Di tích lịch sử

Xem dạng bản đồViệt nam

Danh sách điểm di tích (1295)

Đình Đông Thành

Đình Đông Thành

Đình Đông Thành – Di tích lịch sử, kiến trúc giữa lòng phố cổ Hà Nội Đình Đông Thành, còn gọi là đình Hàng Vải, tọa lạc tại số 7 phố Hàng Vải, quận Hoàn Kiếm, Hà Nội. Đây là một trong những ngôi đình cổ tiêu biểu của khu phố cổ, vừa là nơi sinh hoạt tín ngưỡng của cộng đồng dân cư, vừa lưu giữ nhiều giá trị lịch sử, văn hóa và kiến trúc đặc sắc của Thăng Long xưa. Đình được xây dựng để thờ Thánh Huyền Thiên Trấn Vũ – vị thần được nhân dân tôn kính với công lao trấn giữ phương Bắc, bảo vệ quốc thái dân an. Trước đây, đình là nơi sinh hoạt chung của hai thôn Đông Thành và Đông Thành Thị, sau được sáp nhập thành làng Đông Thành dưới triều Nguyễn. Trải qua nhiều thế kỷ, đình vẫn bảo tồn được nhiều hiện vật quý như tượng Thánh Huyền Thiên Trấn Vũ bằng đồng, hệ thống bia đá thời Nguyễn ghi lại quá trình xây dựng, trùng tu cùng các đạo sắc phong, hoành phi, câu đối có giá trị về lịch sử và nghệ thuật. Đây là những tư liệu quý góp phần phản ánh đời sống văn hóa, tín ngưỡng của cư dân phố cổ Hà Nội qua nhiều thời kỳ. Không chỉ có giá trị về kiến trúc và tín ngưỡng, đình Đông Thành còn gắn với những dấu mốc quan trọng của lịch sử dân tộc. Trong những ngày đầu Toàn quốc kháng chiến cuối năm 1946, đình từng được sử dụng làm trạm cứu thương của Liên khu I, góp phần phục vụ cuộc chiến đấu bảo vệ Thủ đô trong 60 ngày đêm lịch sử. Sự kiện này đã làm tăng thêm giá trị lịch sử của di tích, biến nơi đây trở thành một địa chỉ đỏ giáo dục truyền thống yêu nước cho các thế hệ. Năm 2014, đình Đông Thành được xếp hạng Di tích lịch sử - kiến trúc nghệ thuật cấp thành phố. Ngày nay, ngôi đình không chỉ là nơi diễn ra các hoạt động tín ngưỡng của người dân địa phương mà còn là điểm tham quan hấp dẫn trên hành trình khám phá khu phố cổ Hà Nội. Theo báo Hà Nội mới

Hà Nội

436 lượt xem

Xếp hạng : Di tích cấp tỉnh

Mở

Khu di tích lịch sử Nặm Lìn

Khu di tích lịch sử Nặm Lìn

Khu di tích lịch sử Nặm Lìn, thuộc xã Hoàng Tung, tỉnh Cao Bằng, là một trong những "địa chỉ đỏ" tiêu biểu của cách mạng Việt Nam. Đây là nơi ghi dấu sự kiện thành lập Chi bộ Đảng Cộng sản đầu tiên của tỉnh Cao Bằng vào ngày 1 tháng 4 năm 1930, đánh dấu bước ngoặt quan trọng trong lịch sử cách mạng của địa phương. Với ý nghĩa to lớn về lịch sử và giáo dục truyền thống, Nặm Lìn đã trở thành điểm đến không thể bỏ qua đối với những ai muốn tìm hiểu về cội nguồn cách mạng của vùng đất Cao Bằng. Cách đây hơn 90 năm, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam và sự chỉ đạo trực tiếp của đồng chí Hoàng Đình Giong, Chi bộ Đảng Cộng sản đầu tiên của tỉnh Cao Bằng được thành lập tại Nặm Lìn với ba đảng viên: Hoàng Văn Nọn, Lê Đoàn Chu và Nông Văn Đô. Đồng chí Hoàng Văn Nọn được bầu làm Bí thư Chi bộ. Từ đây, phong trào cách mạng ở Cao Bằng được tổ chức và phát triển mạnh mẽ, góp phần quan trọng vào sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc. Để ghi nhận giá trị lịch sử đặc biệt của địa điểm này, ngày 13 tháng 2 năm 1995, Bộ Văn hóa – Thông tin đã công nhận Nặm Lìn là Di tích lịch sử cấp quốc gia. Ngày nay, khu di tích được bảo tồn và tôn tạo khang trang, trở thành nơi lưu giữ những tư liệu, hình ảnh và dấu ấn về sự ra đời của tổ chức Đảng đầu tiên tại Cao Bằng. Không gian di tích mang vẻ trang nghiêm, yên tĩnh, hài hòa với cảnh quan thiên nhiên của vùng trung du, tạo điều kiện thuận lợi cho các hoạt động tham quan, tìm hiểu lịch sử. Đến với Khu di tích lịch sử Nặm Lìn, du khách không chỉ được nghe giới thiệu về quá trình hình thành Chi bộ Đảng đầu tiên của tỉnh mà còn có cơ hội hiểu rõ hơn về truyền thống yêu nước, tinh thần đoàn kết và ý chí đấu tranh kiên cường của nhân dân các dân tộc Cao Bằng. Đây là nơi thường xuyên diễn ra các hoạt động về nguồn, dâng hương, sinh hoạt chuyên đề, kết nạp đảng viên, đoàn viên và các chương trình giáo dục truyền thống dành cho học sinh, sinh viên, cán bộ và lực lượng vũ trang. Theo báo Cao Bằng điện tử

Cao Bằng

480 lượt xem

Xếp hạng : Di tích cấp quốc gia

Mở

Đền thờ Tô Thị Hoạn

Đền thờ Tô Thị Hoạn

Đền thờ Tô Thị Hoạn Nằm tại xóm Đồng Tâm, xã Lý Quốc, tỉnh Cao Bằng, Đền thờ Tô Thị Hoạn là một điểm đến mang đậm giá trị lịch sử, văn hóa và tâm linh. Với khung cảnh yên bình dưới chân núi Xuân Sơn cùng kiến trúc truyền thống đặc sắc, ngôi đền không chỉ là nơi nhân dân địa phương gửi gắm niềm tin tín ngưỡng mà còn là điểm tham quan hấp dẫn đối với du khách khi đến với vùng đất biên cương Cao Bằng. Đền được xây dựng để thờ bà Tô Thị Hoạn (Tô Thị Huệ), một nhân vật gắn liền với truyền thuyết về lòng thủy chung của người phụ nữ Việt Nam. Sau khi bà qua đời, nhân dân đã lập đền thờ để tưởng nhớ và tri ân đức hạnh của bà. Trải qua nhiều thế kỷ, ngôi đền luôn được người dân gìn giữ, trở thành nơi sinh hoạt văn hóa, tín ngưỡng và là biểu tượng cho truyền thống "uống nước nhớ nguồn" của cộng đồng địa phương. Năm 2011, Đền thờ Tô Thị Hoạn được UBND tỉnh Cao Bằng xếp hạng là Di tích lịch sử – văn hóa cấp tỉnh. Trước sự xuống cấp của công trình theo thời gian, năm 2025 địa phương đã triển khai dự án tu bổ, phục hồi với tổng kinh phí 6 tỷ đồng. Sau quá trình tôn tạo, ngôi đền được xây dựng khang trang theo kiến trúc truyền thống gồm ba gian, mái lợp ngói âm dương, sân chính điện, bậc lên đền và hệ thống tường kè kiên cố. Nội thất bên trong được bài trí trang nghiêm với hoành phi, câu đối, cửa võng, tượng thờ, sập thờ và các đồ thờ bằng gốm, đá, tạo nên không gian linh thiêng, cổ kính. Đến với Đền thờ Tô Thị Hoạn, du khách không chỉ được chiêm ngưỡng vẻ đẹp của một công trình kiến trúc truyền thống mà còn có cơ hội tìm hiểu về lịch sử, văn hóa và tín ngưỡng của người dân địa phương. Không gian thanh tịnh, hòa quyện với cảnh quan núi rừng xanh mát tạo cảm giác yên bình, thích hợp cho những chuyến tham quan, dâng hương và khám phá văn hóa bản địa. Theo báo điện tử Cao Bằng

Cao Bằng

535 lượt xem

Xếp hạng : Di tích cấp tỉnh

Mở

Chùa Sùng Phúc

Chùa Sùng Phúc

Chùa Sùng Phúc Tọa lạc tại thị trấn Thanh Nhật, huyện Hạ Lang, tỉnh Cao Bằng, Chùa Sùng Phúc là một trong những ngôi chùa cổ nổi tiếng của vùng Đông Bắc, có lịch sử hơn 700 năm. Chùa được xây dựng từ thời vua Trần Nhân Tông với tên gọi ban đầu là Sùng Khánh, nhằm phát triển Phật giáo và khẳng định chủ quyền vùng biên sau chiến thắng chống quân Nguyên – Mông. Đến năm 1782, chùa được trùng tu, di dời về vị trí hiện nay và đổi tên thành Sùng Phúc. Chùa mang đậm kiến trúc thời Lê với chính điện hình chữ Nhị, mái lợp ngói truyền thống và khuôn viên cổ kính. Không chỉ là nơi thờ Phật Quan Âm, chùa còn thờ Nghĩa Thành Vương Nguyễn Đình Bá – người có công khai phá, bảo vệ vùng biên giới Cao Bằng, và gắn với Nguyễn Thị Duệ, nữ tiến sĩ đầu tiên của Việt Nam, người từng tu hành và giảng dạy tại đây. Di tích hiện còn lưu giữ nhiều hiện vật quý như bia đá, sắc phong triều Nguyễn và nhiều tư liệu lịch sử có giá trị. Hằng năm, từ ngày 14 đến 16 tháng Giêng âm lịch, lễ hội Chùa Sùng Phúc được tổ chức với các nghi lễ dâng hương, rước Phật cùng nhiều hoạt động văn hóa dân gian đặc sắc, thu hút đông đảo nhân dân và du khách. Với những giá trị nổi bật về lịch sử, kiến trúc và tín ngưỡng, Chùa Sùng Phúc đã được Bộ Văn hóa – Thông tin xếp hạng Di tích lịch sử – văn hóa cấp Quốc gia vào ngày 29/1/1993. Ngày nay, ngôi chùa không chỉ là điểm đến tâm linh nổi tiếng của Cao Bằng mà còn là biểu tượng của truyền thống yêu nước, tinh thần hiếu học và bản sắc văn hóa vùng biên cương. Nguồn: Tạp chí Nghiên cứu Phật học (tổng hợp)

Cao Bằng

506 lượt xem

Xếp hạng : Di tích cấp quốc gia

Mở

Đình Yên Phụ

Đình Yên Phụ

Đình Yên Phụ Tọa lạc tại phường Tây Hồ, thành phố Hà Nội (trước đây thuộc phường Yên Phụ, quận Tây Hồ), Đình Yên Phụ là một di tích lịch sử - kiến trúc nghệ thuật tiêu biểu, gắn với tín ngưỡng thờ Uy Linh Lang Đại Vương cùng hai vị em là Vương Duy Đại Vương và Vương Ba Đại Vương. Theo thần tích, Uy Linh Lang là vị tướng có công lớn trong cuộc kháng chiến chống quân Nguyên dưới thời nhà Trần và được nhân dân tôn làm Thành hoàng làng. Đình được xây dựng theo kiến trúc truyền thống hình chữ "Đinh", gồm Đại đình và Hậu cung, nổi bật với hệ thống khung gỗ lim, mái ngói cổ, các mảng chạm khắc rồng, phượng, tứ linh tinh xảo mang phong cách nghệ thuật thế kỷ XVII. Bên trong đình còn lưu giữ nhiều hiện vật quý như sắc phong, bia đá, chuông đồng, hoành phi, câu đối và các đồ thờ cổ có giá trị lịch sử, văn hóa. Không chỉ là nơi sinh hoạt tín ngưỡng của người dân địa phương, Đình Yên Phụ còn là một trong những di tích tiêu biểu bên Hồ Tây, góp phần phản ánh lịch sử, truyền thống và đời sống văn hóa lâu đời của vùng đất Thăng Long – Hà Nội. Năm 1986, Đình Yên Phụ được Bộ Văn hóa và Thông tin (nay là Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch) xếp hạng Di tích lịch sử, kiến trúc nghệ thuật cấp Quốc gia. Ngày nay, di tích là điểm đến hấp dẫn đối với du khách và những người yêu thích tìm hiểu lịch sử, văn hóa truyền thống của Thủ đô. Nguồn: Hà Nội Danh thắng và Di tích (tổng hợp)

Hà Nội

510 lượt xem

Xếp hạng : Di tích cấp quốc gia

Mở

Chùa Linh Ứng

Chùa Linh Ứng

Chùa Linh Ứng ( Khâm Thiên) Chùa Linh Ứng có tên chữ là Linh Ứng tự nằm sát mặt đường Khâm Thiên, số 290, thuộc phường Thổ Quan, quận Đống Đa, Hà Nội. (Trước sáp nhập) Chùa Linh Ứng được xây dựng vào thế kỷ XIX và tiếp tục tôn tạo vào những năm đầu thế kỷ XX; được trùng tu lớn năm 1951, xây thêm Tam bảo với kiểu mái chồng diêm như hiện nay. Chùa bị thiệt hại nặng trong trận bom B.52 ngày 26 - 12 - 1972. Cuối năm 1973 chùa lại được tôn tạo lớn, gần đây năm 1990 các hội chủ, phật tử lại phát tâm công đức tu bổ chùa, sửa sang Phật điện, lát nền điện Mẫu, nhà Tổ. Trong chùa có đầy đủ hệ thống tượng Phật, đặc biệt còn bảo tồn được hai tượng tròn có niên đại thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX và nhiều tượng có giá trị khác như A Di Đà, Di Đà Tam tôn, Cửu long. Chùa Linh Ứng cũng thờ Hưng Đạo đại vương Trần Quốc Tuấn. Tượng đức Thánh Trần ngồi trên long ngai, đầu đội mũ bình thiên, khoác long bào, ngai chạm đầu rồng sơn son thếp vàng, chạm bóng rất kỹ lưỡng theo phong cách nghệ thuật thế kỷ XIX. Trong điện thờ Mẫu, nhà Tổ có tượng Tam toà Thánh Mẫu, Hoàng Bẩy, Hoàng Mười, tượng Cô, tượng Cậu... Chùa có nhiều hoành phi, câu đối, các bức cửa võng sơn son thếp vàng đẹp. Chùa Linh Ứng đã được Bộ Văn hoá và Thông tin xếp hạng di tích lịch sử kiến trúc nghệ thuật năm 1993. Theo Hà Nội Danh thắng và Di tích

Hà Nội

520 lượt xem

Xếp hạng : Di tích cấp quốc gia

Mở

Đền Đông Bộ Đầu

Đền Đông Bộ Đầu

Đền Đông Bộ Đầu – Di tích lịch sử văn hóa thờ Phù Đổng Thiên Vương Đền Đông Bộ Đầu (xưa thuộc làng Dấp), nay thuộc Thường Tín, thành phố Hà Nội, là một di tích lịch sử văn hóa có giá trị đặc biệt, gắn với tín ngưỡng thờ Phù Đổng Thiên Vương – vị anh hùng trong truyền thuyết chống giặc ngoại xâm của dân tộc Việt Nam. Theo thần tích được lưu truyền tại địa phương, đền thờ Đức Đổng Sóc Thiên Vương Huyền Thiên Đại Thánh báo ân Mẹ, tức Thánh Gióng. Điểm đặc biệt trong truyền thuyết tại Đông Bộ Đầu là Thánh Gióng không chỉ đánh giặc cứu nước mà còn có công diệt thủy quái, cứu mẹ và bảo vệ cuộc sống bình yên cho nhân dân ven sông Hồng. Vì vậy, người dân nơi đây còn tôn vinh Ngài là vị thần có công trị thủy, bảo vệ dân làng. Đền Đông Bộ Đầu được hình thành từ lâu đời và từng được các sách cổ như Đại Nam nhất thống chí, Công dư tiệp ký ghi nhận là một trong những đền miếu cổ của vùng Hà Tây xưa. Trải qua nhiều lần tu bổ, di tích hiện vẫn lưu giữ nhiều giá trị kiến trúc, nghệ thuật và tín ngưỡng truyền thống. Đền có kiến trúc theo kiểu “tiền Phật, hậu Thánh”, gồm nhà tiền tế và hậu cung. Trong đền còn lưu giữ nhiều hiện vật quý như sắc phong, tượng thờ, hoành phi, câu đối và đặc biệt là pho tượng Phù Đổng Thiên Vương cổ cao 5,76m, thể hiện hình tượng vị thần uy nghi, mạnh mẽ trong tư thế bảo vệ nhân dân. Ngoài ra, hệ thống tượng Bát Bộ Kim Cương cũng là những tác phẩm nghệ thuật độc đáo, có giá trị về điêu khắc dân gian. Hằng năm, nhân dân địa phương tổ chức lễ hội Đền Đông Bộ Đầu vào ngày 8 tháng Giêng và ngày 8 tháng 9 âm lịch để tưởng nhớ công đức của Thánh Gióng. Lễ hội có nhiều nghi lễ truyền thống và các trò chơi dân gian đặc sắc như múa gậy, bơi trải, tạo nên không gian văn hóa giàu bản sắc của vùng đất ven sông Hồng. Năm 2011, tín ngưỡng thờ Phù Đổng Thiên Vương tại các địa điểm liên quan, trong đó có Đền Đông Bộ Đầu, được UNESCO ghi danh là Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại. Với những giá trị nổi bật về lịch sử, kiến trúc, tín ngưỡng và nghệ thuật, Đền Đông Bộ Đầu là một di sản quý, góp phần lưu giữ hình tượng Thánh Gióng – biểu tượng của lòng yêu nước, tinh thần chống giặc ngoại xâm và đạo lý uống nước nhớ nguồn của dân tộc Việt Nam. Theo Bảo tàng Lịch sử quốc gia

Hà Nội

569 lượt xem

Xếp hạng : Di tích cấp tỉnh

Mở

Đình Chu Quyến

Đình Chu Quyến

Đình Chu Quyến – Di tích kiến trúc nghệ thuật đặc sắc của xứ Đoài Đình Chu Quyến (còn gọi là đình Chàng) tọa lạc tại xã Chu Minh, huyện Ba Vì, thành phố Hà Nội. Đây là một trong những ngôi đình cổ tiêu biểu của Việt Nam, được xây dựng vào đầu thế kỷ XVII và được Nhà nước xếp hạng Di tích kiến trúc nghệ thuật cấp quốc gia năm 1962. Xưa kia, đình thuộc làng Chu Chàng, tổng Châu Chàng, huyện Tiên Phong, phủ Quảng Oai, trấn Sơn Tây. Sau này, làng Chu Chàng được tách thành Chu Chàng và Chu Quyến, nhưng người dân địa phương vẫn quen gọi là đình Chàng. Ngôi đình nằm ở vùng đất ven sông Hồng, hướng về núi Ba Vì, có vị trí hài hòa theo quan niệm phong thủy truyền thống. Đình Chu Quyến là công trình kiến trúc gỗ quy mô lớn, chỉ gồm một tòa đại đình nhưng mang vẻ đẹp bề thế, uy nghi. Đình có kết cấu gồm 3 gian chính, 2 gian chái, 2 dĩ và hệ thống 6 hàng cột lớn. Các bộ phận kiến trúc như cột, xà, kẻ, cốn, vì nóc đều được liên kết khéo léo bằng kỹ thuật mộc truyền thống. Những cây cột lớn của đình đã trở thành hình ảnh quen thuộc trong dân gian với câu ví “to như cột đình Chàng”. Không chỉ có giá trị về kiến trúc, đình Chu Quyến còn nổi bật bởi nghệ thuật chạm khắc gỗ tinh xảo. Các nghệ nhân xưa đã tạo nên nhiều tác phẩm sinh động với hình ảnh rồng, phượng, hoa lá, mây trời và các hoạt cảnh đời thường như làm ruộng, uống rượu, cưỡi voi, cưỡi ngựa… Những đường nét chạm khắc thể hiện sự tài hoa của nghệ nhân dân gian và phản ánh đời sống văn hóa của xã hội đương thời. Theo các tư liệu còn lưu giữ tại di tích, đình Chu Quyến thờ Nhã Lang Vương (Đức Thánh Chàng), nhân vật gắn với truyền thuyết về thời Hậu Lý Nam Đế. Tương truyền, Nhã Lang Vương là người có công dẹp giặc, bảo vệ đất nước nên được nhiều làng ven sông Hồng tôn làm Thành hoàng. Hằng năm, lễ hội đình được tổ chức vào ngày rằm tháng Giêng với các nghi lễ tế thần cùng nhiều hoạt động văn hóa dân gian như đấu vật, bơi thuyền, ca hát, thu hút đông đảo nhân dân và du khách. Hiện nay, đình Chu Quyến còn lưu giữ 13 đạo sắc phong của các triều đại Lê Trung hưng, Tây Sơn và Nguyễn cùng nhiều hoành phi, câu đối, hiện vật có giá trị lịch sử. Trải qua nhiều lần tu bổ, đặc biệt là đợt trùng tu lớn từ năm 2007 đến 2009, đình vẫn giữ được vẻ đẹp cổ kính và những giá trị nguyên bản. Với những giá trị tiêu biểu về lịch sử, kiến trúc và nghệ thuật, Đình Chu Quyến là một di sản quý của Thăng Long – Hà Nội, góp phần bảo tồn nét đẹp văn hóa đình làng truyền thống và thể hiện tài năng sáng tạo của cha ông trong lịch sử dân tộc. Theo Hà Nội Danh thắng và Di tích

Hà Nội

602 lượt xem

Xếp hạng : Di tích cấp quốc gia

Mở

Đàn Xã Tắc

Đàn Xã Tắc

Đàn Xã Tắc – Di tích lịch sử "đặc biệt" của Thăng Long Đàn Xã Tắc là một di tích lịch sử quan trọng của kinh thành Thăng Long xưa, được xây dựng từ năm 1048 dưới triều vua Lý Thái Tông. Đây là nơi các vị vua phong kiến tổ chức lễ tế Thần Đất (Xã) và Thần Nông (Tắc), cầu cho quốc thái dân an, mùa màng bội thu và đất nước thịnh vượng. Trong chế độ quân chủ, Đàn Xã Tắc được xem là biểu tượng cho chủ quyền quốc gia và sự bền vững của triều đại. Năm 2006, trong quá trình thi công đường Kim Liên mới tại phường Nam Đồng, quận Đống Đa, Hà Nội, dấu tích của Đàn Xã Tắc bất ngờ được phát hiện sau hơn 200 năm bị vùi lấp. Phát hiện này có ý nghĩa đặc biệt, góp phần làm sáng tỏ quy hoạch kinh thành Thăng Long và khẳng định giá trị lịch sử của di tích. Theo sử sách, Đàn Xã Tắc được đắp bằng đất sạch lấy từ nhiều địa phương trên cả nước, thể hiện sự thống nhất lãnh thổ và tinh thần gắn kết quốc gia. Đàn gồm hai tầng hình vuông, được xây dựng theo nguyên lý ngũ hành với năm màu tượng trưng cho năm phương. Xung quanh có tường bao, hồ nước, bình phong và hệ thống bậc cấp phục vụ các nghi lễ tế tự của triều đình. Ngày nay, khu vực phát hiện Đàn Xã Tắc được đánh dấu bằng bia đá để ghi nhớ vị trí của di tích. Đây không chỉ là một di sản khảo cổ có giá trị mà còn là minh chứng quan trọng về lịch sử, văn hóa và tín ngưỡng của kinh thành Thăng Long, góp phần bảo tồn và phát huy truyền thống văn hóa của dân tộc Việt Nam. Theo BQL di tích Hoàng Thành Thăng Long

Hà Nội

543 lượt xem

Xếp hạng : Di tích cấp quốc gia

Mở

Đền Bia Bà La Khê

Đền Bia Bà La Khê

Đền Bia Bà La Khê – Di tích lịch sử, văn hóa tâm linh của Hà Nội Đền Bia Bà là một di tích lịch sử – văn hóa nằm trong quần thể Đình – Chùa – Đền Bia Bà ở phường La Khê, quận Hà Đông, thành phố Hà Nội. Đây là công trình có giá trị về lịch sử, kiến trúc và tín ngưỡng dân gian, đồng thời là điểm đến tâm linh nổi tiếng của người dân Thủ đô. Theo thần tích địa phương, đền thờ Đức Thánh Bà Trần Thị Hiền (1511–1538), người quê làng La Ninh (nay là La Khê). Tương truyền, bà là cung phi của vua Mạc Thái Tông, nổi tiếng bởi tài đức và lòng nhân hậu. Sau khi qua đời, nhân dân lập đền thờ để tưởng nhớ công lao và tôn bà làm vị thần bảo hộ cho quê hương. Trải qua nhiều thế kỷ, Đền Bia Bà trở thành nơi sinh hoạt tín ngưỡng quan trọng, gắn bó với đời sống văn hóa của người dân địa phương. Di tích mang đậm kiến trúc truyền thống của vùng đồng bằng Bắc Bộ với cổng Tam quan, sân đền, tòa Đại bái và Hậu cung được bố trí hài hòa trong không gian cổ kính. Hậu cung là nơi đặt tấm bia đá cổ ghi công Đức Thánh Bà, cũng là nguồn gốc tên gọi "Bia Bà". Cùng với đình và chùa La Khê, quần thể di tích tạo nên một không gian văn hóa đặc sắc, phản ánh lịch sử hình thành và phát triển của vùng đất Hà Đông. Không chỉ có giá trị về mặt lịch sử và kiến trúc, Đền Bia Bà còn lưu giữ nhiều phong tục, nghi lễ truyền thống của địa phương. Hằng năm, đặc biệt vào dịp đầu xuân, ngày rằm và mùng Một âm lịch, đông đảo người dân và du khách đến dâng hương, cầu bình an, tài lộc và bày tỏ lòng thành kính. Với những giá trị tiêu biểu về lịch sử, văn hóa và tín ngưỡng, Đền Bia Bà là một trong những di tích tiêu biểu góp phần gìn giữ bản sắc văn hóa của Hà Nội và là điểm đến ý nghĩa đối với du khách trong và ngoài nước. Theo Bachlien.vn tổng hợp

Hà Nội

566 lượt xem

Xếp hạng : Di tích cấp quốc gia

Mở

Đền Ghềnh

Đền Ghềnh

Đền Ghềnh - Ngôi đền linh thiêng thờ Bắc Cung Hoàng hậu Lê Ngọc Hân Đền Ghềnh, tên chữ Thiên Quang Linh Từ, tọa lạc bên bờ sông Hồng, thuộc Bồ Đề, Long Biên, Hà Nội. Đây là một trong những ngôi đền nổi tiếng của Thủ đô, không chỉ bởi kiến trúc và tín ngưỡng thờ Mẫu mà còn gắn với cuộc đời của Bắc Cung Hoàng hậu Lê Ngọc Hân – người vợ tài sắc của Hoàng đế Quang Trung. Theo truyền thuyết dân gian, sau khi Hoàng hậu Lê Ngọc Hân và hai người con qua đời, hài cốt của mẹ con bà bị triều Nguyễn quật lên và thả xuống sông Hồng. Người dân làng Ái Mộ đã âm thầm vớt, đắp mộ và lập miếu thờ để tưởng nhớ. Trải qua thời gian, miếu được mở rộng thành Đền Ghềnh như ngày nay. Trong tâm thức nhân dân, Hoàng hậu Lê Ngọc Hân được tôn kính như hóa thân của Mẫu Thoải, vị Thánh Mẫu cai quản sông nước trong tín ngưỡng thờ Mẫu Việt Nam. Ngôi đền được xây dựng vào năm 1858 trên khu đất rộng bên sông Hồng. Hệ thống thờ tự của Đền Ghềnh mang nhiều nét riêng so với các đền Mẫu khác. Chính điện đặt tượng Hoàng hậu Lê Ngọc Hân ở vị trí trung tâm, cùng nhiều ban thờ được bài trí theo truyền thống tín ngưỡng dân gian, tạo nên không gian linh thiêng và giàu giá trị văn hóa. Hằng năm, lễ hội Đền Ghềnh được tổ chức từ mùng 6 đến 12 tháng Tám âm lịch, nổi bật với nghi lễ rước nước trên sông Hồng nhằm cầu mưa thuận gió hòa và tưởng nhớ Hoàng hậu Lê Ngọc Hân. Bên cạnh đó, tục dâng bánh đa và khế – một nét văn hóa đặc sắc của ngôi đền – vẫn được người dân gìn giữ qua nhiều thế hệ. Không chỉ là điểm sinh hoạt tín ngưỡng của người dân địa phương, Đền Ghềnh còn lưu giữ nhiều hiện vật có giá trị như chuông đồng thời Tự Đức, kiệu Long đình, kiệu Mẫu, cùng hệ thống hoành phi, câu đối ca ngợi công đức của Hoàng hậu Lê Ngọc Hân và vẻ đẹp của vùng đất bên sông Hồng. Ngày nay, Đền Ghềnh là điểm đến văn hóa – tâm linh tiêu biểu của Hà Nội, thu hút đông đảo du khách và người hành hương đến tham quan, chiêm bái. Nguồn: Hà Nội Danh thắng và Di tích

Hà Nội

537 lượt xem

Xếp hạng : Di tích cấp quốc gia

Mở

Di tích cách mạng nhà số 5D Hàm Long

Di tích cách mạng nhà số 5D Hàm Long

Di tích cách mạng nhà số 5D Hàm Long tọa lạc tại phường Phan Chu Trinh, quận Hoàn Kiếm, thành phố Hà Nội. Đây là địa điểm ghi dấu sự kiện thành lập Chi bộ Cộng sản đầu tiên ở Việt Nam vào cuối tháng 3 năm 1929, một mốc son quan trọng trong lịch sử cách mạng nước ta, mở đường cho sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam. Theo Bảo tàng Lịch sử Quốc gia, từ cuối năm 1928, phong trào đấu tranh của giai cấp công nhân và xu hướng cộng sản ở Việt Nam phát triển mạnh mẽ. Trước yêu cầu của thực tiễn cách mạng, những hội viên tiên tiến của Hội Việt Nam Thanh niên Cách mạng Đồng chí hội đã bí mật họp tại nhà số 5D Hàm Long để thành lập Chi bộ Cộng sản đầu tiên. Cuộc họp diễn ra vào một đêm cuối tháng 3 năm 1929 với sự tham gia của các đồng chí Ngô Gia Tự, Nguyễn Đức Cảnh, Trần Văn Cung, Trịnh Đình Cửu, Đỗ Ngọc Du, Dương Hạc Đính và Nguyễn Tuân. Đồng chí Nguyễn Phong Sắc do bận công tác đột xuất nên vắng mặt nhưng đã gửi ý kiến tán thành nghị quyết và được công nhận là thành viên chính thức của chi bộ. Đồng chí Trần Văn Cung (bí danh Quốc Anh) được bầu làm Bí thư Chi bộ. Tại cuộc họp, Chi bộ đã xác định những nhiệm vụ trọng tâm như xúc tiến thành lập Đảng Cộng sản, phát triển các tổ chức công hội, nông hội và đẩy mạnh truyền bá chủ nghĩa Mác – Lênin. Sự ra đời của Chi bộ Cộng sản đầu tiên tại 5D Hàm Long đã tạo tiền đề trực tiếp cho việc thành lập Đông Dương Cộng sản Đảng ngày 17/6/1929 và tiến tới thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam đầu năm 1930. Ngôi nhà số 5D Hàm Long vốn là một căn nhà một tầng trong dãy nhà 5A, 5B, 5C, 5D của một gia đình tư sản cho thuê. Nhà có diện tích khoảng 24m², phía sau có sân nhỏ, bếp và khu vệ sinh. Đặc biệt, căn nhà nằm sát một ngõ nhỏ thông ra phố Lê Văn Hưu, tạo điều kiện thuận lợi cho các cán bộ cách mạng bí mật rút lui khi cần thiết. Cuối năm 1928, Kỳ bộ Bắc Kỳ của Hội Việt Nam Thanh niên Cách mạng Đồng chí hội đã thuê căn nhà này làm cơ sở hoạt động bí mật và giao cho đồng chí Trần Văn Cung cùng vợ là Nguyễn Thị Liên trực tiếp quản lý. Trong ngôi nhà đơn sơ, bộ tràng kỷ, chiếc hòm hai đáy dùng để cất giấu tài liệu, chiếc đèn dầu cùng nhiều vật dụng sinh hoạt giản dị đã trở thành những chứng tích lịch sử gắn với quá trình chuẩn bị thành lập Đảng. Ngày 25/11/1959, ngôi nhà được khôi phục thành nhà lưu niệm, trưng bày nhiều tài liệu và hiện vật gắn với sự ra đời của Chi bộ Cộng sản đầu tiên. Năm 1964, di tích được công nhận là Di tích cách mạng Hà Nội. Đến năm 2000, công trình tiếp tục được tu bổ nhằm khôi phục diện mạo như thời điểm diễn ra cuộc họp lịch sử tháng 3 năm 1929. Ngày nay, di tích 5D Hàm Long do Bảo tàng Hà Nội quản lý, là địa chỉ đỏ có ý nghĩa đặc biệt trong giáo dục truyền thống cách mạng, góp phần giúp các thế hệ hôm nay hiểu rõ hơn về quá trình hình thành tổ chức cộng sản đầu tiên và sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam. Nguồn: Bảo tàng Lịch sử Quốc gia.

Hà Nội

124 lượt xem

Xếp hạng : Di tích cấp quốc gia

Mở

Đền thờ Chu Văn An

Đền thờ Chu Văn An

Đền thờ Chu Văn An tọa lạc bên dòng sông Tô Lịch, thuộc xã Thanh Liệt, huyện Thanh Trì, thành phố Hà Nội. Đây là nơi thờ Chu Văn An (1292–1370) – nhà giáo, nhà nho nổi tiếng thời Trần, người được các thế hệ suy tôn là "Vạn thế sư biểu" (người thầy của muôn đời). Theo các tư liệu lịch sử, sau khi Chu Văn An qua đời, nhân dân quê hương Thanh Liệt đã lập đền thờ và tôn ông làm Thành hoàng làng. Đến thời Lê Trung Hưng (1533–1789), đền được phối thờ thêm các vị đỗ đại khoa của địa phương nên còn mang ý nghĩa là Văn chỉ – nơi tôn vinh những người có học vấn và công lao đối với quê hương. Đền được xây dựng theo kiến trúc truyền thống kiểu chữ "Công", gồm ba hạng mục chính là nhà tiền tế, phương đình và hậu cung. Hậu cung là không gian linh thiêng nhất của di tích, nơi đặt khám thờ sơn son thếp vàng cùng bài vị thờ Chu Văn An. Trải qua nhiều lần trùng tu, đặc biệt vào dịp Đại lễ kỷ niệm 1000 năm Thăng Long – Hà Nội, ngôi đền được tu bổ khang trang nhưng vẫn giữ được nét kiến trúc cổ kính và không gian trang nghiêm. Đền hiện còn lưu giữ nhiều hiện vật có giá trị lịch sử và văn hóa như hai bức y môn, cửa võng, các hoành phi, câu đối, khám thờ, đỉnh đồng, lọ độc bình, sáu bia đá, thần phả cùng năm đạo sắc phong thời Lê và Nguyễn, phản ánh truyền thống tôn sư trọng đạo của dân tộc Việt Nam. Không chỉ là nơi tưởng niệm nhà giáo Chu Văn An, đền còn là địa điểm sinh hoạt tín ngưỡng của nhân dân địa phương và là điểm đến của nhiều học sinh, sinh viên, nhà giáo cùng du khách thập phương đến dâng hương, bày tỏ lòng biết ơn đối với người thầy mẫu mực của nền giáo dục Việt Nam. Với những giá trị nổi bật về lịch sử, văn hóa và giáo dục, năm 1989, Đền thờ Chu Văn An được xếp hạng Di tích lịch sử - văn hóa cấp quốc gia. Ngày nay, di tích không chỉ góp phần bảo tồn di sản Thăng Long – Hà Nội mà còn là biểu tượng của truyền thống hiếu học và tôn sư trọng đạo của dân tộc. Nguồn: Thông tấn xã Việt Nam

Hà Nội

620 lượt xem

Xếp hạng : Di tích cấp quốc gia

Mở

DI TÍCH LỊCH SỬ MIẾU TRUNG LIỆT

DI TÍCH LỊCH SỬ MIẾU TRUNG LIỆT

DI TÍCH LỊCH SỬ MIẾU TRUNG LIỆT Miếu Trung Liệt tọa lạc trang nghiêm trên đỉnh Gò Đống Đa, là công trình cổ kính được lập ra để tưởng nhớ các vị trung thần, nghĩa sĩ đã có công oanh liệt và tuẫn tiết để bảo vệ kinh thành. Qua cổng Nghi môn bằng gạch vồ rêu phong và sân gạch nhỏ là tới tòa Đại bái vững chãi, nổi bật với ba chữ "Trung Liệt Miếu" cùng hệ thống hoành phi, câu đối sơn son thếp vàng. Miếu được xây dựng theo lối kiến trúc chữ Đinh (\text{丁}), đầu hồi bít đốc, trên lợp ngói di cổ kính mang đậm dáng dấp nghệ thuật kiến trúc thời Nguyễn từ thế kỷ XIX (năm 1856). Dù nằm trong cùng một khuôn viên, nhưng Miếu Trung Liệt có tính chất thờ tự hoàn toàn độc lập với Gò Đống Đa. Nếu như Gò Đống Đa là chứng tích chiến trường năm 1789 gắn liền với tôn vinh Hoàng đế Quang Trung và chiến thắng quân Thanh, thì Miếu Trung Liệt lại là nơi đặc biệt lập ra để thờ phụng các vị quan yêu nước thời Nguyễn đã anh dũng hy sinh khi thực dân Pháp tấn công thành Hà Nội. Chính vì vậy, trung tâm thờ tự tại Hậu cung của miếu đặt bài vị và tượng thờ của Tổng đốc Nguyễn Tri Phương, người đã tuyệt thực đến chết sau khi thành thất thủ lần thứ nhất năm 1873, và Tổng đốc Hoàng Diệu, người đã tự vẫn dưới gốc đa cổ thụ khi thành thất thủ lần thứ hai năm 1882. Bên cạnh đó, miếu cũng phối thờ Kinh lược sứ Nguyễn Lâm cùng bài vị của vua Quang Trung để quy tụ hồn thiêng sông núi. Công trình đã được xếp hạng di tích lịch sử quốc gia, được đầu tư kinh phí trùng tu nhằm bảo tồn nguyên vẹn các giá trị kiến trúc và khí tiết kiên trung của các bậc tiền nhân. Nguồn: Hà Nội – Danh thắng và Di tích

Hà Nội

310 lượt xem

Xếp hạng : Di tích cấp quốc gia

Mở

Đền thờ Phùng Hưng

Đền thờ Phùng Hưng

Đền thờ Phùng Hưng (Bố Cái Đại Vương) được lập ở nhiều nơi trên đất nước Việt Nam, nhưng ngôi đền ở Đường Lâm (thị xã Sơn Tây, TP Hà Nội) có quy mô lớn nhất, kiến trúc độc đáo và chứa đựng nhiều giá trị lịch sử, văn hóa. Phùng Hưng là người ấp Đường Lâm. Ông là người nhân đức, có lòng yêu thương nhân dân. Phùng Hưng có hai người em là Phùng Hải và Phùng Dĩnh. Ba anh em đều có sức khỏe phi thường: Phùng Hưng đánh được hổ, vật được trâu; hai người em cõng đá nặng ngàn cân. Do vậy mà nhân dân gần xa đều kính phục, tôn Phùng Hưng là Đô Quán, Phùng Hải là Đô Bảo. Sinh vào thời đất nước bị giặc ngoại xâm, họ đã sớm hình thành ý chí đánh đuổi giặc, giành độc lập, tự chủ. Họ chiêu mộ nghĩa quân hào kiệt, dấy binh nổi dậy ở Đường Lâm chống lại ách thống trị của nhà Đường. Khi nghĩa quân đánh thành Tống Bình, tướng địch là Cao Chính Bình thất bại, lo lắng mà chết. Phùng Hưng nắm giữ phủ thành, tổ chức việc chính trị, xây dựng nền độc lập tự chủ cho đất nước trong 7 năm. Sau khi ông mất, nhân dân nhớ ơn và suy tôn ông là Bố Cái Đại Vương. Tại quê hương Phùng Hưng là thôn Cam Lâm, xã Đường Lâm, thị xã Sơn Tây, thành phố Hà Nội, nhân dân đã lập đền để tôn thờ ông. Quy mô hiện nay của ngôi đền được hình thành sau đợt sửa chữa, trùng tu lớn vào thế kỷ XIX, gồm các hạng mục: cổng nghi môn, tả hữu mạc, đại bái và hậu cung. Cổng nghi môn được xây dựng đơn giản, có chức năng ngăn cách thế giới tâm linh với cuộc sống trần tục. Qua cổng là hai dãy tả hữu mạc, mỗi dãy ba gian, các bộ vì kèo được thiết kế thông thoáng, thuận tiện cho các sinh hoạt cộng đồng. Đại bái gồm ba gian hai dĩ, hai mái lợp ngói ri. Các bộ vì được kết cấu trên bốn hàng chân cột, liên kết theo lối: “Thượng giá chiêng rường nách, hạ kẻ chuyền, bảy hiên”. Hoa văn trang trí trên các cấu kiện kiến trúc khá giản dị, chủ yếu tập trung ở đầu dư, kìm chạm hình rồng, rường nách chạm vân mây, lá lật, các kẻ và bẩy bào soi chạm lá kết hợp với những dải mây cách điệu. Hậu cung gồm ba gian, xây theo kiểu tường hồi bít đốc. Các cấu kiện kiến trúc thiên về sự bền chắc, trang nghiêm và tôn kính đối với vị anh hùng được thờ phụng. Tượng đồng Phùng Hưng được đặt tại vị trí trang trọng trong hậu cung (tượng được tôn tạo vào đầu thế kỷ XXI). Quê hương Cam Lâm không chỉ có đền thờ Phùng Hưng mà còn lưu giữ nhiều địa danh gắn với cuộc đời và sự nghiệp của ông như Vũng Hàm, đồi Hổ Gầm, đồi Xà Mẫu, giếng Ngọc và rặng duối. Theo truyền thuyết, đây là những nơi anh em họ Phùng từng đánh hổ, luyện võ và tập trận trước khi khởi nghĩa chống quân đô hộ. Đền Phùng Hưng đã được Bộ Văn hóa và Thông tin xếp hạng Di tích lịch sử - kiến trúc nghệ thuật cấp quốc gia năm 1964. Nguồn: Hà Nội – Danh thắng và Di tích.

Hà Nội

572 lượt xem

Xếp hạng : Di tích cấp quốc gia

Mở

Di tích lịch sử Hang Dơi Mộc Châu

Di tích lịch sử Hang Dơi Mộc Châu

Di tích lịch sử Hang Dơi Mộc Châu Hang Dơi, còn gọi là Động Sơn Mộc Hương, nằm gần trung tâm thị trấn Mộc Châu, tỉnh Sơn La. Không chỉ nổi tiếng với vẻ đẹp kỳ vĩ của thiên nhiên, Hang Dơi còn là một di tích lịch sử - khảo cổ có giá trị, phản ánh quá trình cư trú của cư dân cổ trên vùng đất Tây Bắc cách đây hàng nghìn năm. Hang là một động đá vôi tự nhiên có diện tích khoảng 6.915 m², gồm ba khoang lớn với hệ thống nhũ đá và măng đá phong phú. Trải qua hàng triệu năm kiến tạo địa chất, thiên nhiên đã tạo nên những khối thạch nhũ mang nhiều hình dáng độc đáo như ông tiên, cô gái quay sợi, mẹ bồng con, voi, sư tử và nhiều hình tượng khác. Cùng với vẻ đẹp huyền ảo của ánh sáng tự nhiên, Hang Dơi được mệnh danh là "Tây Thiên đệ nhất động", một trong những hang động đẹp nhất vùng Tây Bắc. Giá trị đặc biệt của Hang Dơi không chỉ nằm ở cảnh quan mà còn ở phương diện lịch sử và khảo cổ học. Năm 1952, các nhà nghiên cứu đã phát hiện nhiều dấu tích của người Việt cổ tại khu vực trước cửa hang. Đến năm 1992, Bảo tàng Sơn La phối hợp với Viện Khảo cổ học Việt Nam tiến hành khảo sát và khai quật, phát hiện tầng văn hóa dày khoảng 0,5 m cùng nhiều hiện vật như rìu đá mài, mảnh tước, bi đá, mảnh gốm và các công cụ lao động bằng đá. Những phát hiện này cho thấy Hang Dơi từng là nơi cư trú của cư dân thời hậu kỳ đá mới, cách ngày nay khoảng 3.000–3.500 năm, thuộc văn hóa Hòa Bình – một nền văn hóa khảo cổ tiêu biểu trong lịch sử Việt Nam. Bên cạnh giá trị khảo cổ, Hang Dơi còn lưu giữ nhiều truyền thuyết dân gian đặc sắc của đồng bào địa phương. Tiêu biểu là truyền thuyết về Cung nhà trời và chuyện tình giữa hoàng tử Thủy Tề với công chúa trần gian. Những câu chuyện này góp phần làm phong phú thêm giá trị văn hóa, phản ánh đời sống tinh thần và trí tưởng tượng phong phú của cư dân vùng cao. Với những giá trị nổi bật về địa chất, khảo cổ, lịch sử và văn hóa, năm 1998 Hang Dơi Mộc Châu được Bộ Văn hóa – Thông tin (nay là Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch) xếp hạng là Di tích cấp quốc gia. Đây không chỉ là sự ghi nhận đối với vẻ đẹp thiên nhiên mà còn khẳng định ý nghĩa của Hang Dơi trong việc nghiên cứu lịch sử cư trú của người Việt cổ ở khu vực Tây Bắc. Ngày nay, Hang Dơi là điểm đến hấp dẫn của du khách khi đến Mộc Châu. Việc bảo tồn và phát huy giá trị của di tích không chỉ góp phần gìn giữ di sản thiên nhiên và lịch sử dân tộc mà còn giúp giáo dục truyền thống, nâng cao ý thức bảo vệ các di sản văn hóa cho các thế hệ mai sau. Theo cổng thông tin điện tử tỉnh Sơn La

Sơn La

386 lượt xem

Xếp hạng : Di tích cấp quốc gia

Mở

Đền và lăng Ngô Quyền

Đền và lăng Ngô Quyền

Đền và lăng Ngô Quyền thuộc xã Đường lâm, Thị xã Sơn Tây, Hà Nội. Thôn Cam Lâm, xã Đường Lâm, thị xã Sơn Tây, thành phố Hà Nội là mảnh đất “một ấp hai vua” (Phùng Hưng và Ngô Quyền). Ngày nay nơi đây vẫn còn lưu giữ những dấu tích, đền thờ gắn liền với tên tuổi của hai ông, trong đó đặc biệt là đền Phùng Hưng và lăng Ngô Quyền. Ngô Quyền sinh ra và lớn lên trong một gia đình mà người cha đã làm đến chức Châu Mục. Ngô Quyền là người khôi ngô, tuấn tú, tướng mạo khác thường, trí dũng song toàn, sức khoẻ hơn người. Ông sớm tinh thông võ nghệ, kiếm cung... tiếng tăm lẫy lừng. Sinh ra khi đất nước có ngoại xâm, thủa thiếu thời, ông đã làm nhiều việc thiện đức, giúp đỡ người nghèo và chiêu mộ anh tài, hào kiệt, xây dựng căn cứ, chờ ngày khởi nghĩa. Năm 938, giặc Nam Hán do Hoằng Thao đem chiến thuyền ồ ạt kéo vào nước ta phía cửa Bạch Đằng. Bằng chiến thuật quân sự, dùng cọc gỗ vót nhọn, đầu bịt sắt, Ngô Quyền và quân lính đã đánh tan đội thuỷ binh hùng mạnh của giặc cùng với tướng giặc Hoằng Thao - con vua Nam Hán. Chiến thắng oanh liệt của Ngô Quyên trên sông Bạch Đằng đã chấm dứt thời kỳ Bắc thuộc, kéo dài hơn một ngàn năm, mở ra trang sử mới độc lập, tự do lâu dài cho dân tộc ta. Ngô Quyền đã xây dựng lại đất nước, chỉnh đốn chính trị, xây dựng thành quách, định nghi lễ... bộ máy chính quyền mang tính chất độc quyền lâu dài. Đền Ngô Quyền được xây dựng lâu đời và qua nhiều lần trùng tu. Lần trùng tu lớn vào thời Nguyễn, triều Tự Đức (1848 - 1883). Cuối thế kỷ XX đã tu bổ nâng cấp đền, lăng và cảnh quan xung quanh. Quy mô đền hiện gồm các hạng mục: Nghi môn, Tả Hữu mạc, Đại bái và Hậu cung. Đại bái đền gồm 5 gian, xây kiểu tường hồi bít đốc. Các cấu kiện của bộ khung gỗ chủ yếu là bào trơn đóng bén thiên về độ vững trãi cho công trình. Hậu cung kiểu Tiền đạo hậu đốc, bộ khung trang trí đề tài tứ linh, tứ quý... tôn nghiêm, thể hiện sự kính ngưỡng đối với vị thần. Đền thờ Ngô Quyền được xây bên sườn đồi. Các đồ thờ tự như: tượng Ngô Quyền, long ngai bài vị, hương án, giá văn, lộc bình... được bài trí trong Hậu cung. Đại bái trưng bày rất nhiều hiện vật, trong đó chú ý là các cọc ngầm đóng trên sông Bạch Đằng... nói lên thân thế và sự nghiệp của Ngô Quyền. Ngay cạnh đền, phía trước là lăng Ngô Quyền, xây theo hình 4 mái trên bệ cao, có tường gạch bao quanh. Giữa lăng là ngai thờ, bên trong có bia đá “Tiền Ngô vương lăng”, niên đại Minh Mệnh thứ hai (1821). Trước lăng là những rộc sâu, tương truyền là hồ sen nơi thủa nhỏ Ngô Quyền thường cùng bạn chăn trâu, bởi lặn và tập trận. Phía sườn đồi là những rặng duối, tương truyền là nơi Ngô Quyền buộc dây cột voi vào gốc duối. Đền và lăng Ngô Quyền đã được Bộ Văn hoá và Thông tin xếp hạng di tích lịch sử, kiến trúc nghệ thuật năm 1964. Theo Hà Nội Danh thắng và Di tích

Hà Nội

656 lượt xem

Xếp hạng : Di tích cấp quốc gia

Mở

Am Mỵ Châu

Am Mỵ Châu

Am Mỵ Châu còn được gọi là am Bà Chúa hay đền thờ Mỵ Châu nằm ở phía Tây đình Ngự Triều Di Quy. Phía trước am thờ có một cây đa tương truyền là do Ngô Quyền đã trồng. Cây đa này rất lớn nên thường gọi là cây đa nghìn tuổi, nay không còn nữa, chỉ còn lại một vòm cửa xây gạch là dấu tích dưới vòm của những rễ đa khi xa. Khu am thờ là một kiến trúc gồm 2 phần chính. Tiền tế là một ngôi nhà được xây dựng bằng gỗ 3 gian, tường hồi bít đốc, mái lợp ngói ta. Các bộ vì được làm theo kiểu “thượng giá chiêng, hạ chồng rường, kẻ bẩy”. Tất cả các cấu kiện đều không có chạm khắc hoa văn gì mà chỉ bào soi. Kiến trúc này có niên đại muộn (cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX). Trên thượng lương có dòng chữ Hán ghi rõ niên đại tu bổ: Việt Nam dân chủ cộng hoà, tuế thứ Quý Sửu (1973). Hậu cung là 1 toà nhà xoay dọc, kết cấu chịu lực chính là các bức tường xây bao 3 mặt chỉ để 2 cửa bên thông với tiền tế. Tại tiền tế 2 bên trụ đầu hồi nhà có đắp ngoã đôi câu đối: Trung tín nhất tâm chiêu nhật nguyệt; linh quang vạn cổ đẳng càn khôn (tạm dịch: một lòng trung tín tựa trăng sao; anh linh sáng sủa mãi mãi như trời đất). Tại gian giữa có ban thờ gọi là “hương án tiền”, phía trên có bức cuốn thư đề 4 chữ Hán: Tốn cung diên tuý (cung thờ người con gái ) và có 4 đôi câu đối ở khu vực này nói về lòng trung tín của công chúa Mỵ Châu. Đôi câu đối tại cột cái cạnh hương án: trung tín thệ tâm thân hoá thạch; hưng vong sái lệ vọng trầm châu (lòng trung tín trong tâm đã thề nên thân hoá đá; dòng nước mắt khóc về sự thịnh suy kết thành châu ngọc dưới giếng sâu). Bên cạnh đó một đôi câu đối khác: Phái diễn ngàn hoàng trịnh liệt cao huyền thiên cổ kính; ba trừng ngọc tỉnh hiển linh quang bạch nhất sinh tâm (dòng dõi của nàng là con Lạc cháu Hồng, tấm lòng trinh liệt được nêu gương từ xa đến nay; giếng ngọc toả ánh sáng thiêng liêng tỏ rõ tấm lòng thành). Đi tiếp vào phía trong, trước hậu cung có ban thờ “thập nhị cô” - những người hầu cận của công chúa. Có đôi câu đối trên trụ 2 bên ban thờ: Thiên tải thượng thị gia phi thuỳ năng biệt chi quy chảo nỗ cơ truyền ngoại sử; ngũ luân chung phụ giữ phu quả thục dân giã bạng khai tỉnh thuỷ đội thâm tình (ngàn năm đã qua cái đúng cái sai ai có thể biện minh được, cái móng rùa làm nẫy nỏ thần thì cũng chỉ là truyền thuyết; trong ngũ luân, cha và chồng ai là người thân hơn chỉ có ngọc trai và nước giếng ngọc mới chứng tỏ được thôi). Hậu cung là nơi có đặt ban thờ bà chúa Mỵ Châu. Trên có đặt ngai thờ. Gian trong cùng là nơi đặt tượng đá. Đây chính là “tượng đá Mỵ Châu” đã được kể trong truyền thuyết. Có thể kể thêm rằng: nơi mà Mỵ Châu bị vua cha chém đầu là đèo Mộ Dạ thuộc tỉnh Nghệ An ngày nay nhưng theo câu truyện truyền thuyết thì tượng hoá đá trôi về tận chân thành Ngoại. Tại Nghệ An hiện nay cũng có đền thờ An Dương Vương, cạnh đó là am thờ Mỵ Châu. Địa điểm đó gọi là Núi Cuông, nay đền ở trên đỉnh núi, còn được gọi là đền Cuông. Theo BQL Di tích Thành Cổ Loa

Hà Nội

552 lượt xem

Xếp hạng : Di tích cấp quốc gia đặc biệt

Mở

Di tích nổi bật

Xem tất cả
Khu di tích Láng Le Bàu Cò

Khu di tích Láng Le Bàu Cò

Khu di tích Láng Le Bàu Cò tọa lạc tại xã Tân Nhựt, huyện Bình Chánh, Tp HCM. Láng Le Bàu Cò gắn liền với cuộc kháng chiến chống Pháp xâm lược vào năm 1948 với những trận đánh lớn đi vào lịch sử. Di tích Láng Le Bàu Cò được công nhận là di tích lịch sử cấp thành phố vào năm 2003. Sở dĩ được gọi tên là khu di tích Láng Le Bàu Cò vì Tên gọi của khu di tích Láng Le Bàu Cò là do người dân địa phương đặt ra. Xóm làng được thành lập cạnh những con kênh rạch chằng chịt và dòng sông. Láng Le Bàu Cò có vị trí nằm ở bên trong cánh đồng có diện tích rộng lớn và có rất nhiều tôm, cua, cá. Cùng với nhiều loài chim như vịt trời, cò, con le le, cúm núm, cồng cộc, đa đa, diệc, đỏ nách tới kiếm ăn tại đây. Vì vậy, người dân Tân Nhựt gọi với cái tên thân thuộc và mộc mạc đó là Láng Le Bàu Cò. Di tích Láng Le Bàu Cò được xem là cửa ngõ để di chuyển tới trung tâm căn cứ Vườn Thơm và tấn công cơ quan đầu não của quân địch tại Sài Gòn. Trước đây khu di tích Láng Le Bàu Cò vốn là cánh đồng lau sậy mọc um tùm. Vào ngày 15/4/1948 thực dân Pháp đưa 3 nghìn quân lính cùng nhiều vũ khí hiện đại đồng loạt tấn công khu vực Láng Le Bàu Cò nhằm tiêu diệt căn cứ Vườn Thơm. Khi đó lực lượng vũ trang cách mạng ở Láng Le - Bàu vì lực lượng nhỏ và vũ khí thô sơ tuy nhiên được sự giúp đỡ của người dân địa phương cùng với lợi thế về địa hình. Chỉ sau hơn nửa ngày đấu tranh đã chuyển sang tấn công khiến quân Pháp bị thương vong với số lượng lớn. Chiến thắng Láng Le Bàu Cò đã tiêu diệt 300 tên địch và bắt sống 30 lính đánh thuê cùng phá hủy nhiều máy móc, xe nhà binh, súng các loại của quân giặc. Tuy nhiên, về phía ta có nhiều cán bộ chiến sĩ đã anh dũng hy sinh với tuổi đời còn rất trẻ. Ngày 14/10/1966 tại Láng Le tiểu đoàn biệt động quân Việt Nam Cộng Hòa bị dân quân du khách tiêu diệt. Khu di tích Láng Le Bàu Cò có ý nghĩa lịch sử to lớn đối với người dân Sài Gòn nói riêng và cả nước nói chung. Trước lòng căm thù thực dân Pháp, quân dân Láng Le Bàu Cò đã có cuộc chiến vang lừng lịch sử và có ý nghĩa to lớn mở đầu cho phía ta và phía địch. Đối với phía ta trận đánh mở đầu cho sự anh dũng trong tư thế kháng chiến vững mạnh. Còn với quân địch đã phải lùi vào thế bỏ chiến lược và bị tiêu diệt. Thực dân Pháp không còn định hình được chiến lược đánh bại Việt Minh. Hơn thế, tại căn cứ Vườn Thơm, Láng Le Bàu Cò còn diễn ra trận chiến quyết tâm bảo vệ căn cứ của ta và đập tan mọi kế hoạch phá hoại của quân giặc. Khu di tích Láng Le Bàu Cò sau phong trào Đồng Khởi vào năm 1960 còn là hậu cần, bàn đạp của lực lượng vũ trang để giải phóng Long An - Sài Gòn - Gia Định. Để tưởng nhớ sự hy sinh của đồng bào và các chiến sĩ của ta, vào năm 1988 huyện Bình Chánh đã xây dựng công trình lịch sử tại vùng đất Láng Le Bàu Cò với diện tích rộng 1000m2. Nguồn: Báo thông tin điện tử TP Hồ Chí Minh

TP Hồ Chí Minh

17570 lượt xem

Xếp hạng : Di tích cấp thành phố

Mở

Di Tích Lịch Sử Nhà Lao Tân Hiệp

Di Tích Lịch Sử Nhà Lao Tân Hiệp

Nhà lao Tân Hiệp còn có tên là "Trung tâm cải huấn Tân Hiệp" tọa lạc ở khu phố 6, phường Tân Tiến, TP Biên Hòa. Di tích Nhà lao Tân Hiệp đã được Bộ Văn Hoá Thể Thao xếp hạng là di tích cấp quốc gia ngày 15-1-1994. Nhà lao Tân Hiệp là một trong sáu nhà tù lớn nhất miền Nam Việt Nam và là nhà tù lớn nhất vùng Đông Nam bộ, được xây dựng ở vị trí quân sự quan trọng, án ngữ phía đông bắc thị xã Biên Hòa. Phía trước là quốc lộ 1; phía sau là đường xe lửa Bắc - Nam. Đây là vị trí biệt lập, thuận tiện trong giao thông, dễ dàng cho việc bảo vệ, canh gác, nhận tù từ nơi khác đến và chuyển tù đi Côn Đảo, Phú Quốc... Nhà lao Tân Hiệp có diện tích 46.520m2 với 8 trại giam, trong đó có 5 trại giam những người tù cộng sản, người yêu nước. Xung quanh nhà tù được bao bọc bởi 4 lớp kẽm gai bùng nhùng với 9 lô cốt, 3 tháp canh cùng đội lính bảo vệ và hệ thống báo động tối tân. Mang tên "Trung tâm cải huấn" nhưng thực chất bên trong là kho súng, phòng xét hỏi, tra tấn với những dụng cụ hiện đại bậc nhất. Mỗi trại giam chỉ có diện tích gần 200m2 nhưng giam giữ từ 300-400 người, có lúc lên đến cả ngàn người. Đặc biệt ở đây có các phòng "cải hối", "chuồng cọp" rất nhỏ hẹp và điều kiện sinh hoạt cực kỳ khắc nghiệt, tù nhân sống chẳng khác gì trong lò thiêu xác. Chế độ ăn uống cực kỳ mất vệ sinh, bọn cai ngục mua gạo mục, cá thối dùng để bón ruộng, chiên bằng dầu luyn cho tù nhân ăn dẫn đến nhiều người bị ngộ độc. Với quyết tâm thoát khỏi nhà tù đế quốc, trở về với Đảng, với nhân dân để tiếp tục chiến đấu, giải phóng dân tộc, ngày 2-12-1956, được sự nhất trí của Liên Tỉnh ủy miền Đông, những chiến sĩ cộng sản bị "câu lưu" trong nhà lao Tân Hiệp dưới sự chỉ đạo trực tiếp của đồng chí Nguyễn Trọng Tâm (Bảy Tâm) - phụ trách Đảng ủy nhà tù và một số đồng chí khác đã bất thần làm một cuộc phá xiềng tập thể giải thoát gần 500 đồng chí, đồng bào yêu nước. Sự kiện này đã làm xôn xao cả Lầu Năm Góc. Mỹ - Diệm vội vã huy động cả quân chủ lực lẫn bảo an, dân vệ đang trấn thủ 3 tỉnh Biên Hòa, Bà Rịa, Thủ Dầu Một và hai biệt đoàn biệt động quân đến bủa lưới bao vây, truy bắt đoàn tù nhưng đều thất bại. Các đồng chí, đồng bào của ta thoát khỏi nhà lao Tân Hiệp đã được sự giúp đỡ, che chở của các cơ sở địa phương, trở về căn cứ an toàn. Trong số tù nhân vượt ngục có các đồng chí: Bảy Tâm, Hai Thông, Lý Văn Sâm... đã trở thành những hạt nhân nòng cốt cho phong trào Đồng Khởi sau này. Năm 2001, để tái hiện phần nào tội ác của Mỹ - Diệm đối với các đồng chí, đồng bào ta bị giam cầm tại nhà lao Tân Hiệp và diễn tả lại toàn bộ cuộc nổi dậy phá khám Tân Hiệp ngày 2-12-1956, Bảo tàng Đồng Nai đã tiến hành sưu tầm hình ảnh, tài liệu, hiện vật trưng bày tại di tích và làm một sa bàn để phục vụ nhu cầu nghiên cứu, tham quan của mọi tầng lớp nhân dân. Hàng ngày, di tích luôn mở cửa đón khách tham quan. Nguồn: Báo Đồng Nai Điện Tử

Đồng Nai

16050 lượt xem

Xếp hạng : Di tích cấp quốc gia

Mở

Đền thờ Nguyễn Hữu Cảnh

Đền thờ Nguyễn Hữu Cảnh

Đền thờ Nguyễn Hữu Cảnh còn gọi là đình Bình Kính tọa lạc bên tả ngạn sông Đồng Nai, xưa kia thuộc ấp Bình Kính, thôn Bình Hoành, tổng Trấn Biên, nay là ấp Nhị Hòa, xã Hiệp Hòa, TP Biên Hòa, đã được Bộ Văn Hoá – Thông Tin – Thể Thao & Du Lịch xếp hạng là di tích lịch sử cấp quốc gia ngày 25-3-1991. Đền thờ Nguyễn Hữu Cảnh được xây dựng vào khoảng cuối thế kỷ 18, ban đầu ngôi đền có qui mô nhỏ, vách làm bằng ván, mái ngói âm dương, cách ngôi đền hiện tại khoảng 400m về hướng Nam. Các tư liệu cho biết: ngôi đền được xây dựng lại lần đầu tiên vào năm Tự Đức thứ tư (1851); đến năm 1923, đền được tái thiết lại ở địa điểm hiện nay. Nguyễn Hữu Cảnh sinh vào năm 1650 tại Gia Miêu, huyện Tống Sơn, tỉnh Thanh Hóa trong một gia đình có nhiều bậc danh tướng đương triều. Ông là người văn võ song toàn, lập được nhiều chiến công lớn và được chúa Nguyễn tin yêu, trọng vọng. Mùa Xuân năm Mậu Dần (1698), ông vâng lệnh chúa Nguyễn vào kinh lược xứ Đàng Trong khi ấy còn rất hoang vu. Đến đất Đồng Nai, ông đặt Đại bản doanh ở Cù lao Phố (nay là xã Hiệp Hòa); lấy đất Đồng Nai làm huyện Phước Long, dựng dinh Trấn Biên, lấy xứ Sài Gòn làm huyện Tân Bình, dựng dinh Phiên Trấn, đất đai mở mang ngàn dặm. Ông chiêu mộ lưu dân đến lập nghiệp, tổ chức bộ máy hành chính từng bước có qui củ, khuyến khích khai hoang, thúc đẩy Cù lao Phố phát triển thành một trong những cảng thị sầm uất, năng động nhất đàng Trong suốt thế kỷ 18 và chính thức sáp nhập vùng đất mới phương Nam vào bản đồ Đại Việt. Sau khi kinh lược phương Nam trở về, năm sau ông lại phụng mệnh chúa Nguyễn Phúc Chu thống lĩnh đại binh dẹp vua Chân Lạp giữ vững miền biên ải phương Nam. Tháng 4 năm Canh Thìn (1700), sau khi hoàn thành sứ mệnh, trên đường trở về đến Rạch Gầm (Tiền Giang) thì ông thọ bệnh qua đời nhằm ngày 16 tháng 5 âm lịch, thọ 51 tuổi. Trên đường di quan ông về quê an táng, quan tài của ông được đình lại khu đất khi xưa ông đặt Đại bản doanh ở Cù lao Phố để cho nhân dân địa phương có dịp bái biệt ông lần cuối. Nơi đình quan đã được nhân dân địa phương xây một ngôi mộ vọng để ghi nhớ sự kiện này. Khi hay tin Nguyễn Hữu Cảnh mất, Chúa Nguyễn vô cùng thương tiếc đã phong tặng ông là Thượng đẳng công thần đặc Trấn phủ Chưởng cơ với tước: Lễ Thành Hầu và đưa bài vị của ông vào thờ tại Thái miếu. Nguồn: Báo Đồng Nai Điện Tử

Đồng Nai

14348 lượt xem

Xếp hạng : Di tích cấp quốc gia

Mở

Di tích chiến thắng La Ngà

Di tích chiến thắng La Ngà

Di tích chiến thắng La Ngà (tại km số 104-112 trên quốc lộ 20 đi Đà Lạt, thuộc xã Phú Ngọc, huyện Định Quán) được Bộ Văn hóa xếp hạng di tích lịch sử cấp quốc gia ngày 12-12-1986. Để cổ vũ cho chiến thắng Việt Bắc thu - đông 1947 và cũng để giáng cho kẻ thù một đòn chí mạng, Ban chỉ huy chi đội 10 đã quyết định phải tổ chức một trận đánh lớn, để quân giặc thấy rằng dân tộc Việt Nam, con người Việt Nam không dễ dàng chịu khuất phục trước bất kì một kẻ thù nào; Bằng tinh thần quả cảm và sự khôn khéo sau gần nửa năm chuẩn bị, nghiên cứu địa hình, chọn địa điểm: vào lúc 15 giờ 12 phút ngày 1/3/1948 trận chiến phục kích La Ngà bắt đầu và kết thúc vào lúc 15 giờ 57 phút cùng ngày, chỉ trong vòng 45 phút. Chiến thắng La Ngà đã làm nức lòng nhân dân Định Quán nói riêng, quân dân Đồng Nai nói chung. Đây là chiến thắng thể hiện sự mưu trí, dũng cảm của quân và dân ta làm cho địch một phen kinh hồn, bạt phía. Từ chiến thắng này lực lượng ta ngày càng thêm lớn mạnh, góp phần đánh bại kế hoạch đánh nhanh, thắng nhanh của địch, buộc chúng phải rơi vào thế bị động. Quần thể danh thắng đá Chồng, Thác Mai, sông La Ngà và Tượng đài chiến thắng La Ngà là một quần thể du lịch kì thú của Định Quán. Vẻ đẹp kỳ thú của Hòn Ba Chồng, Núi Đá Voi, Hòn Dĩa, cùng với ngôi chùa thiên nhiên dưới chân núi đá là những cụm tiêu biểu tạo thành cảnh đẹp hài hòa cho khu danh thắng Đá Chồng. Quần thể Đá Chồng Định Quán còn là nơi lưu lại những dấu tích của cuộc sống người tiền sử. Tại đây dưới các mái đá, ven các khe suối và cả các sườn dốc ven thung lũng đã phát hiện nhiều công cụ sản xuất, sinh hoạt của người xưa bằng đá, đồng, đất nung. Trong suốt cuộc kháng chiến dài 30 năm. Định Quán là một phần quan trọng của Chiến khu Đ. Đá Chồng đã chứng kiến sự hình thành, phát triển, trú quân, triển khai chiến đấu của lực lượng cách mạng. Ngày nay, một phần đất của khu danh thắng Đá Chồng Định Quán đã được sử dụng, xây dựng thành khu Trung tâm văn hóa thể thao huyện Định Quán. Tương lai không xa khu danh thắng Đá Chồng Định Quán sẽ được đầu tư tôn tạo góp phần làm cho cảnh quan thiên nhiên ngày càng tươi đẹp, là địa điểm du lịch sinh thái hấp dẫn. Nguồn: Uỷ Ban Nhân Dân Huyện Định Quán

Đồng Nai

14197 lượt xem

Xếp hạng : Di tích cấp quốc gia

Mở

Tháp cổ Chót Mạt

Tháp cổ Chót Mạt

Di tích Lịch sử-Văn hóa Tháp Chót Mạt, tọa lạc ấp Xóm Tháp, xã Tân Phong, huyện Tân Biên, tỉnh Tây Ninh, được Bộ Văn hóa Thông tin (nay là Bộ Văn hóa Thể thao và Du lịch) công nhận là di tích lịch sử - văn hóa ngày 23 tháng 7 năm 1993. Đồng thời là một trong ba công trình tháp cổ cuối cùng còn lại ở miền Nam nước ta. Trải qua nhiều lần trùng tu vào các năm 1938, 2003 và gần đây nhất là vào năm 2013. Mặc dù trải qua các đợt trùng tu tôn tạo, nhưng khu di tích tháp cổ Chót Mạt đã mang cho mình một diện mạo mới nhưng vẫn giữ nguyên được tinh thần kiến trúc cổ. Toàn bộ tòa Tháp được xây dựng bằng gạch và đá phiến với phần đỉnh tháp nhọn dần lên, từ mặt đất lên nơi cao nhất của đỉnh tháp được ước tính là 10m. Ngoài ra, ngọn tháp cổ này nằm trên gò đất cao giữa cánh đồng nên nhìn từ xa nó tựa như ngọn bút đang vươn lên cao dần. Năm 2003 Uỷ ban nhân dân tỉnh Tây Ninh quyết định phê duyệt dự án đầu tư trùng tu tôn tạo bảo tồn di tích tháp Chót Mạt và được tiến hành triển khai trùng tu tôn tạo phục hồi, trưng bày mở hố khai quật năm 2003 đưa vào sử dụng. Ngày 27/11/2019 UBND tỉnh ban hành Quyết định Quy định về phân cấp quản lý, bảo vệ và phát huy giá trị di tích lịch sử văn hóa và danh lam thắng cảnh trên địa bàn tỉnh Tây Ninh. Quyết định giao UBND huyện Tân Biên trực tiếp quản lý 4 di tích, trong đó có di tích cấp Quốc gia di tích Lịch sử- văn Hóa Tháp Chót Mạt. Đặc biệt Di tích Lịch sử-Văn hóa Tháp Chót Mạt trên địa bàn xã Tân Phong, huyện Tân Biên được chọn nằm trong chũi liên kết phát triển du lịch của Tỉnh Tây Ninh. Đây là một địa điểm tham quan rất đáng để khám phá, góp phần phát triển du lịch trên địa bàn xã Tân Phong nói riêng và huyện Tân Biên nói chung. Nguồn: Cổng thông tin điện tử tỉnh Tây Ninh

Tây Ninh

13960 lượt xem

Xếp hạng : Di tích cấp quốc gia

Mở

Dinh Quận Hóc Môn

Dinh Quận Hóc Môn

Dinh Quận Hóc Môn tọa lạc tại số 1, đường Lý Nam Đế, thị trấn Hóc Môn, (cạnh trụ sở UBND huyện) là nơi để lại nhiều sự kiện đấu tranh nổi bật suốt chặng đường dài lịch sử từ 1885 đến ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng của Nhân dân 18 Thôn vườn trầu. Sau khi hạ được Đại đồn Chí Hòa, thực dân Pháp xây dựng tại nơi đây một ngôi nhà gỗ cao 3 tầng dùng làm Đồn binh. Khi tên Trần Tử Ca về nhậm chức Đốc Phủ, dùng Đồn làm Dinh huyện Bình Long. Vốn là một tay say quỷ quyệt của thực dân Pháp, Trần Tử Ca bị nhóm do các ông Phan Văn Hớn (Quản Hớn) và Nguyễn Văn Quá (Chánh Lãnh Binh) cầm đầu gần 1.000 nghĩa quân tiến về đốt Dinh Quận, bắt và cắt đầu bêu giữa chợ. Đó là ngày 8/2/1885 Tết Ất Dậu. Sau đó, Dinh Quận Hóc Môn được xây dựng lại với nền móng đá xanh, tường gạch, có hệ thống phòng thủ từ lầu cao đến tận vòng rào. Lối kiến trúc y như Đồn binh nên người địa phương gọi là Đồn Hóc Môn. Trấn nhậm thay Trần Tử Ca là Đốc phủ Ngôn, đến Quận Trà rồi Quận Thọ. Đây là khoảng thời gian dài người dân vùng Hóc Môn hứng chịu bao cảnh tham tàn, bỉ ổi của thực dân Pháp và bọn tay sai đầu sỏ kể trên. Với truyền thống kiên cường bất khuất của Nhân dân Hóc Môn. Ngày 4/6/1930, khoảng 6 giờ sáng trước Dinh Quận, hàng trăm bà con Hóc Môn kéo biểu tình đòi “bãi bỏ thuế thân, giảm các thuế môn bài và thuế chợ, cấp đất cho dân cày nghèo”. Quận Trà cho mời những người cầm đầu vào Dinh thương lượng, nhưng chúng xảo quyệt bắt giữ họ trong đó có ông Lê Văn Uôi (Bí thư xã Tân Thới Nhì), là người cầm đầu cuộc biểu tình. Mọi người không nao núng, quyết liệt đòi hỏi Quận Trà phải thả những người bị cầm giữ. Đoàn biểu tình càng lúc càng đông, khí thế đấu tranh có phần lan rộng, khiến Quận Trà nhượng bộ. Một mặt chúng thả những người bị giữ, mặc khác chúng gọi điện cho quan thầy ở Sài Gòn cứu viện. 2 giờ sau, cuộc đấu tranh bị 2 tên Blachôlê và Nobbot chỉ huy bắn xối xả vào đoàn biểu tình, gây thương vong nhiều người. Nhưng sự kiện lịch sử gây ấn tượng nhất tại Dinh Quận Hóc Môn là cuộc khởi nghĩa Nam kỳ ngày 23/11/1940. Đồn Hóc Môn rất kiên cố, xây bằng đá xanh như là một pháo đài, cao khoảng 15 thước, có ụ súng và hệ thống phòng thủ lỗ châu mai do một trung đội lính khố xanh trấn giữ. Ngày 22/11/1940, Pháp tăng cường thêm 1 trung đội để đối phó với tình hình. Chiều 22/11/1940, cánh quân của ông Đỗ Văn Cội đột nhập vào thị trấn, giả dạng thường dân, phục kích sau lưng Đồn chờ lệnh cướp Đồn. Một cánh quân khác có nhiệm vụ phá cầu, đốn cây ngăn lộ, đánh chiếm các công sở, nhà việc... Cánh quân từ Phước Vĩnh An, Tân Thông, Tân An Hội, Tân Phú Trung do ông Phạm Văn Sáng và Đặng Công Bỉnh chỉ huy, xuất phát từ ấp Bến Đò, đánh chiếm nhà việc, diệt 1 tên, thu 4 súng, làm chủ tình hình tại đây (Tân Phú trung). Liền đó cánh quân này được lệnh kéo về Hóc Môn. Cánh quân Long Tuy Thượng do ông Bùi Văn Hoạt chỉ huy. Cánh quân thuộc Tổng Long Tuy Trung do ông Đỗ Văn Dậy và Lê Bình Đẳng chỉ huy. Khoảng 24 giờ đêm ngày 22/11/1940, vẫn chưa nghe thấy tiếng pháo lệnh ở Sài Gòn. Sau khi hội ý, các vị chỉ huy những cánh quân thống nhất tấn công Đồn giặc. Lập tức các cánh quân tiến thẳng về Đồn Hóc Môn, nơi trú ngụ của tên Quận trưởng Bùi Ngọc Thọ. 2 nghĩa quân tên Nghé và Kinh xung phong vào cổng trước, hy sinh. Nghĩa quân bốn phía xông vào Đồn như nước vỡ bờ. Trước sức mạnh của nghĩa quân và quần chúng, bọn lính trong Đồn không còn tinh thần kháng cự, bỏ chạy tán loạn. Nghĩa quân chiếm lĩnh hoàn toàn bên trong Đồn nhưng trên lầu, địch vẫn ngoan cố dùng súng bắn tẻ, cùng lúc gọi điện về Sài Gòn, Thủ Dầu Một cấp cứu. Vì nóng lòng bắt cho được tên Quận Thọ nên đồng chí Đỗ Văn Dậy bám ống máng nước để leo lên tầng trên Đồn. Đến lưng chừng bị trúng đạn, đồng chí bị rơi xuống và hy sinh sau đó. Cuộc chiến đấu đang thế giằng co thì viện binh địch đến. Không thể cầm cự, nghĩa quân rút khỏi thị trấn, phân tán về các làng, lực lượng vũ trang rút về ấp Bến Đò (Tân Phú Trung) rồi di chuyển sang ấp Mỹ Hạnh (Đức Hòa). Cuộc tiến công Đồn Hóc Môn (sau gọi là Dinh Quận Hóc Môn) tuy thất bại nhưng đã để lại ấn tượng sâu sắc trong lòng mọi người dân sự khâm phục lòng dũng cảm của các chiến sĩ cách mạng trong cuộc chiến đấu chống thực dân cướp nước. Trong chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, 7 giờ sáng ngày 30/4/1975, thị trấn Hóc Môn hoàn toàn được giải phóng, lá cờ Tổ quốc phất phới bay trên Dinh Quận, nơi tên Quận trưởng Nguyễn Như Sang và bọn tay sai đã chạy trốn từ tối đêm trước. Ngày nay Dinh Quận Hóc Môn được chọn làm Bảo tàng huyện, nơi đây tập trung nhiều tư liệu trưng bày, minh họa các giai đoạn lịch sử thăng trầm cũng như khí thế đấu tranh cách mạng của quân và dân trong huyện Hóc Môn qua 2 cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ. Một Tượng đài đặt trước di tích Dinh Quận Hóc Môn thể hiện gương hy sinh bất khuất của quân và dân 18 Thôn Vườn trầu, được công nhận là di tích lịch sử văn hóa cấp Quốc gia. Nguồn: Ủy ban nhân dân huyện Hóc Môn

TP Hồ Chí Minh

13458 lượt xem

Xếp hạng : Di tích cấp quốc gia

Mở

Tòa đại sứ quán Mỹ

Tòa đại sứ quán Mỹ

Di tích tòa Đại sứ Mỹ còn được gọi "Nhà trắng phương Đông" là nơi xuất phát các âm mưu thâm độc về quân sự lẫn chính trị nhằm thôn tính lâu dài đất nước Việt Nam, địa điểm di tích là tòa nhà 5 tầng xây dựng theo kiến trúc hiện đại, tọa lạc tại góc đường Mạc Đĩnh Chi - Lê Duẩn, Phường Bến Nghé, Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh, trên một mảnh đất rộng gần 5.000m2. Trước đó, tòa đại sứ Mỹ nằm tại số 39 đường Hàm Nghi. Khoảng 10 giờ sáng ngày 30/3/1963, tòa đại sứ Mỹ trên đường Hàm Nghi đã bị đội Biệt động F21 đánh chất nổ làm sập 3 tầng lầu: 1, 2, 3 do đó Mỹ đã quyết định xây lại. Tòa nhà được khởi công xây dựng vào năm 1965, hầu hết vật liệu cũng như máy móc xây dựng đều được chở từ Mỹ sang, dưới sự điều khiển của kỹ sư người Mỹ. Theo thiết kế, tòa nhà bao bọc bởi 7.800 viên đá Taredo có khả năng chống đỡ mìn, đạn pháo. Cửa chính trang bị bằng thép dầy, những cửa khác chắn bởi lớp kín dầy đặc biệt chống đạn. Tất cả cửa sử dụng hệ thống tự động kể cả cửa sắt chắn lối lên các tầng lầu. Bên trong tòa nhà gồm 140 phòng với 200 nhân viên phục vụ ngày đêm ngoài ra bên cạnh tòa nhà còn được xây thêm một dãy nhà phụ gọi là khu "Norodom" dành riêng cho nhân viên C.I.A. Khi khánh thành, tòa nhà chỉ có 3 tầng. Cuối năm 1966 xây thêm 2 tầng và 1 sân thượng dùng làm nơi hạ cánh cho máy bay lên thẳng. Bao quanh tòa nhà là bức tường cao 3m, hai đầu tường sát đường Lê Duẩn xây 2 lô - cốt cao, canh gác ngày đêm. Tòa Đại sứ hoàn thành tháng 9/1967 với một hệ thống phòng thủ như là một pháo đài có 60 lính gác, một hầm tránh bom, một hệ thống màn hình ra-đa nhằm kiểm soát mặt tiền. Ngay sau khi tòa nhà hoàn tất, ngày 24/9/1967, hàng ngàn sinh viên, học sinh kéo đến trước cổng Đại sứ quán Mỹ đấu tranh đòi "Mỹ chấm dứt ném bom miền Bắc", "Mỹ cút về nước" và ra thông báo tố cáo Mỹ "chà đạp và vi phạm nghiêm trọng quyền tự quyết của nhân dân miền Nam". Nhưng sự kiện nổi bật xảy ra tại Tòa Đại sứ Mỹ là trận đánh của Biệt động thành trong Tổng Tiến công và nổi dậy xuân Mậu Thân 1968. Mục tiêu đánh Đại sứ quán Mỹ được bổ sung ngày 24/ 1/1968 do Ngô Thành Vân phụ trách chung. Đội Biệt động 11 nhận lãnh nhiệm vụ quan trọng này gồm đội trưởng Út Nhỏ (đội trưởng trinh sát quân khu) và các chiến sĩ: Bảy Truyền, Tước, Thanh, Chức, Trần Thế Ninh, Chính, Tài, Văn, Đực, Cao Hoài Vinh, Mang, Sáu và 2 lái xe: Trần Sĩ Hùng và Ngô Văn Thuận. Một sự kiện khác cũng không kém phần tủi nhục cho Toà Đại sứ Mỹ là cảnh hỗn loạn tháo chạy xảy ra trong 2 ngày 29 và 30/04/1975 của Mỹ và đồng bọn. Trước sức tấn công thần tốc của quân và dân Việt Nam trong chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, trên 1.000 người Mỹ và hơn 5.000 người Việt thân Mỹ đã chen lấn, xô đẩy, đạp nhau để tranh giành một chỗ trên sân thượng của toà nhà hòng được trực thăng cứu thoát. Di tích này đã được cấp bằng công nhận của Bộ Văn hoá ngày 25/6/1976. Hiện nay, toà nhà Đại Sứ Mỹ đã bị phá bỏ, xây mới thành lãnh sự quán tại Thành phố Hồ Chí Minh, nhưng cạnh đó một bia tưởng niệm ghi nhớ mãi chiến công của các chiến sĩ biệt động đã hy sinh trong trận đánh. Nguồn: Thành Đoàn Thành phố Hồ Chí Minh

TP Hồ Chí Minh

13336 lượt xem

Xếp hạng : Di tích cấp quốc gia

Mở

Lăng Mai Xuân Thưởng

Lăng Mai Xuân Thưởng

Mai Xuân Thưởng là người lãnh đạo phong trào Cần Vương chống Pháp cuối thế kỷ XIX ở Bình Định. Mai Xuân Thưởng sinh năm Canh Thân 1860, mất năm Đinh Hợi 1887 người thôn Phú Lạc, tổng Phú phong, huyện Tuy Viễn, tỉnh Bình Định (nay là thôn Phú Lạc, xã Bình Thành, huyện Tây Sơn, tỉnh Bình Định). Cha là Mai Xuân Tín làm Bố chánh ở Cao Bằng, mẹ là Huỳnh Thị Nguyệt con của một nhà quyền quý trong làng. Mai Xuân Thưởng vốn là người thông minh, ham học. Năm 18 tuổi (1878) ông đỗ Tú tài tại Trường thi Bình Định. năm 25 tuổi (1885) thi đỗ cử nhân. Hưởng ứng chiếu Cần vương của vua Hàm Nghi, Mai Xuân Thưởng về quê Phú Lạc, chiêu mộ nghĩa binh, lập căn cứ ở hòn Sưng dựng cờ cần vương chống Pháp, sau đó Mai Xuân Thưởng đã đem lực lượng của mình gia nhập vào nghĩa quân do Đào Doãn Địch lãnh đạo và được Đào Doãn Địch phong giữ chức Tán lương quân vụ (phụ trách về lương thực của nghĩa quân). Kể từ đó cho đến năm 1887, phong trào cần vương ở Bình Định phát triển mạnh mẽ và lan ra đến Quảng Ngãi, Phú Yên...thu hút hàng chục ngàn người thuộc mọi tầng lớp tham gia. Ngày 20/9/1885 Đào Doãn Địch mất, giao toàn bộ lực lượng cho Mai Xuân Thưởng. Ông chọn vùng núi Lộc Đổng (nay thuộc xã Bình Tường, huyện Tây Sơn) làm đại bản doanh và tổ chức lễ tế cờ , truyền hịch kêu gọi sỹ phu, văn thân, nhân dân tham gia phong trào cần Vương chống Pháp. Trong buổi lễ ấy, nghĩa quân nhiều vùng trong tỉnh Bình Định đã nhất trí suy tôn ông làm Nguyên soái lãnh đạo cuộc khởi nghĩa và nêu cao khẩu hiệu: “Tiền sát tả, hậu đả Tây”. Đầu năm 1887, quân Pháp dưới sự chỉ huy của Trung tá Cherrean và quân triều đình do Trần Bá Lộc chỉ huy cùng với Công sứ Trira đã mở cuộc tấn công lớn lên căn cứ đại bản doanh của phong trào Cần Vương Bình Định, trận giao chiến giữa lực lượng nghĩa quân với giặc Pháp diễn ra vô cùng ác liệt, cuộc chiến đấu không cân sức, cuối cùng lực lượng khởi nghĩa bị đẩy lùi. Tháng 3 năm 1887, sau trận ác chiến ở Bàu Sấu (thị xã An Nhơn, tỉnh Bình Định), Mai Xuân Thưởng bị thương nặng, nghĩa quân rút về Mật khu Linh Ðổng. Ngày 21 tháng 4 năm 1887, Trần Bá Lộc bao vây đánh chiếm căn cứ mật khu Linh Đổng và bắt được một số nghĩa quân, trong đó có thân mẫu Mai Nguyên Soái. Đêm 30 tháng 4 năm 1887, Mai Xuân Thưởng đã cử một đội quân cảm tử đột nhập doanh trại Trần Bá Lộc, giải vây cho những người bị bắt, ông cùng đoàn thuộc hạ gồm 50 người vượt núi vào Phú Yên, tiếp tục kháng chiến, nhưng khi đến đèo Phú Quý (ranh giới giữa Bình Định và Phú Yên) thị bị phục binh Trần Bá Lộc bắt và đưa ra xử trảm tại Gò Chàm (Phía đông Thành Bình Định). Di tích Lăng mộ nhà yêu nước Mai Xuân Thưởng tọa lạc trên ngọn đồi cao của dãy núi Ngang (thuộc thôn Hòa Sơn, xã Bình Tường, huyện Tây Sơn, tỉnh Bình Định) cách thành phố Quy Nhơn khoảng 50km về hướng Tây Bắc; Lăng mộ được xây dựng trên khu đất rộng 1988m2, khánh thành ngày 22 tháng 1 năm 1961.Về tổng thể, Lăng được thiết kế theo kiểu lăng mộ cổ, xung quanh có thành thấp bao bọc. Cổng Lăng (tam quan) là 4 trụ vuông, phía trên thắt lại theo kiểu bầu lọ mang dáng dấp kiến trúc cổng đình, miếu cuối thế kỷ XIX. Giữa nhà Lăng là mộ phần Mai Xuân Thưởng hình khối chữ nhật theo hướng Đông - Tây; Phía đầu mộ dựng tấm Bia đá khắc bài ký ghi tiểu sử và sự nghiệp của Mai Xuân Thưởng: Di tích được Bộ Văn hóa Thông tin quyết định xếp hạng cấp Quốc Gia ngày 20 tháng 4 năm 1995. Nguồn: UBND Huyện Tây Sơn tỉnh Bình Định

Gia Lai

13047 lượt xem

Xếp hạng : Di tích cấp quốc gia

Mở

Thành Nhà Mạc Ở Cao Bằng (Thành Nà Lữ, Thành Bản Phủ, Thành Phục Hòa)

Thành Nhà Mạc Ở Cao Bằng (Thành Nà Lữ, Thành Bản Phủ, Thành Phục Hòa)

Thời kỳ nhà Mạc đóng đô ở Cao Bằng, để phòng bị quân nhà Lê tiến đánh, nhà Mạc đã tu bổ, sửa chữa thành Na Lữ (nay thuộc xã Hoàng Tung, Hòa An) và thành Bản Phủ (nay thuộc xã Hưng Đạo), thành Phục Hòa, ngoài ra còn xây dựng nhiều thành lũy khác ở Cao Bằng, làm cho Cao Bằng trở thành một trung tâm chính trị và quân sự ở vùng biên viễn Đông Bắc thời bấy giờ. Thành Na Lữ và thành Phục Hoà là hai thành được xây dựng từ trước. Theo ghi chép của Bế Hựu Cung trong Cao Bằng thực lục, thành Na Lữ và thành Phục Hòa mở đầu từ đời Đường Ý Tông năm Giáp Thân, niên hiệu Hàm Thông thứ 5 (874). Căn cứ vào sự hiện diện của nhiều ngôi mộ cổ có đá khắc ghi bia mộ tên, địa chỉ, quê quán những người phu dịch xây thành chết ở đây từ thời Hàm Thông có thể khẳng định hai thành này xây từ đời Đường. Thành Na Lữ được xây qua nhiều triều đại khác nhau. Khi nhà Mạc lên Cao Bằng đã cho xây lại bằng gạch. Thành Na Lữ có hình gần chữ nhật, có tổng diện tích khoảng 37,5 ha, chiều dài khoảng 800 m, chiều rộng khoảng 600 m, thành có 4 cửa. Thành Bản Phủ tại kinh đô Nam Bình, nước Nam Cương của Thục Phán khi xưa ở Cao Bình (Cao Bằng), nhà Mạc đã tu bổ thành Vương phủ tại vòng trong của kinh đô cũ Nam Bình và được gọi là thành Bản Phủ hay Vương phủ. Tại kinh đô Nam Bình xưa của nước Nam Cương và của nhà Mạc, thành Bản Phủ vẫn còn dấu tích khá rõ nét. Kinh đô Nam Bình gồm có hai vòng thành, để bảo vệ kinh thành, vòng ngoài có chu vi khoảng 5 km, gồm cả một vùng gò đồi thấp, quanh chân đồi được bạt dựng đứng như một bức tường thành, thuận lợi cho việc xây dựng phòng tuyến bảo vệ. Bờ thành phía Tây chạy song song với bờ sông Bằng đến đầu làng Bó Mạ, nối bờ thành Đông Nam chảy qua trước mặt Bản Phủ theo chân đồi ra gặp quốc lộ 4, phía Đông Bắc chạy theo chân đồi sát phía ngoài quốc lộ 4, lên đến Đầu gò là phía Tây Bắc tiếp tục chạy theo chân đồi, ra đến bờ sông gặp bờ thành phía Tây tạo thành một vòng thành khép kín. Khi nhà Mạc lên đóng đô đã tu sửa lại và xây dựng thêm một số công trình, trong đó thành Bản Phủ (thành nội - nơi của vua làm việc) được xây lên cao hơn trên các tường thành cũ từ thời kỳ Thục Phán, thành nằm trên một khu đất bằng phẳng. Cùng với việc xây dựng lại kinh thành, nhà Mạc còn xây dựng một hệ thống đồn bốt, thành lũy khá dày xung quanh kinh đô và một số điểm biên giới quan trọng, tạo thành một hệ thống bảo vệ kinh thành và bảo vệ biên giới. Thành Phục Hòa (huyện Phục Hoà) được xây theo kiểu hình vuông, mỗi chiều khoảng 400 m, gồm hai vòng thành, khoảng cách giữa hai vòng là 80 m. Hiện nay, tường thành phía Nam đã bị phá huỷ hoàn toàn. Thành Phục Hòa có 2 cổng chính: Cổng phía Bắc được mở thông ra quốc lộ đi Cửa khẩu Tà Lùng ngày nay, nhân dân thường gọi là Pác Cổng, cổng này được xây theo kiểu hình chữ nhật, rộng 8 m, cao 5 m, gồm hai cánh cổng làm bằng gỗ nghiến dày rất chắc chắn; cổng thứ hai ở phía Nam, mở thông ra bờ sông. Cả hai cổng đều bị san phẳng từ lâu, hiện nay không còn vết tích. Gần thành, tại phía Tây Bắc ngoại thành dọc bờ sông còn có nhiều vết tích lò nung gạch, nhân dân cho biết trong quá trình lao động, khai phá đã tìm thấy ở khu vực này nhiều lò gạch còn nguyên vẹn. Qua nghiên cứu, khảo sát cho thấy, tại Cao Bằng, nhà Mạc đã tu bổ, tôn tạo và xây dựng thêm nhiều thành, đồn luỹ, trong đó tu bổ, tôn tạo xây lại thành Bản Phủ, thành Na Lữ, thành Phục Hoà. Các đồn luỹ này đã tạo thành một hệ thống liên hoàn bảo vệ kinh thành khá vững chắc. Đến nay, những thành cổ nhà Mạc xây dựng thời kỳ đóng đô ở Cao Bằng, một số thành xây dựng bằng đất chỉ còn vết tích, nhưng các thành được xây bằng đá vẫn còn rất rõ. Nguồn: Báo Cao Bằng điện tử

Cao Bằng

12993 lượt xem

Xếp hạng : Di tích cấp quốc gia

Mở

KHU TƯỞNG NIỆM LIỆT SĨ NGÃ BA GIỒNG, DI TÍCH LỊCH SỬ QUỐC GIA

KHU TƯỞNG NIỆM LIỆT SĨ NGÃ BA GIỒNG, DI TÍCH LỊCH SỬ QUỐC GIA

Di tích Ngã Ba Giồng là di tích lịch sử cách mạng thuộc Ấp 5, xã Xuân Thới Thượng, huyện Hóc Môn. Được bao quanh bởi ba con đường: Phan Văn Hớn, Nguyễn Văn Bứa và tỉnh lộ 19. Khu di tích Ngã Ba Giồng là khu tưởng niệm về những sự kiện lịch sử trong hai cuộc khácg chiến chống ngoại xâm. Được công nhận là di tích lịch sử cấp quốc gia vào năm 2002. Ngã ba Giòng (còn có tên gọi đầy đủ là Ngã ba Giòng Bằng Lăng) nằm trên địa phận thôn Xuân Thới Tây thuộc 18 thôn vườn trầu xưa được hình thành từ những năm 1698 đến năm 1731. Từ lâu đời, Ngã ba Giồng là 1 địa danh có tên gọi dân gian đã đi vào lịch sử của quê hương 18 thôn vườn trầu Hóc Môn – Bà Điểm. Tục truyền rằng xưa kia nơi đây là 1 vùng đất giồng tương đối cao ráo và là nơi mọc nhiều cây bằng lăng nên địa danh này có tên gọi từ đó. Sau khi cuộc khởi nghĩa Nam kỳ (23/11/1940) bị thất bại, thực dân Pháp đã tăng cường đàn áp, khủng bố khốc liệt phong trào cách mạng vùng Hóc Môn – Bà Điểm. Chúng đã lập ra ở Hóc Môn 3 trường bắn để giết hại các đồng chí lãnh đạo Đảng, các đồng chí đồng bào yêu nước của quê hương Hóc Môn và các vùng lân cận. Ngã ba Giồng là trường bắn thứ ba ghi lại tội ác tày trời của giặc pháp và bọn tay sai đối với nhân dân Hóc Môn. Rút kinh nghiệm từ 2 trường bắn trước (1 tại rạp hát cũ trung tâm Quận lỵ Hóc Môn, 1 cạnh giếng nước sau Bệnh viện Hóc Môn ngày nay), chúng xử bắn công khai, bắt nhân dân đến xem nhằm mục đích uy hiếp tinh thần cách mạng của nhân dân Hóc Môn. Nhưng cách xử bắn đó đã phản tác dụng, nhân dân Hóc Môn đã tận mắt chứng kiến sự tàn ác của thực dân Pháp, sự hy sinh cao cả của các chiến sĩ cộng sản nên ngọn lửa yêu nước của họ càng bùng lên mãnh liệt. Trường bắn thứ 3 này, chúng không dám xây dựng gần trung tâm Quận lỵ nữa mà đưa ra khu vực Ngã ba Giồng là vùng hoang vắng, thưa dân để tránh sự phản kháng của nhân dân. Tại đây, chúng xây dựng thành 1 trường bắn có mô đất kiên cố dài 12m, cao 2,2m, phía trước có trồng 6 cột bắn, mỗi cột cao 1.7m, hướng bắn quay về phía đồng ruộng (bưng Tràm Lạc). Vào năm 1941, tại đây chúng lén lúc xử bắn rất nhiều lần, không cho nhân dân xem, hàng trăm chiến sĩ cộng sản và đồng bào yêu nước bị chúng giết hại. Với ý nghĩa lịch sử vô cùng thiêng liêng của Ngã ba Giồng, nơi ghi dấu tội ác dã man của giặc Pháp, nơi thể hiện ý chí chiến đấu bất khuất kiên cường và sự hy sinh cao cả của đồng chí và đồng bào ta sau cuộc khởi nghĩa Nam kỳ (23/11/1940); sau ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng (30/4/1975), huyện Hóc Môn đã nhanh chóng khôi phục và tôn tạo khu di tích lịch sử cách mạng Ngã ba Giồng nhằm giáo dục truyền thống cho các thế hệ thanh thiếu niên. Nơi đây đã trở thành điểm tham quan, nơi tổ chức lễ hội truyền thống trong những ngày lễ lớn hàng năm của huyện Hóc Môn và thành phố đặc biệt là lễ kỷ niệm ngày Nam kỳ Khởi nghĩa (23/11). Hiện nay được sự nhất trí của thành phố, huyện đang tiến hành tôn tạo xây dựng Ngã ba Giồng thành “Khu tưởng niệm liệt sĩ Ngã ba Giồng”. Nguồn: Cổng thông tin điện tử Hóc Môn

TP Hồ Chí Minh

12800 lượt xem

Xếp hạng : Di tích cấp quốc gia

Mở