng nước cao hơn 20m, rộng khoảng 5m, mềm mại đổ xuống như dải lụa giữa núi rừng. Hai bên dòng thác là những tán cây xanh mát cùng các phiến đá tự nhiên trải dọc theo bờ. Dưới chân Tát Lụa hình thành một vực nước trong xanh, góp phần tạo nên vẻ đẹp vừa hoang sơ, vừa thơ mộng của danh thắng. Phía sau Thác Lụa còn có một hang núi gắn với những câu chuyện dân gian được người dân địa phương lưu truyền từ thời đánh giặc Cờ Đen. Những huyền tích ấy làm cho cảnh quan nơi đây thêm phần kỳ bí, đồng thời thể hiện ý thức của cộng đồng trong việc gìn giữ nguồn nước quý đã nuôi dưỡng cuộc sống và những cánh đồng quê hương. Với cảnh sắc tự nhiên độc đáo, dòng nước quanh năm và những giá trị văn hóa gắn với đời sống cộng đồng, Thác Lụa là một thắng cảnh giàu tiềm năng, góp phần làm phong phú thêm bức tranh thiên nhiên của vùng đất Tuyên Quang. Nguồn: Cục Du lịch Quốc gia Việt Nam

Tuyên Quang

60 lượt xem

Xếp hạng : Di tích cấp quốc gia

Mở

Núi Hàm Rồng Sa Pa

Núi Hàm Rồng Sa Pa

Núi Hàm Rồng nằm ngay trung tâm phường Sa Pa, tỉnh Lào Cai, thuộc dãy Hoàng Liên Sơn, ở độ cao gần 1.800 m so với mực nước biển. Với địa hình đá tự nhiên nhấp nhô, uốn lượn, nhìn từ xa, ngọn núi mang dáng hình một con rồng đang hướng về phía dãy Hoàng Liên hùng vĩ. Chính hình dáng độc đáo ấy đã tạo nên tên gọi Hàm Rồng và trở thành một biểu tượng gắn với vùng đất Sa Pa. Núi Hàm Rồng không chỉ gây ấn tượng bởi địa hình kỳ thú mà còn gắn với những truyền thuyết được lưu truyền qua nhiều thế hệ. Theo dân gian, thuở khai sinh lập địa, một đôi rồng từ trời xuống trần gian, quyến luyến cảnh sắc nơi đây. Sau một trận đại hồng thủy, rồng đực bay về phía dãy Hoàng Liên, còn rồng cái ở lại, hóa đá. Hình dáng núi Hàm Rồng ngày nay được dân gian liên tưởng đến hình ảnh ấy. Từ trên cao, Núi Hàm Rồng mở ra tầm nhìn rộng về không gian núi rừng Hoàng Liên Sơn, thung lũng và phố núi Sa Pa. Những mỏm đá tự nhiên với nhiều hình thù độc đáo cùng cảnh sắc mây trời biến đổi theo thời gian tạo nên vẻ đẹp vừa hùng vĩ, vừa huyền ảo của danh thắng. Với giá trị nổi bật về cảnh quan tự nhiên, địa hình và những câu chuyện văn hóa dân gian gắn với vùng đất Sa Pa, Núi Hàm Rồng là một thắng cảnh tiêu biểu của Lào Cai, góp phần tạo nên sức hấp dẫn riêng của vùng núi cao Tây Bắc. Nguồn: Cục Du lịch Quốc gia Việt Nam

Lào Cai

58 lượt xem

Xếp hạng : Di tích cấp quốc gia

Mở

Đền Đồng Bào

Đền Đồng Bào

Đền Đồng Bào, phường Thạch Khôi, thành phố Hải Phòng là một trong những nơi thờ chính Nguyên phi Hoàng Thái hậu Ỷ Lan – người phụ nữ tài đức, có nhiều đóng góp cho đất nước dưới thời nhà Lý. Trải qua nhiều thế kỷ, ngôi đền vẫn được nhân dân gìn giữ, tu bổ và duy trì việc hương khói, phụng thờ. Đền có kiến trúc theo kiểu “tiền Nhất, hậu Đinh”, gồm 5 gian tiền tế, 5 gian trung từ và 3 gian hậu cung. Các công trình mang phong cách kiến trúc nghệ thuật thời Nguyễn, tạo nên không gian trang nghiêm, cổ kính. Năm 1991, quần thể di tích đình, đền, chùa, miếu ở Đồng Bào được xếp hạng Di tích lịch sử – văn hóa cấp quốc gia, khẳng định những giá trị nổi bật về lịch sử, văn hóa và tín ngưỡng. Theo thần tích, vùng Đồng Bào xưa là nơi Hoàng Thái hậu Ỷ Lan từng dừng chân trong những lần vi hành tại xứ Đông. Vì vậy, nơi đây hình thành truyền thống tưởng niệm và phụng thờ bà, thể hiện đạo lý “uống nước nhớ nguồn” của cộng đồng. Hằng năm, lễ hội Đền Đồng Bào được tổ chức vào ngày 23 và 24 tháng 7 âm lịch, với các nghi lễ dâng hương, rước Mẫu cùng nhiều hoạt động văn hóa, văn nghệ, thể thao và trò chơi dân gian. Lễ hội là dịp để nhân dân và du khách tưởng nhớ công đức Hoàng Thái hậu Ỷ Lan, đồng thời góp phần bảo tồn và phát huy những giá trị văn hóa truyền thống của địa phương. Nguồn: Cổng Thông tin điện tử phường Thạch Khôi, thành phố Hải Phòng.

Hải Phòng

87 lượt xem

Xếp hạng : Di tích cấp quốc gia

Mở

Đền Rối

Đền Rối

Đền Rối nằm dưới chân một quả đồi hình bát úp, giữa không gian rợp bóng cây cổ thụ, thuộc phường Văn Phú, tỉnh Lào Cai. Cùng với Chùa Minh Pháp, nơi đây tạo thành quần thể di tích lịch sử – văn hóa được công nhận cấp tỉnh năm 2005. Theo ngọc phả được lưu truyền, Đền Rối thờ Công chúa Ngọc Dung, con gái thứ tám của một vị vua Hùng. Tương truyền, Công chúa từng đến vùng đất Hào Gia, sinh sống và được nhân dân tôn kính, phụng thờ. Bà được cho là hiển linh, phù hộ bình an, cầu mưa và chữa bệnh, sau được sắc phong là Sơn Thủy Linh Thần. Đền hiện còn lưu giữ hai đạo sắc phong thời Nguyễn, ban vào các năm 1911 và 1924. Đền từng được dựng theo kiến trúc nhà sàn. Do ảnh hưởng của thời gian và điều kiện tự nhiên, công trình xuống cấp, sau đó được nhân dân trùng tu, tôn tạo vào đầu thập niên 1990 theo phong cách kiến trúc truyền thống. Một số hiện vật như đại tự, câu đối và các họa tiết trang trí mang phong cách cổ vẫn được gìn giữ tại di tích. Trên đỉnh đồi gần Đền Rối là Chùa Minh Pháp, trước đây quen gọi là Chùa Rối. Không gian đền, chùa dưới những tán cây cổ thụ tạo nên cảnh quan thanh tĩnh, phù hợp cho hoạt động tham quan, tìm hiểu lịch sử và chiêm bái. Quần thể Đền Rối – Chùa Minh Pháp là một điểm đến văn hóa, tâm linh tiêu biểu của khu vực Yên Bái xưa. Nguồn: Báo Lào Cai

Lào Cai

74 lượt xem

Xếp hạng : Di tích cấp tỉnh

Mở

Đền thờ Đức Thánh Trần Hưng Đạo

Đền thờ Đức Thánh Trần Hưng Đạo

Đền thờ Đức Thánh Trần Hưng Đạo tọa lạc tại số 36 đường Võ Thị Sáu, phường Tân Định, Thành phố Hồ Chí Minh. Đây là công trình tín ngưỡng gắn với việc tưởng niệm Hưng Đạo Đại Vương Trần Quốc Tuấn – vị danh tướng triều Trần, người có vai trò đặc biệt trong ba lần kháng chiến chống quân Nguyên – Mông thế kỷ XIII. Ngôi đền được xây dựng năm 1932 trên nền khu đất từng có chùa Vạn An. Đến năm 1957–1958, đền được xây dựng lại theo thiết kế của kiến trúc sư Nguyễn Mạnh Bảo. Công trình mang kiến trúc truyền thống với kết cấu hình chữ Đinh, kết hợp gỗ và bê tông cốt thép, mái lợp ngói vảy cá. Qua cổng chính là khoảng sân dẫn vào khu thờ tự. Chính điện đặt tượng đồng Trần Hưng Đạo cao khoảng 1,7m, trong tư thế ngồi, tay cầm binh thư, bên cạnh là thanh kiếm, thể hiện hình tượng vị thống soái tài ba. Không gian nội điện còn lưu giữ nhiều đồ thờ, hoành phi, câu đối và các mảng chạm khắc, phù điêu tái hiện những sự kiện gắn với triều Trần. Hằng năm, đền tổ chức các nghi lễ tưởng niệm Đức Thánh Trần, trong đó quan trọng nhất là lễ giỗ Hưng Đạo Đại Vương vào ngày 20 tháng 8 âm lịch. Đây là điểm sinh hoạt tín ngưỡng và văn hóa, góp phần gìn giữ truyền thống tri ân các bậc tiền nhân trong đời sống cộng đồng tại Thành phố Hồ Chí Minh. Nguồn: Wikimedia

TP Hồ Chí Minh

59 lượt xem

Xếp hạng : Di tích cấp tỉnh

Mở

Đình Châu Mai

Đình Châu Mai

Đình Châu Mai nay thuộc xã Dân Hòa, thành phố Hà Nội, là công trình tín ngưỡng có giá trị về lịch sử, kiến trúc và nghệ thuật, đồng thời là nơi sinh hoạt văn hóa của cộng đồng địa phương. Theo thần phả, đình thờ Phả Tế Minh Lang thần đại tướng quân, vị tướng dưới triều Trần, có công cùng quân dân nhà Trần chống quân Nguyên – Mông xâm lược thế kỷ XIII. Ông đã chiến đấu và hy sinh tại trận Bạch Đằng, góp phần vào thắng lợi của quân dân Đại Việt. Sau khi ông mất, người dân Châu Mai tôn làm Thành hoàng và lập đình thờ phụng. Đình được xây dựng vào năm 1904, dưới triều vua Thành Thái, mang đặc trưng kiến trúc đình làng thời Nguyễn. Quần thể gồm nghi môn, sân đình, tả vu, hữu vu, đại bái và hậu cung. Nổi bật là hệ thống chạm khắc trên kiến trúc gỗ với các đề tài tứ linh, tứ quý cùng hình ảnh cá, cua, chuột sinh động, thể hiện nét đặc sắc của nghệ thuật dân gian vùng đồng bằng Bắc Bộ. Đình hiện còn lưu giữ nhiều bia đá, hoành phi, câu đối, sắc phong, thần phả và đồ thờ tự có giá trị. Lễ hội đình được tổ chức từ ngày 10 đến 14 tháng 8 âm lịch hằng năm góp phần bảo tồn và phát huy những giá trị văn hóa truyền thống của vùng đất Dân Hòa hôm nay. Nguồn: Cổng Thông tin điện tử thành phố Hà Nội

Hà Nội

74 lượt xem

Xếp hạng : Di tích cấp quốc gia

Mở

Đền Thần Nông

Đền Thần Nông

Đền Thần Nông tọa lạc tại thôn Tri Khê, xã Thạch Hà, tỉnh Hà Tĩnh, là một địa điểm sinh hoạt văn hóa, tín ngưỡng gắn bó với đời sống sản xuất nông nghiệp của người dân địa phương qua nhiều thế hệ. Trong tín ngưỡng dân gian, Thần Nông được xem là vị thần bảo hộ nghề nông, gắn với việc dạy dân cày cấy, trồng trọt và cầu mong mưa thuận gió hòa, mùa màng bội thu, cuộc sống ấm no. Theo tư liệu lịch sử, đền được xây dựng từ thời Nguyễn. Qua thời gian, công trình trở thành nơi người dân thực hành tín ngưỡng, tưởng nhớ vị thần gắn với nghề nông và gửi gắm những mong ước về cuộc sống bình an, sản xuất thuận lợi. Việc thờ Thần Nông tại đây cũng phản ánh vai trò quan trọng của nông nghiệp trong đời sống kinh tế và văn hóa của cộng đồng cư dân địa phương. Năm 2022, đền được trùng tu, tôn tạo với nhiều hạng mục đồng bộ như cổng đền, thượng điện, nhà tả vu, nhà hữu vu, tường rào và khuôn viên. Công trình sau trùng tu vừa đáp ứng nhu cầu sinh hoạt tín ngưỡng, vừa góp phần gìn giữ không gian kiến trúc truyền thống của di tích. Ngày nay, đền Thần Nông không chỉ là nơi sinh hoạt tín ngưỡng của người dân mà còn là địa điểm giúp du khách tìm hiểu về tín ngưỡng thờ Thần Nông và truyền thống văn hóa nông nghiệp của cư dân Hà Tĩnh. Nguồn: Báo Hà Tĩnh

Hà Tĩnh

95 lượt xem

Xếp hạng : Di tích cấp tỉnh

Mở

Chùa Du Anh

Chùa Du Anh

Chùa Du Anh nằm dưới chân núi Xuân Đài, thuộc quần thể danh thắng động Hồ Công, là một ngôi chùa có lịch sử lâu đời, được lập từ thời Lý. Đến thời Trần, vua Trần Nghệ Tông từng đưa công chúa Du Anh về lễ chùa và dưỡng bệnh. Sau khi công chúa khỏi bệnh, chùa được nâng cấp và từ đó mang tên Du Anh. Đầu thế kỷ XVII, chùa được Quảng quận công Trịnh Vĩnh Lộc cho xây dựng lại. Công trình từng có cảnh quan hài hòa với núi Trác Phong, động Hồ Công cùng Nhật Hồ và Nguyệt Hồ. Đặc biệt, chùa còn lưu giữ voi đá và sư tử đá được xem là những dấu tích có giá trị của thời Trần, cùng bia Trùng tu Xuân Đài sơn Hồ Công động Du Anh tự bi dựng năm 1605, ghi lại lịch sử trùng tu chùa và cảnh quan danh thắng nơi đây. Ngày nay, chùa Du Anh đã được trùng tu, gồm chùa chính, nhà Mẫu, nhà Tổ và các công trình phụ trợ. Cùng với núi Xuân Đài, động Hồ Công và núi Trác Phong, chùa tạo nên một quần thể di tích – danh thắng giàu giá trị lịch sử, văn hóa và cảnh quan. Nguồn: Chùa Xứ Thanh

Thanh Hóa

97 lượt xem

Xếp hạng : Di tích cấp quốc gia

Mở

Di tích nổi bật

Xem tất cả
Khu di tích Láng Le Bàu Cò

Khu di tích Láng Le Bàu Cò

Khu di tích Láng Le Bàu Cò tọa lạc tại xã Tân Nhựt, huyện Bình Chánh, Tp HCM. Láng Le Bàu Cò gắn liền với cuộc kháng chiến chống Pháp xâm lược vào năm 1948 với những trận đánh lớn đi vào lịch sử. Di tích Láng Le Bàu Cò được công nhận là di tích lịch sử cấp thành phố vào năm 2003. Sở dĩ được gọi tên là khu di tích Láng Le Bàu Cò vì Tên gọi của khu di tích Láng Le Bàu Cò là do người dân địa phương đặt ra. Xóm làng được thành lập cạnh những con kênh rạch chằng chịt và dòng sông. Láng Le Bàu Cò có vị trí nằm ở bên trong cánh đồng có diện tích rộng lớn và có rất nhiều tôm, cua, cá. Cùng với nhiều loài chim như vịt trời, cò, con le le, cúm núm, cồng cộc, đa đa, diệc, đỏ nách tới kiếm ăn tại đây. Vì vậy, người dân Tân Nhựt gọi với cái tên thân thuộc và mộc mạc đó là Láng Le Bàu Cò. Di tích Láng Le Bàu Cò được xem là cửa ngõ để di chuyển tới trung tâm căn cứ Vườn Thơm và tấn công cơ quan đầu não của quân địch tại Sài Gòn. Trước đây khu di tích Láng Le Bàu Cò vốn là cánh đồng lau sậy mọc um tùm. Vào ngày 15/4/1948 thực dân Pháp đưa 3 nghìn quân lính cùng nhiều vũ khí hiện đại đồng loạt tấn công khu vực Láng Le Bàu Cò nhằm tiêu diệt căn cứ Vườn Thơm. Khi đó lực lượng vũ trang cách mạng ở Láng Le - Bàu vì lực lượng nhỏ và vũ khí thô sơ tuy nhiên được sự giúp đỡ của người dân địa phương cùng với lợi thế về địa hình. Chỉ sau hơn nửa ngày đấu tranh đã chuyển sang tấn công khiến quân Pháp bị thương vong với số lượng lớn. Chiến thắng Láng Le Bàu Cò đã tiêu diệt 300 tên địch và bắt sống 30 lính đánh thuê cùng phá hủy nhiều máy móc, xe nhà binh, súng các loại của quân giặc. Tuy nhiên, về phía ta có nhiều cán bộ chiến sĩ đã anh dũng hy sinh với tuổi đời còn rất trẻ. Ngày 14/10/1966 tại Láng Le tiểu đoàn biệt động quân Việt Nam Cộng Hòa bị dân quân du khách tiêu diệt. Khu di tích Láng Le Bàu Cò có ý nghĩa lịch sử to lớn đối với người dân Sài Gòn nói riêng và cả nước nói chung. Trước lòng căm thù thực dân Pháp, quân dân Láng Le Bàu Cò đã có cuộc chiến vang lừng lịch sử và có ý nghĩa to lớn mở đầu cho phía ta và phía địch. Đối với phía ta trận đánh mở đầu cho sự anh dũng trong tư thế kháng chiến vững mạnh. Còn với quân địch đã phải lùi vào thế bỏ chiến lược và bị tiêu diệt. Thực dân Pháp không còn định hình được chiến lược đánh bại Việt Minh. Hơn thế, tại căn cứ Vườn Thơm, Láng Le Bàu Cò còn diễn ra trận chiến quyết tâm bảo vệ căn cứ của ta và đập tan mọi kế hoạch phá hoại của quân giặc. Khu di tích Láng Le Bàu Cò sau phong trào Đồng Khởi vào năm 1960 còn là hậu cần, bàn đạp của lực lượng vũ trang để giải phóng Long An - Sài Gòn - Gia Định. Để tưởng nhớ sự hy sinh của đồng bào và các chiến sĩ của ta, vào năm 1988 huyện Bình Chánh đã xây dựng công trình lịch sử tại vùng đất Láng Le Bàu Cò với diện tích rộng 1000m2. Nguồn: Báo thông tin điện tử TP Hồ Chí Minh

TP Hồ Chí Minh

18189 lượt xem

Xếp hạng : Di tích cấp thành phố

Mở

Di Tích Lịch Sử Nhà Lao Tân Hiệp

Di Tích Lịch Sử Nhà Lao Tân Hiệp

Nhà lao Tân Hiệp còn có tên là "Trung tâm cải huấn Tân Hiệp" tọa lạc ở khu phố 6, phường Tân Tiến, TP Biên Hòa. Di tích Nhà lao Tân Hiệp đã được Bộ Văn Hoá Thể Thao xếp hạng là di tích cấp quốc gia ngày 15-1-1994. Nhà lao Tân Hiệp là một trong sáu nhà tù lớn nhất miền Nam Việt Nam và là nhà tù lớn nhất vùng Đông Nam bộ, được xây dựng ở vị trí quân sự quan trọng, án ngữ phía đông bắc thị xã Biên Hòa. Phía trước là quốc lộ 1; phía sau là đường xe lửa Bắc - Nam. Đây là vị trí biệt lập, thuận tiện trong giao thông, dễ dàng cho việc bảo vệ, canh gác, nhận tù từ nơi khác đến và chuyển tù đi Côn Đảo, Phú Quốc... Nhà lao Tân Hiệp có diện tích 46.520m2 với 8 trại giam, trong đó có 5 trại giam những người tù cộng sản, người yêu nước. Xung quanh nhà tù được bao bọc bởi 4 lớp kẽm gai bùng nhùng với 9 lô cốt, 3 tháp canh cùng đội lính bảo vệ và hệ thống báo động tối tân. Mang tên "Trung tâm cải huấn" nhưng thực chất bên trong là kho súng, phòng xét hỏi, tra tấn với những dụng cụ hiện đại bậc nhất. Mỗi trại giam chỉ có diện tích gần 200m2 nhưng giam giữ từ 300-400 người, có lúc lên đến cả ngàn người. Đặc biệt ở đây có các phòng "cải hối", "chuồng cọp" rất nhỏ hẹp và điều kiện sinh hoạt cực kỳ khắc nghiệt, tù nhân sống chẳng khác gì trong lò thiêu xác. Chế độ ăn uống cực kỳ mất vệ sinh, bọn cai ngục mua gạo mục, cá thối dùng để bón ruộng, chiên bằng dầu luyn cho tù nhân ăn dẫn đến nhiều người bị ngộ độc. Với quyết tâm thoát khỏi nhà tù đế quốc, trở về với Đảng, với nhân dân để tiếp tục chiến đấu, giải phóng dân tộc, ngày 2-12-1956, được sự nhất trí của Liên Tỉnh ủy miền Đông, những chiến sĩ cộng sản bị "câu lưu" trong nhà lao Tân Hiệp dưới sự chỉ đạo trực tiếp của đồng chí Nguyễn Trọng Tâm (Bảy Tâm) - phụ trách Đảng ủy nhà tù và một số đồng chí khác đã bất thần làm một cuộc phá xiềng tập thể giải thoát gần 500 đồng chí, đồng bào yêu nước. Sự kiện này đã làm xôn xao cả Lầu Năm Góc. Mỹ - Diệm vội vã huy động cả quân chủ lực lẫn bảo an, dân vệ đang trấn thủ 3 tỉnh Biên Hòa, Bà Rịa, Thủ Dầu Một và hai biệt đoàn biệt động quân đến bủa lưới bao vây, truy bắt đoàn tù nhưng đều thất bại. Các đồng chí, đồng bào của ta thoát khỏi nhà lao Tân Hiệp đã được sự giúp đỡ, che chở của các cơ sở địa phương, trở về căn cứ an toàn. Trong số tù nhân vượt ngục có các đồng chí: Bảy Tâm, Hai Thông, Lý Văn Sâm... đã trở thành những hạt nhân nòng cốt cho phong trào Đồng Khởi sau này. Năm 2001, để tái hiện phần nào tội ác của Mỹ - Diệm đối với các đồng chí, đồng bào ta bị giam cầm tại nhà lao Tân Hiệp và diễn tả lại toàn bộ cuộc nổi dậy phá khám Tân Hiệp ngày 2-12-1956, Bảo tàng Đồng Nai đã tiến hành sưu tầm hình ảnh, tài liệu, hiện vật trưng bày tại di tích và làm một sa bàn để phục vụ nhu cầu nghiên cứu, tham quan của mọi tầng lớp nhân dân. Hàng ngày, di tích luôn mở cửa đón khách tham quan. Nguồn: Báo Đồng Nai Điện Tử

Đồng Nai

16656 lượt xem

Xếp hạng : Di tích cấp quốc gia

Mở

Đền thờ Nguyễn Hữu Cảnh

Đền thờ Nguyễn Hữu Cảnh

Đền thờ Nguyễn Hữu Cảnh còn gọi là đình Bình Kính tọa lạc bên tả ngạn sông Đồng Nai, xưa kia thuộc ấp Bình Kính, thôn Bình Hoành, tổng Trấn Biên, nay là ấp Nhị Hòa, xã Hiệp Hòa, TP Biên Hòa, đã được Bộ Văn Hoá – Thông Tin – Thể Thao & Du Lịch xếp hạng là di tích lịch sử cấp quốc gia ngày 25-3-1991. Đền thờ Nguyễn Hữu Cảnh được xây dựng vào khoảng cuối thế kỷ 18, ban đầu ngôi đền có qui mô nhỏ, vách làm bằng ván, mái ngói âm dương, cách ngôi đền hiện tại khoảng 400m về hướng Nam. Các tư liệu cho biết: ngôi đền được xây dựng lại lần đầu tiên vào năm Tự Đức thứ tư (1851); đến năm 1923, đền được tái thiết lại ở địa điểm hiện nay. Nguyễn Hữu Cảnh sinh vào năm 1650 tại Gia Miêu, huyện Tống Sơn, tỉnh Thanh Hóa trong một gia đình có nhiều bậc danh tướng đương triều. Ông là người văn võ song toàn, lập được nhiều chiến công lớn và được chúa Nguyễn tin yêu, trọng vọng. Mùa Xuân năm Mậu Dần (1698), ông vâng lệnh chúa Nguyễn vào kinh lược xứ Đàng Trong khi ấy còn rất hoang vu. Đến đất Đồng Nai, ông đặt Đại bản doanh ở Cù lao Phố (nay là xã Hiệp Hòa); lấy đất Đồng Nai làm huyện Phước Long, dựng dinh Trấn Biên, lấy xứ Sài Gòn làm huyện Tân Bình, dựng dinh Phiên Trấn, đất đai mở mang ngàn dặm. Ông chiêu mộ lưu dân đến lập nghiệp, tổ chức bộ máy hành chính từng bước có qui củ, khuyến khích khai hoang, thúc đẩy Cù lao Phố phát triển thành một trong những cảng thị sầm uất, năng động nhất đàng Trong suốt thế kỷ 18 và chính thức sáp nhập vùng đất mới phương Nam vào bản đồ Đại Việt. Sau khi kinh lược phương Nam trở về, năm sau ông lại phụng mệnh chúa Nguyễn Phúc Chu thống lĩnh đại binh dẹp vua Chân Lạp giữ vững miền biên ải phương Nam. Tháng 4 năm Canh Thìn (1700), sau khi hoàn thành sứ mệnh, trên đường trở về đến Rạch Gầm (Tiền Giang) thì ông thọ bệnh qua đời nhằm ngày 16 tháng 5 âm lịch, thọ 51 tuổi. Trên đường di quan ông về quê an táng, quan tài của ông được đình lại khu đất khi xưa ông đặt Đại bản doanh ở Cù lao Phố để cho nhân dân địa phương có dịp bái biệt ông lần cuối. Nơi đình quan đã được nhân dân địa phương xây một ngôi mộ vọng để ghi nhớ sự kiện này. Khi hay tin Nguyễn Hữu Cảnh mất, Chúa Nguyễn vô cùng thương tiếc đã phong tặng ông là Thượng đẳng công thần đặc Trấn phủ Chưởng cơ với tước: Lễ Thành Hầu và đưa bài vị của ông vào thờ tại Thái miếu. Nguồn: Báo Đồng Nai Điện Tử

Đồng Nai

15270 lượt xem

Xếp hạng : Di tích cấp quốc gia

Mở

Di tích chiến thắng La Ngà

Di tích chiến thắng La Ngà

Di tích chiến thắng La Ngà (tại km số 104-112 trên quốc lộ 20 đi Đà Lạt, thuộc xã Phú Ngọc, huyện Định Quán) được Bộ Văn hóa xếp hạng di tích lịch sử cấp quốc gia ngày 12-12-1986. Để cổ vũ cho chiến thắng Việt Bắc thu - đông 1947 và cũng để giáng cho kẻ thù một đòn chí mạng, Ban chỉ huy chi đội 10 đã quyết định phải tổ chức một trận đánh lớn, để quân giặc thấy rằng dân tộc Việt Nam, con người Việt Nam không dễ dàng chịu khuất phục trước bất kì một kẻ thù nào; Bằng tinh thần quả cảm và sự khôn khéo sau gần nửa năm chuẩn bị, nghiên cứu địa hình, chọn địa điểm: vào lúc 15 giờ 12 phút ngày 1/3/1948 trận chiến phục kích La Ngà bắt đầu và kết thúc vào lúc 15 giờ 57 phút cùng ngày, chỉ trong vòng 45 phút. Chiến thắng La Ngà đã làm nức lòng nhân dân Định Quán nói riêng, quân dân Đồng Nai nói chung. Đây là chiến thắng thể hiện sự mưu trí, dũng cảm của quân và dân ta làm cho địch một phen kinh hồn, bạt phía. Từ chiến thắng này lực lượng ta ngày càng thêm lớn mạnh, góp phần đánh bại kế hoạch đánh nhanh, thắng nhanh của địch, buộc chúng phải rơi vào thế bị động. Quần thể danh thắng đá Chồng, Thác Mai, sông La Ngà và Tượng đài chiến thắng La Ngà là một quần thể du lịch kì thú của Định Quán. Vẻ đẹp kỳ thú của Hòn Ba Chồng, Núi Đá Voi, Hòn Dĩa, cùng với ngôi chùa thiên nhiên dưới chân núi đá là những cụm tiêu biểu tạo thành cảnh đẹp hài hòa cho khu danh thắng Đá Chồng. Quần thể Đá Chồng Định Quán còn là nơi lưu lại những dấu tích của cuộc sống người tiền sử. Tại đây dưới các mái đá, ven các khe suối và cả các sườn dốc ven thung lũng đã phát hiện nhiều công cụ sản xuất, sinh hoạt của người xưa bằng đá, đồng, đất nung. Trong suốt cuộc kháng chiến dài 30 năm. Định Quán là một phần quan trọng của Chiến khu Đ. Đá Chồng đã chứng kiến sự hình thành, phát triển, trú quân, triển khai chiến đấu của lực lượng cách mạng. Ngày nay, một phần đất của khu danh thắng Đá Chồng Định Quán đã được sử dụng, xây dựng thành khu Trung tâm văn hóa thể thao huyện Định Quán. Tương lai không xa khu danh thắng Đá Chồng Định Quán sẽ được đầu tư tôn tạo góp phần làm cho cảnh quan thiên nhiên ngày càng tươi đẹp, là địa điểm du lịch sinh thái hấp dẫn. Nguồn: Uỷ Ban Nhân Dân Huyện Định Quán

Đồng Nai

15103 lượt xem

Xếp hạng : Di tích cấp quốc gia

Mở

Tháp cổ Chót Mạt

Tháp cổ Chót Mạt

Di tích Lịch sử-Văn hóa Tháp Chót Mạt, tọa lạc ấp Xóm Tháp, xã Tân Phong, huyện Tân Biên, tỉnh Tây Ninh, được Bộ Văn hóa Thông tin (nay là Bộ Văn hóa Thể thao và Du lịch) công nhận là di tích lịch sử - văn hóa ngày 23 tháng 7 năm 1993. Đồng thời là một trong ba công trình tháp cổ cuối cùng còn lại ở miền Nam nước ta. Trải qua nhiều lần trùng tu vào các năm 1938, 2003 và gần đây nhất là vào năm 2013. Mặc dù trải qua các đợt trùng tu tôn tạo, nhưng khu di tích tháp cổ Chót Mạt đã mang cho mình một diện mạo mới nhưng vẫn giữ nguyên được tinh thần kiến trúc cổ. Toàn bộ tòa Tháp được xây dựng bằng gạch và đá phiến với phần đỉnh tháp nhọn dần lên, từ mặt đất lên nơi cao nhất của đỉnh tháp được ước tính là 10m. Ngoài ra, ngọn tháp cổ này nằm trên gò đất cao giữa cánh đồng nên nhìn từ xa nó tựa như ngọn bút đang vươn lên cao dần. Năm 2003 Uỷ ban nhân dân tỉnh Tây Ninh quyết định phê duyệt dự án đầu tư trùng tu tôn tạo bảo tồn di tích tháp Chót Mạt và được tiến hành triển khai trùng tu tôn tạo phục hồi, trưng bày mở hố khai quật năm 2003 đưa vào sử dụng. Ngày 27/11/2019 UBND tỉnh ban hành Quyết định Quy định về phân cấp quản lý, bảo vệ và phát huy giá trị di tích lịch sử văn hóa và danh lam thắng cảnh trên địa bàn tỉnh Tây Ninh. Quyết định giao UBND huyện Tân Biên trực tiếp quản lý 4 di tích, trong đó có di tích cấp Quốc gia di tích Lịch sử- văn Hóa Tháp Chót Mạt. Đặc biệt Di tích Lịch sử-Văn hóa Tháp Chót Mạt trên địa bàn xã Tân Phong, huyện Tân Biên được chọn nằm trong chũi liên kết phát triển du lịch của Tỉnh Tây Ninh. Đây là một địa điểm tham quan rất đáng để khám phá, góp phần phát triển du lịch trên địa bàn xã Tân Phong nói riêng và huyện Tân Biên nói chung. Nguồn: Cổng thông tin điện tử tỉnh Tây Ninh

Tây Ninh

14965 lượt xem

Xếp hạng : Di tích cấp quốc gia

Mở

Dinh Quận Hóc Môn

Dinh Quận Hóc Môn

Dinh Quận Hóc Môn tọa lạc tại số 1, đường Lý Nam Đế, thị trấn Hóc Môn, (cạnh trụ sở UBND huyện) là nơi để lại nhiều sự kiện đấu tranh nổi bật suốt chặng đường dài lịch sử từ 1885 đến ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng của Nhân dân 18 Thôn vườn trầu. Sau khi hạ được Đại đồn Chí Hòa, thực dân Pháp xây dựng tại nơi đây một ngôi nhà gỗ cao 3 tầng dùng làm Đồn binh. Khi tên Trần Tử Ca về nhậm chức Đốc Phủ, dùng Đồn làm Dinh huyện Bình Long. Vốn là một tay say quỷ quyệt của thực dân Pháp, Trần Tử Ca bị nhóm do các ông Phan Văn Hớn (Quản Hớn) và Nguyễn Văn Quá (Chánh Lãnh Binh) cầm đầu gần 1.000 nghĩa quân tiến về đốt Dinh Quận, bắt và cắt đầu bêu giữa chợ. Đó là ngày 8/2/1885 Tết Ất Dậu. Sau đó, Dinh Quận Hóc Môn được xây dựng lại với nền móng đá xanh, tường gạch, có hệ thống phòng thủ từ lầu cao đến tận vòng rào. Lối kiến trúc y như Đồn binh nên người địa phương gọi là Đồn Hóc Môn. Trấn nhậm thay Trần Tử Ca là Đốc phủ Ngôn, đến Quận Trà rồi Quận Thọ. Đây là khoảng thời gian dài người dân vùng Hóc Môn hứng chịu bao cảnh tham tàn, bỉ ổi của thực dân Pháp và bọn tay sai đầu sỏ kể trên. Với truyền thống kiên cường bất khuất của Nhân dân Hóc Môn. Ngày 4/6/1930, khoảng 6 giờ sáng trước Dinh Quận, hàng trăm bà con Hóc Môn kéo biểu tình đòi “bãi bỏ thuế thân, giảm các thuế môn bài và thuế chợ, cấp đất cho dân cày nghèo”. Quận Trà cho mời những người cầm đầu vào Dinh thương lượng, nhưng chúng xảo quyệt bắt giữ họ trong đó có ông Lê Văn Uôi (Bí thư xã Tân Thới Nhì), là người cầm đầu cuộc biểu tình. Mọi người không nao núng, quyết liệt đòi hỏi Quận Trà phải thả những người bị cầm giữ. Đoàn biểu tình càng lúc càng đông, khí thế đấu tranh có phần lan rộng, khiến Quận Trà nhượng bộ. Một mặt chúng thả những người bị giữ, mặc khác chúng gọi điện cho quan thầy ở Sài Gòn cứu viện. 2 giờ sau, cuộc đấu tranh bị 2 tên Blachôlê và Nobbot chỉ huy bắn xối xả vào đoàn biểu tình, gây thương vong nhiều người. Nhưng sự kiện lịch sử gây ấn tượng nhất tại Dinh Quận Hóc Môn là cuộc khởi nghĩa Nam kỳ ngày 23/11/1940. Đồn Hóc Môn rất kiên cố, xây bằng đá xanh như là một pháo đài, cao khoảng 15 thước, có ụ súng và hệ thống phòng thủ lỗ châu mai do một trung đội lính khố xanh trấn giữ. Ngày 22/11/1940, Pháp tăng cường thêm 1 trung đội để đối phó với tình hình. Chiều 22/11/1940, cánh quân của ông Đỗ Văn Cội đột nhập vào thị trấn, giả dạng thường dân, phục kích sau lưng Đồn chờ lệnh cướp Đồn. Một cánh quân khác có nhiệm vụ phá cầu, đốn cây ngăn lộ, đánh chiếm các công sở, nhà việc... Cánh quân từ Phước Vĩnh An, Tân Thông, Tân An Hội, Tân Phú Trung do ông Phạm Văn Sáng và Đặng Công Bỉnh chỉ huy, xuất phát từ ấp Bến Đò, đánh chiếm nhà việc, diệt 1 tên, thu 4 súng, làm chủ tình hình tại đây (Tân Phú trung). Liền đó cánh quân này được lệnh kéo về Hóc Môn. Cánh quân Long Tuy Thượng do ông Bùi Văn Hoạt chỉ huy. Cánh quân thuộc Tổng Long Tuy Trung do ông Đỗ Văn Dậy và Lê Bình Đẳng chỉ huy. Khoảng 24 giờ đêm ngày 22/11/1940, vẫn chưa nghe thấy tiếng pháo lệnh ở Sài Gòn. Sau khi hội ý, các vị chỉ huy những cánh quân thống nhất tấn công Đồn giặc. Lập tức các cánh quân tiến thẳng về Đồn Hóc Môn, nơi trú ngụ của tên Quận trưởng Bùi Ngọc Thọ. 2 nghĩa quân tên Nghé và Kinh xung phong vào cổng trước, hy sinh. Nghĩa quân bốn phía xông vào Đồn như nước vỡ bờ. Trước sức mạnh của nghĩa quân và quần chúng, bọn lính trong Đồn không còn tinh thần kháng cự, bỏ chạy tán loạn. Nghĩa quân chiếm lĩnh hoàn toàn bên trong Đồn nhưng trên lầu, địch vẫn ngoan cố dùng súng bắn tẻ, cùng lúc gọi điện về Sài Gòn, Thủ Dầu Một cấp cứu. Vì nóng lòng bắt cho được tên Quận Thọ nên đồng chí Đỗ Văn Dậy bám ống máng nước để leo lên tầng trên Đồn. Đến lưng chừng bị trúng đạn, đồng chí bị rơi xuống và hy sinh sau đó. Cuộc chiến đấu đang thế giằng co thì viện binh địch đến. Không thể cầm cự, nghĩa quân rút khỏi thị trấn, phân tán về các làng, lực lượng vũ trang rút về ấp Bến Đò (Tân Phú Trung) rồi di chuyển sang ấp Mỹ Hạnh (Đức Hòa). Cuộc tiến công Đồn Hóc Môn (sau gọi là Dinh Quận Hóc Môn) tuy thất bại nhưng đã để lại ấn tượng sâu sắc trong lòng mọi người dân sự khâm phục lòng dũng cảm của các chiến sĩ cách mạng trong cuộc chiến đấu chống thực dân cướp nước. Trong chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, 7 giờ sáng ngày 30/4/1975, thị trấn Hóc Môn hoàn toàn được giải phóng, lá cờ Tổ quốc phất phới bay trên Dinh Quận, nơi tên Quận trưởng Nguyễn Như Sang và bọn tay sai đã chạy trốn từ tối đêm trước. Ngày nay Dinh Quận Hóc Môn được chọn làm Bảo tàng huyện, nơi đây tập trung nhiều tư liệu trưng bày, minh họa các giai đoạn lịch sử thăng trầm cũng như khí thế đấu tranh cách mạng của quân và dân trong huyện Hóc Môn qua 2 cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ. Một Tượng đài đặt trước di tích Dinh Quận Hóc Môn thể hiện gương hy sinh bất khuất của quân và dân 18 Thôn Vườn trầu, được công nhận là di tích lịch sử văn hóa cấp Quốc gia. Nguồn: Ủy ban nhân dân huyện Hóc Môn

TP Hồ Chí Minh

14271 lượt xem

Xếp hạng : Di tích cấp quốc gia

Mở

Tòa đại sứ quán Mỹ

Tòa đại sứ quán Mỹ

Di tích tòa Đại sứ Mỹ còn được gọi "Nhà trắng phương Đông" là nơi xuất phát các âm mưu thâm độc về quân sự lẫn chính trị nhằm thôn tính lâu dài đất nước Việt Nam, địa điểm di tích là tòa nhà 5 tầng xây dựng theo kiến trúc hiện đại, tọa lạc tại góc đường Mạc Đĩnh Chi - Lê Duẩn, Phường Bến Nghé, Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh, trên một mảnh đất rộng gần 5.000m2. Trước đó, tòa đại sứ Mỹ nằm tại số 39 đường Hàm Nghi. Khoảng 10 giờ sáng ngày 30/3/1963, tòa đại sứ Mỹ trên đường Hàm Nghi đã bị đội Biệt động F21 đánh chất nổ làm sập 3 tầng lầu: 1, 2, 3 do đó Mỹ đã quyết định xây lại. Tòa nhà được khởi công xây dựng vào năm 1965, hầu hết vật liệu cũng như máy móc xây dựng đều được chở từ Mỹ sang, dưới sự điều khiển của kỹ sư người Mỹ. Theo thiết kế, tòa nhà bao bọc bởi 7.800 viên đá Taredo có khả năng chống đỡ mìn, đạn pháo. Cửa chính trang bị bằng thép dầy, những cửa khác chắn bởi lớp kín dầy đặc biệt chống đạn. Tất cả cửa sử dụng hệ thống tự động kể cả cửa sắt chắn lối lên các tầng lầu. Bên trong tòa nhà gồm 140 phòng với 200 nhân viên phục vụ ngày đêm ngoài ra bên cạnh tòa nhà còn được xây thêm một dãy nhà phụ gọi là khu "Norodom" dành riêng cho nhân viên C.I.A. Khi khánh thành, tòa nhà chỉ có 3 tầng. Cuối năm 1966 xây thêm 2 tầng và 1 sân thượng dùng làm nơi hạ cánh cho máy bay lên thẳng. Bao quanh tòa nhà là bức tường cao 3m, hai đầu tường sát đường Lê Duẩn xây 2 lô - cốt cao, canh gác ngày đêm. Tòa Đại sứ hoàn thành tháng 9/1967 với một hệ thống phòng thủ như là một pháo đài có 60 lính gác, một hầm tránh bom, một hệ thống màn hình ra-đa nhằm kiểm soát mặt tiền. Ngay sau khi tòa nhà hoàn tất, ngày 24/9/1967, hàng ngàn sinh viên, học sinh kéo đến trước cổng Đại sứ quán Mỹ đấu tranh đòi "Mỹ chấm dứt ném bom miền Bắc", "Mỹ cút về nước" và ra thông báo tố cáo Mỹ "chà đạp và vi phạm nghiêm trọng quyền tự quyết của nhân dân miền Nam". Nhưng sự kiện nổi bật xảy ra tại Tòa Đại sứ Mỹ là trận đánh của Biệt động thành trong Tổng Tiến công và nổi dậy xuân Mậu Thân 1968. Mục tiêu đánh Đại sứ quán Mỹ được bổ sung ngày 24/ 1/1968 do Ngô Thành Vân phụ trách chung. Đội Biệt động 11 nhận lãnh nhiệm vụ quan trọng này gồm đội trưởng Út Nhỏ (đội trưởng trinh sát quân khu) và các chiến sĩ: Bảy Truyền, Tước, Thanh, Chức, Trần Thế Ninh, Chính, Tài, Văn, Đực, Cao Hoài Vinh, Mang, Sáu và 2 lái xe: Trần Sĩ Hùng và Ngô Văn Thuận. Một sự kiện khác cũng không kém phần tủi nhục cho Toà Đại sứ Mỹ là cảnh hỗn loạn tháo chạy xảy ra trong 2 ngày 29 và 30/04/1975 của Mỹ và đồng bọn. Trước sức tấn công thần tốc của quân và dân Việt Nam trong chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, trên 1.000 người Mỹ và hơn 5.000 người Việt thân Mỹ đã chen lấn, xô đẩy, đạp nhau để tranh giành một chỗ trên sân thượng của toà nhà hòng được trực thăng cứu thoát. Di tích này đã được cấp bằng công nhận của Bộ Văn hoá ngày 25/6/1976. Hiện nay, toà nhà Đại Sứ Mỹ đã bị phá bỏ, xây mới thành lãnh sự quán tại Thành phố Hồ Chí Minh, nhưng cạnh đó một bia tưởng niệm ghi nhớ mãi chiến công của các chiến sĩ biệt động đã hy sinh trong trận đánh. Nguồn: Thành Đoàn Thành phố Hồ Chí Minh

TP Hồ Chí Minh

14178 lượt xem

Xếp hạng : Di tích cấp quốc gia

Mở

Lăng Mai Xuân Thưởng

Lăng Mai Xuân Thưởng

Mai Xuân Thưởng là người lãnh đạo phong trào Cần Vương chống Pháp cuối thế kỷ XIX ở Bình Định. Mai Xuân Thưởng sinh năm Canh Thân 1860, mất năm Đinh Hợi 1887 người thôn Phú Lạc, tổng Phú phong, huyện Tuy Viễn, tỉnh Bình Định (nay là thôn Phú Lạc, xã Bình Thành, huyện Tây Sơn, tỉnh Bình Định). Cha là Mai Xuân Tín làm Bố chánh ở Cao Bằng, mẹ là Huỳnh Thị Nguyệt con của một nhà quyền quý trong làng. Mai Xuân Thưởng vốn là người thông minh, ham học. Năm 18 tuổi (1878) ông đỗ Tú tài tại Trường thi Bình Định. năm 25 tuổi (1885) thi đỗ cử nhân. Hưởng ứng chiếu Cần vương của vua Hàm Nghi, Mai Xuân Thưởng về quê Phú Lạc, chiêu mộ nghĩa binh, lập căn cứ ở hòn Sưng dựng cờ cần vương chống Pháp, sau đó Mai Xuân Thưởng đã đem lực lượng của mình gia nhập vào nghĩa quân do Đào Doãn Địch lãnh đạo và được Đào Doãn Địch phong giữ chức Tán lương quân vụ (phụ trách về lương thực của nghĩa quân). Kể từ đó cho đến năm 1887, phong trào cần vương ở Bình Định phát triển mạnh mẽ và lan ra đến Quảng Ngãi, Phú Yên...thu hút hàng chục ngàn người thuộc mọi tầng lớp tham gia. Ngày 20/9/1885 Đào Doãn Địch mất, giao toàn bộ lực lượng cho Mai Xuân Thưởng. Ông chọn vùng núi Lộc Đổng (nay thuộc xã Bình Tường, huyện Tây Sơn) làm đại bản doanh và tổ chức lễ tế cờ , truyền hịch kêu gọi sỹ phu, văn thân, nhân dân tham gia phong trào cần Vương chống Pháp. Trong buổi lễ ấy, nghĩa quân nhiều vùng trong tỉnh Bình Định đã nhất trí suy tôn ông làm Nguyên soái lãnh đạo cuộc khởi nghĩa và nêu cao khẩu hiệu: “Tiền sát tả, hậu đả Tây”. Đầu năm 1887, quân Pháp dưới sự chỉ huy của Trung tá Cherrean và quân triều đình do Trần Bá Lộc chỉ huy cùng với Công sứ Trira đã mở cuộc tấn công lớn lên căn cứ đại bản doanh của phong trào Cần Vương Bình Định, trận giao chiến giữa lực lượng nghĩa quân với giặc Pháp diễn ra vô cùng ác liệt, cuộc chiến đấu không cân sức, cuối cùng lực lượng khởi nghĩa bị đẩy lùi. Tháng 3 năm 1887, sau trận ác chiến ở Bàu Sấu (thị xã An Nhơn, tỉnh Bình Định), Mai Xuân Thưởng bị thương nặng, nghĩa quân rút về Mật khu Linh Ðổng. Ngày 21 tháng 4 năm 1887, Trần Bá Lộc bao vây đánh chiếm căn cứ mật khu Linh Đổng và bắt được một số nghĩa quân, trong đó có thân mẫu Mai Nguyên Soái. Đêm 30 tháng 4 năm 1887, Mai Xuân Thưởng đã cử một đội quân cảm tử đột nhập doanh trại Trần Bá Lộc, giải vây cho những người bị bắt, ông cùng đoàn thuộc hạ gồm 50 người vượt núi vào Phú Yên, tiếp tục kháng chiến, nhưng khi đến đèo Phú Quý (ranh giới giữa Bình Định và Phú Yên) thị bị phục binh Trần Bá Lộc bắt và đưa ra xử trảm tại Gò Chàm (Phía đông Thành Bình Định). Di tích Lăng mộ nhà yêu nước Mai Xuân Thưởng tọa lạc trên ngọn đồi cao của dãy núi Ngang (thuộc thôn Hòa Sơn, xã Bình Tường, huyện Tây Sơn, tỉnh Bình Định) cách thành phố Quy Nhơn khoảng 50km về hướng Tây Bắc; Lăng mộ được xây dựng trên khu đất rộng 1988m2, khánh thành ngày 22 tháng 1 năm 1961.Về tổng thể, Lăng được thiết kế theo kiểu lăng mộ cổ, xung quanh có thành thấp bao bọc. Cổng Lăng (tam quan) là 4 trụ vuông, phía trên thắt lại theo kiểu bầu lọ mang dáng dấp kiến trúc cổng đình, miếu cuối thế kỷ XIX. Giữa nhà Lăng là mộ phần Mai Xuân Thưởng hình khối chữ nhật theo hướng Đông - Tây; Phía đầu mộ dựng tấm Bia đá khắc bài ký ghi tiểu sử và sự nghiệp của Mai Xuân Thưởng: Di tích được Bộ Văn hóa Thông tin quyết định xếp hạng cấp Quốc Gia ngày 20 tháng 4 năm 1995. Nguồn: UBND Huyện Tây Sơn tỉnh Bình Định

Gia Lai

13898 lượt xem

Xếp hạng : Di tích cấp quốc gia

Mở

Thành Nhà Mạc Ở Cao Bằng (Thành Nà Lữ, Thành Bản Phủ, Thành Phục Hòa)

Thành Nhà Mạc Ở Cao Bằng (Thành Nà Lữ, Thành Bản Phủ, Thành Phục Hòa)

Thời kỳ nhà Mạc đóng đô ở Cao Bằng, để phòng bị quân nhà Lê tiến đánh, nhà Mạc đã tu bổ, sửa chữa thành Na Lữ (nay thuộc xã Hoàng Tung, Hòa An) và thành Bản Phủ (nay thuộc xã Hưng Đạo), thành Phục Hòa, ngoài ra còn xây dựng nhiều thành lũy khác ở Cao Bằng, làm cho Cao Bằng trở thành một trung tâm chính trị và quân sự ở vùng biên viễn Đông Bắc thời bấy giờ. Thành Na Lữ và thành Phục Hoà là hai thành được xây dựng từ trước. Theo ghi chép của Bế Hựu Cung trong Cao Bằng thực lục, thành Na Lữ và thành Phục Hòa mở đầu từ đời Đường Ý Tông năm Giáp Thân, niên hiệu Hàm Thông thứ 5 (874). Căn cứ vào sự hiện diện của nhiều ngôi mộ cổ có đá khắc ghi bia mộ tên, địa chỉ, quê quán những người phu dịch xây thành chết ở đây từ thời Hàm Thông có thể khẳng định hai thành này xây từ đời Đường. Thành Na Lữ được xây qua nhiều triều đại khác nhau. Khi nhà Mạc lên Cao Bằng đã cho xây lại bằng gạch. Thành Na Lữ có hình gần chữ nhật, có tổng diện tích khoảng 37,5 ha, chiều dài khoảng 800 m, chiều rộng khoảng 600 m, thành có 4 cửa. Thành Bản Phủ tại kinh đô Nam Bình, nước Nam Cương của Thục Phán khi xưa ở Cao Bình (Cao Bằng), nhà Mạc đã tu bổ thành Vương phủ tại vòng trong của kinh đô cũ Nam Bình và được gọi là thành Bản Phủ hay Vương phủ. Tại kinh đô Nam Bình xưa của nước Nam Cương và của nhà Mạc, thành Bản Phủ vẫn còn dấu tích khá rõ nét. Kinh đô Nam Bình gồm có hai vòng thành, để bảo vệ kinh thành, vòng ngoài có chu vi khoảng 5 km, gồm cả một vùng gò đồi thấp, quanh chân đồi được bạt dựng đứng như một bức tường thành, thuận lợi cho việc xây dựng phòng tuyến bảo vệ. Bờ thành phía Tây chạy song song với bờ sông Bằng đến đầu làng Bó Mạ, nối bờ thành Đông Nam chảy qua trước mặt Bản Phủ theo chân đồi ra gặp quốc lộ 4, phía Đông Bắc chạy theo chân đồi sát phía ngoài quốc lộ 4, lên đến Đầu gò là phía Tây Bắc tiếp tục chạy theo chân đồi, ra đến bờ sông gặp bờ thành phía Tây tạo thành một vòng thành khép kín. Khi nhà Mạc lên đóng đô đã tu sửa lại và xây dựng thêm một số công trình, trong đó thành Bản Phủ (thành nội - nơi của vua làm việc) được xây lên cao hơn trên các tường thành cũ từ thời kỳ Thục Phán, thành nằm trên một khu đất bằng phẳng. Cùng với việc xây dựng lại kinh thành, nhà Mạc còn xây dựng một hệ thống đồn bốt, thành lũy khá dày xung quanh kinh đô và một số điểm biên giới quan trọng, tạo thành một hệ thống bảo vệ kinh thành và bảo vệ biên giới. Thành Phục Hòa (huyện Phục Hoà) được xây theo kiểu hình vuông, mỗi chiều khoảng 400 m, gồm hai vòng thành, khoảng cách giữa hai vòng là 80 m. Hiện nay, tường thành phía Nam đã bị phá huỷ hoàn toàn. Thành Phục Hòa có 2 cổng chính: Cổng phía Bắc được mở thông ra quốc lộ đi Cửa khẩu Tà Lùng ngày nay, nhân dân thường gọi là Pác Cổng, cổng này được xây theo kiểu hình chữ nhật, rộng 8 m, cao 5 m, gồm hai cánh cổng làm bằng gỗ nghiến dày rất chắc chắn; cổng thứ hai ở phía Nam, mở thông ra bờ sông. Cả hai cổng đều bị san phẳng từ lâu, hiện nay không còn vết tích. Gần thành, tại phía Tây Bắc ngoại thành dọc bờ sông còn có nhiều vết tích lò nung gạch, nhân dân cho biết trong quá trình lao động, khai phá đã tìm thấy ở khu vực này nhiều lò gạch còn nguyên vẹn. Qua nghiên cứu, khảo sát cho thấy, tại Cao Bằng, nhà Mạc đã tu bổ, tôn tạo và xây dựng thêm nhiều thành, đồn luỹ, trong đó tu bổ, tôn tạo xây lại thành Bản Phủ, thành Na Lữ, thành Phục Hoà. Các đồn luỹ này đã tạo thành một hệ thống liên hoàn bảo vệ kinh thành khá vững chắc. Đến nay, những thành cổ nhà Mạc xây dựng thời kỳ đóng đô ở Cao Bằng, một số thành xây dựng bằng đất chỉ còn vết tích, nhưng các thành được xây bằng đá vẫn còn rất rõ. Nguồn: Báo Cao Bằng điện tử

Cao Bằng

13506 lượt xem

Xếp hạng : Di tích cấp quốc gia

Mở

KHU TƯỞNG NIỆM LIỆT SĨ NGÃ BA GIỒNG, DI TÍCH LỊCH SỬ QUỐC GIA

KHU TƯỞNG NIỆM LIỆT SĨ NGÃ BA GIỒNG, DI TÍCH LỊCH SỬ QUỐC GIA

Di tích Ngã Ba Giồng là di tích lịch sử cách mạng thuộc Ấp 5, xã Xuân Thới Thượng, huyện Hóc Môn. Được bao quanh bởi ba con đường: Phan Văn Hớn, Nguyễn Văn Bứa và tỉnh lộ 19. Khu di tích Ngã Ba Giồng là khu tưởng niệm về những sự kiện lịch sử trong hai cuộc khácg chiến chống ngoại xâm. Được công nhận là di tích lịch sử cấp quốc gia vào năm 2002. Ngã ba Giòng (còn có tên gọi đầy đủ là Ngã ba Giòng Bằng Lăng) nằm trên địa phận thôn Xuân Thới Tây thuộc 18 thôn vườn trầu xưa được hình thành từ những năm 1698 đến năm 1731. Từ lâu đời, Ngã ba Giồng là 1 địa danh có tên gọi dân gian đã đi vào lịch sử của quê hương 18 thôn vườn trầu Hóc Môn – Bà Điểm. Tục truyền rằng xưa kia nơi đây là 1 vùng đất giồng tương đối cao ráo và là nơi mọc nhiều cây bằng lăng nên địa danh này có tên gọi từ đó. Sau khi cuộc khởi nghĩa Nam kỳ (23/11/1940) bị thất bại, thực dân Pháp đã tăng cường đàn áp, khủng bố khốc liệt phong trào cách mạng vùng Hóc Môn – Bà Điểm. Chúng đã lập ra ở Hóc Môn 3 trường bắn để giết hại các đồng chí lãnh đạo Đảng, các đồng chí đồng bào yêu nước của quê hương Hóc Môn và các vùng lân cận. Ngã ba Giồng là trường bắn thứ ba ghi lại tội ác tày trời của giặc pháp và bọn tay sai đối với nhân dân Hóc Môn. Rút kinh nghiệm từ 2 trường bắn trước (1 tại rạp hát cũ trung tâm Quận lỵ Hóc Môn, 1 cạnh giếng nước sau Bệnh viện Hóc Môn ngày nay), chúng xử bắn công khai, bắt nhân dân đến xem nhằm mục đích uy hiếp tinh thần cách mạng của nhân dân Hóc Môn. Nhưng cách xử bắn đó đã phản tác dụng, nhân dân Hóc Môn đã tận mắt chứng kiến sự tàn ác của thực dân Pháp, sự hy sinh cao cả của các chiến sĩ cộng sản nên ngọn lửa yêu nước của họ càng bùng lên mãnh liệt. Trường bắn thứ 3 này, chúng không dám xây dựng gần trung tâm Quận lỵ nữa mà đưa ra khu vực Ngã ba Giồng là vùng hoang vắng, thưa dân để tránh sự phản kháng của nhân dân. Tại đây, chúng xây dựng thành 1 trường bắn có mô đất kiên cố dài 12m, cao 2,2m, phía trước có trồng 6 cột bắn, mỗi cột cao 1.7m, hướng bắn quay về phía đồng ruộng (bưng Tràm Lạc). Vào năm 1941, tại đây chúng lén lúc xử bắn rất nhiều lần, không cho nhân dân xem, hàng trăm chiến sĩ cộng sản và đồng bào yêu nước bị chúng giết hại. Với ý nghĩa lịch sử vô cùng thiêng liêng của Ngã ba Giồng, nơi ghi dấu tội ác dã man của giặc Pháp, nơi thể hiện ý chí chiến đấu bất khuất kiên cường và sự hy sinh cao cả của đồng chí và đồng bào ta sau cuộc khởi nghĩa Nam kỳ (23/11/1940); sau ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng (30/4/1975), huyện Hóc Môn đã nhanh chóng khôi phục và tôn tạo khu di tích lịch sử cách mạng Ngã ba Giồng nhằm giáo dục truyền thống cho các thế hệ thanh thiếu niên. Nơi đây đã trở thành điểm tham quan, nơi tổ chức lễ hội truyền thống trong những ngày lễ lớn hàng năm của huyện Hóc Môn và thành phố đặc biệt là lễ kỷ niệm ngày Nam kỳ Khởi nghĩa (23/11). Hiện nay được sự nhất trí của thành phố, huyện đang tiến hành tôn tạo xây dựng Ngã ba Giồng thành “Khu tưởng niệm liệt sĩ Ngã ba Giồng”. Nguồn: Cổng thông tin điện tử Hóc Môn

TP Hồ Chí Minh

13374 lượt xem

Xếp hạng : Di tích cấp quốc gia

Mở