Di tích lịch sử

Xem dạng bản đồViệt nam

Danh sách điểm di tích (1295)

Đền thờ vua An Dương Vương

Đền thờ vua An Dương Vương

Đền thờ vua An Dương Vương còn gọi là đền Thượng được xây dựng trên một quả đồi mà truyền thuyết nói là xưa có cung thất của vua. Di tích đền Thượng có diện tích rộng khoảng 19.138,6m2, được xây dựng theo hướng Nam, các công trình kiến trúc chính của ngôi đền nằm trên trục Dũng đạo (Thần đạo). Hồ nước phía trước khu đền khá lớn, có hình cung tròn với bờ cong tự nhiên được kè bằng đá, có lối đi và trồng cây xung quanh giữa hồ có giếng Ngọc. Trước đây, hồ nước thông với hào của hai vòng thành ngoài và ra tận bến sông phía Đông - Nam thành Ngoại. Theo truyền thuyết thì đây chính là hồ nước mà Mỵ Châu - Trọng Thủy thường từ đây đi thuyền du ngoạn khi chưa xảy ra cuộc chiến tranh xâm lược của Triệu Đà. Sau chiến tranh, Trọng Thủy nhảy xuống đây tự vẫn vì ân hận đã gây ra cái chết của người vợ yêu quý. Trong dân gian còn truyền tụng câu chuyện dòng máu của nàng Mỵ Châu khi bị Vua cha chém đầu, rơi xuống biển, loài trai ăn phải thì hóa thành ngọc trai, nếu đem về rửa ở giếng này thì ngọc càng thêm sáng và do đó giếng nước giữa hồ trước đền Thượng còn có tên là Giếng Ngọc. Đền Thượng có hai nghi môn là Nghi môn ngoại và Nghi môn nội. Nghi môn ngoại được xây dựng bằng gạch không trát, hình thức như một cổng thành có hai tầng, tầng dưới là 3 cửa đi, được xây kiểu cuốn vòm, tầng trên thu gọn dưới dạng vọng lâu 2 tầng 8 mái. Lối lên cửa giữa có đôi rồng đá lớn ở hai bên thành bậc cửa được tạo tác năm 1732. Qua Nghi môn ngoại là sân rồng hạ lát gạch Bát Tràng, giữa sân có một con đường lát đá chạy thẳng đến cửa chính Nghi môn nội. Do có quan niệm cho rằng: đền được xây trên “đầu rồng”, vì thế người ta đã tạo nên ở hai bên Sân rồng hạ 2 giếng nhỏ được gọi là “mắt rồng” tương xứng nhau, bên cạnh có 2 gò đất cao là “hàm rồng”. Nghi môn nội được đặt cao hơn mặt sân, lối lên có 7 bậc thềm đá xanh. Hai bên bậc thềm là đôi rồng tạo bằng vữa hợp chất. Qua Nghi môn nội là sân rồng thượng lát bằng gạch Bát Tràng. Chính giữa sân là con đường lát đá dẫn lên nhà Tiền tế còn được gọi là Đại bái hay Tiền bái. Tiền tế là một kiến trúc bề thế, mái lợp ngói mũi hài, có các góc đao cong vút và đắp tượng nghê chầu. Hai dãy nhà hành lang dài hai bên nối Tiền tế và Trung đường, giữa hai dãy hành lang là một tòa Phương đình. Hậu cung là một tòa nhà kiểu “chuôi vồ”, đấu mái liền với Trung đường. Trong Hậu cung có bức tượng vua An Dương Vương được đúc bằng đồng, nặng 200kg, có niên đại 1897. Nhà bia nằm trong tổng thể kiến trúc ngôi đền, được xây dựng trên một khu đất cao phía Tây của sân thượng, hướng mặt quay vào đền. Đây là một công trình kiến trúc nhỏ có dạng Phương đình, hai tầng tám mái - một kiến trúc gỗ mái lợp ngói mũi hài khá hài hòa xinh xắn. Căn cứ những mảng kiến trúc, hiện vật hiện còn, cho biết đền Thượng có thể được xây dựng khoảng thế kỷ 17-18. Theo BQL Di tích thành cổ loa

Hà Nội

393 lượt xem

Xếp hạng : Di tích cấp quốc gia đặc biệt

Mở

Cửa Bắc

Cửa Bắc

Chứng nhân lịch sử giữa lòng Hoàng thành Hà Nội Nằm trên phố Phan Đình Phùng, Cửa Bắc (Chính Bắc Môn) là cổng thành duy nhất còn nguyên vẹn của Thành Hà Nội thời Nguyễn. Được xây dựng năm 1805 trên nền Cửa Bắc thời Lê, công trình không chỉ là dấu tích quý giá của kiến trúc quân sự xưa mà còn là biểu tượng cho tinh thần kiên cường của quân và dân Hà Nội trong những năm tháng chống giặc ngoại xâm. Cửa Bắc được xây dựng theo kiến trúc vọng lâu với phần cổng thành đồ sộ phía dưới và lầu canh tám mái phía trên. Từ vọng lâu, binh lính xưa có thể quan sát toàn bộ khu vực trong và ngoài thành để bảo vệ kinh thành. Trải qua hơn hai thế kỷ, công trình vẫn giữ được nhiều nét kiến trúc nguyên bản với tường thành bằng gạch và đá kiên cố, cổng gỗ lớn cùng dòng chữ Hán "Chính Bắc Môn" còn nguyên trên cổng. Điểm đặc biệt khiến Cửa Bắc trở thành di tích lịch sử có giá trị là hai vết đạn thần công vẫn còn hằn rõ trên mặt ngoài cổng thành. Đây là dấu tích của cuộc tấn công do quân Pháp tiến hành vào thành Hà Nội năm 1882, nhắc nhớ về những trận chiến oanh liệt trong lịch sử dân tộc. Bên trong vọng lâu hiện là nơi thờ hai vị Tổng đốc Hà Nội Nguyễn Tri Phương và Hoàng Diệu – những vị anh hùng đã chiến đấu và tuẫn tiết để bảo vệ thành Hà Nội trước sự xâm lược của thực dân Pháp. Không gian trang nghiêm cùng những hiện vật trưng bày giúp du khách hiểu thêm về tinh thần yêu nước, ý chí bất khuất của cha ông trong công cuộc bảo vệ Thăng Long – Hà Nội. Đến với Cửa Bắc, du khách không chỉ được chiêm ngưỡng một công trình kiến trúc cổ độc đáo mà còn có cơ hội khám phá quần thể Hoàng thành Thăng Long, tìm hiểu lịch sử kinh đô nghìn năm văn hiến và lưu lại những bức ảnh ấn tượng giữa hàng cây xanh cổ thụ trên phố Phan Đình Phùng – một trong những con đường đẹp nhất Hà Nội. Ngày nay, Cửa Bắc là điểm dừng chân không thể bỏ qua trong hành trình khám phá Thủ đô. Giữa nhịp sống hiện đại, công trình vẫn lặng lẽ gìn giữ những dấu ấn lịch sử, trở thành biểu tượng của lòng yêu nước, sự kiên cường và niềm tự hào về một Hà Nội nghìn năm văn hiến. Theo BQL Di tích Hoàng Thành Thăng Long

Hà Nội

504 lượt xem

Xếp hạng : Di tích cấp quốc gia đặc biệt

Mở

Ô Quan Chưởng

Ô Quan Chưởng

Cửa ô cuối cùng lưu giữ hồn xưa của Hà Nội Giữa nhịp sống sôi động của phố cổ Hà Nội, Ô Quan Chưởng vẫn lặng lẽ đứng đó như một chứng nhân của hơn hai thế kỷ lịch sử. Là cửa ô duy nhất còn sót lại của kinh thành Thăng Long, công trình không chỉ mang giá trị kiến trúc độc đáo mà còn là biểu tượng gợi nhớ về một Hà Nội ngàn năm văn hiến. Được xây dựng từ năm 1749 và trùng tu vào năm 1817 dưới triều Nguyễn, Ô Quan Chưởng còn có tên gọi Đông Hà Môn, nằm ở cửa ngõ phía Đông của kinh thành xưa. Công trình được xây dựng theo kiến trúc cổng vọng lâu với một cửa chính lớn, hai cửa phụ hai bên và vọng lâu bốn mái cong phía trên. Trên cổng vẫn còn nguyên ba chữ Hán "Đông Hà Môn", dấu ấn lịch sử đã tồn tại cùng năm tháng. Trải qua nhiều biến cố của lịch sử, Ô Quan Chưởng vẫn giữ được nét cổ kính với những bức tường gạch phủ rêu phong, mái ngói nhuốm màu thời gian và không gian bình yên giữa lòng phố thị. Đứng dưới cổng thành, du khách có cảm giác như được quay ngược thời gian, trở về với hình ảnh Thăng Long xưa – nơi những đoàn người, xe ngựa từng tấp nập ra vào qua cửa ô mỗi ngày. Không chỉ là một di tích lịch sử, Ô Quan Chưởng còn là điểm dừng chân yêu thích của du khách khi khám phá khu phố cổ Hà Nội. Từ đây, bạn có thể dễ dàng kết hợp tham quan chợ Đồng Xuân, phố Hàng Chiếu, phố đi bộ Hồ Gươm hay thưởng thức những món ăn đặc trưng của ẩm thực Hà thành. Đặc biệt, vào buổi sáng sớm hoặc chiều muộn, ánh nắng xuyên qua cổng thành tạo nên khung cảnh cổ kính, là thời điểm lý tưởng để lưu lại những bức ảnh đậm chất Hà Nội. Ngày nay, Ô Quan Chưởng không chỉ là di tích lịch sử quốc gia, mà còn là biểu tượng của sự trường tồn, lưu giữ ký ức về một Thăng Long xưa giữa lòng Thủ đô hiện đại. Nếu có dịp ghé thăm Hà Nội, đừng quên dừng chân tại Ô Quan Chưởng để cảm nhận vẻ đẹp mộc mạc, bình yên và lắng nghe những câu chuyện lịch sử còn vang vọng theo từng viên gạch cổ. Theo tạp chí người Hà Nội

Hà Nội

526 lượt xem

Xếp hạng : Di tích cấp quốc gia

Mở

Mộ thương nhân Nhật Bản Tani Yajirobei

Mộ thương nhân Nhật Bản Tani Yajirobei

Mộ thương nhân Nhật Bản Tani Yajirobei nằm tại Hội An Đông, TP Đà Nẵng, là minh chứng cho mối quan hệ giao thương giữa Việt Nam và Nhật Bản trong thời kỳ Hội An là thương cảng quốc tế sầm uất vào cuối thế kỷ XVI, đầu thế kỷ XVII. Ông Tani Yajirobei, quê ở Hirado (gần Nagasaki), đến Hội An buôn bán, định cư và qua đời tại đây. Bia mộ được lập năm 1647, ghi rõ quê quán Nhật Bản, là tư liệu quý về sự hiện diện của cộng đồng người Nhật tại Hội An. Ngôi mộ được xây dựng theo lối mộ cổ Hội An với nấm mộ bằng hợp chất truyền thống từ vôi, vỏ sò, vỏ hến, mật mía và nhựa cây bời lời tạo độ bền cao qua hàng trăm năm. Đây là một trong những di tích có giá trị về lịch sử, văn hóa và kiến trúc, góp phần minh chứng cho sự giao lưu kinh tế, văn hóa Việt Nam – Nhật Bản trong lịch sử. Mộ được xây trên một gò đất cao, quay hướng Đông Bắc theo quan niệm phong thủy truyền thống. Công trình gồm thành bao bằng sa thạch, nấm mộ hình yên ngựa và bia mộ bằng đá sa thạch. Năm 1991, Mộ thương nhân Nhật Bản Tani Yajirobei được xếp hạng Di tích lịch sử cấp Quốc gia. Ngày nay, di tích là điểm tham quan hấp dẫn, đặc biệt đối với du khách Nhật Bản và những người yêu thích tìm hiểu lịch sử thương cảng Hội An. Nguồn: Đô thị cổ Hội An

Đà Nẵng

255 lượt xem

Xếp hạng : Di tích cấp quốc gia

Mở

Di tích lịch sử Pháo đài Láng

Di tích lịch sử Pháo đài Láng

Nằm trên phố Pháo Đài Láng, phường Láng Thượng, thành phố Hà Nội, Di tích lịch sử Pháo đài Láng là nơi ghi dấu những phát pháo đầu tiên mở màn cuộc Toàn quốc kháng chiến chống thực dân Pháp vào tối ngày 19/12/1946. Đây cũng là nơi lập nên chiến công đầu tiên của Binh chủng Pháo binh Quân đội nhân dân Việt Nam, trở thành một "địa chỉ đỏ" có ý nghĩa đặc biệt trong lịch sử đấu tranh bảo vệ nền độc lập của dân tộc. Pháo đài được thực dân Pháp xây dựng vào năm 1941 trên cánh đồng làng Láng Trung với mục đích phòng thủ Hà Nội. Ban đầu, công trình được trang bị bốn khẩu pháo cao xạ cỡ 75 mm cùng hệ thống đài chỉ huy kiên cố. Sau cuộc đảo chính Pháp của phát xít Nhật năm 1945 và thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám, lực lượng quân giới Việt Nam đã thu thập, sửa chữa và khôi phục các khẩu pháo để phục vụ nhiệm vụ bảo vệ chính quyền cách mạng. Ngày 29/6/1946, đơn vị pháo binh đầu tiên của Quân đội Việt Nam được thành lập. Pháo đài Láng trở thành một trong những trận địa pháo quan trọng bảo vệ Thủ đô, nơi các chiến sĩ pháo binh ngày đêm khẩn trương chuẩn bị cho nhiệm vụ chiến đấu trong bối cảnh tình hình Hà Nội ngày càng căng thẳng. Tối 19/12/1946, sau khi tín hiệu mở đầu cuộc Toàn quốc kháng chiến được phát đi, từ Pháo đài Láng, những loạt pháo đầu tiên đã đồng loạt nã vào các vị trí quân Pháp trong thành Hà Nội. Tiếng pháo vang lên không chỉ mở màn cho cuộc kháng chiến trường kỳ chống thực dân Pháp mà còn đánh dấu sự ra đời và trưởng thành của Binh chủng Pháo binh Việt Nam. Trong suốt 60 ngày đêm chiến đấu bảo vệ Hà Nội, các chiến sĩ tại Pháo đài Láng đã cùng quân và dân Thủ đô kiên cường chiến đấu, góp phần kìm chân địch, tạo điều kiện để Trung ương Đảng, Chính phủ và các cơ quan đầu não rút lên căn cứ an toàn, chuẩn bị cho cuộc kháng chiến lâu dài. Sau chiến tranh, dấu tích của pháo đài không còn nguyên vẹn do quá trình đô thị hóa. Tuy nhiên, khẩu pháo 75 mm cùng một phần trận địa đã được bảo tồn và tôn tạo trong khuôn viên di tích. Nơi đây còn có phòng trưng bày giới thiệu hình ảnh, tư liệu và hiện vật về lịch sử hình thành của Pháo đài Láng, những ngày đầu Toàn quốc kháng chiến và truyền thống của Binh chủng Pháo binh Quân đội nhân dân Việt Nam. Năm 1986, Pháo đài Láng được thành phố Hà Nội xếp hạng Di tích lịch sử, và đến năm 1992 được Nhà nước công nhận là Di tích lịch sử cấp Quốc gia. Công trình tiếp tục được trùng tu, tôn tạo trong các năm 1994–1995 và 2006, góp phần gìn giữ những giá trị lịch sử quý báu cho các thế hệ mai sau. Ngày nay, Di tích lịch sử Pháo đài Láng là điểm đến ý nghĩa đối với những người yêu lịch sử, đặc biệt là thế hệ trẻ. Không chỉ lưu giữ ký ức về những ngày đầu Toàn quốc kháng chiến, nơi đây còn là biểu tượng của ý chí kiên cường, tinh thần quyết chiến quyết thắng và truyền thống anh hùng của Binh chủng Pháo binh Quân đội nhân dân Việt Nam. Nguồn: Hà Nội Danh thắng và Di tích (tổng hợp)

Hà Nội

697 lượt xem

Xếp hạng : Di tích cấp quốc gia

Mở

Nhà lưu niệm Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Vạn Phúc

Nhà lưu niệm Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Vạn Phúc

Nằm tại phường Vạn Phúc, thành phố Hà Nội, Nhà lưu niệm Chủ tịch Hồ Chí Minh là nơi Người sống và làm việc từ ngày 3/12 đến ngày 19/12/1946, trước khi ra Lời kêu gọi Toàn quốc kháng chiến. Đây là một trong những di tích lịch sử đặc biệt, ghi dấu thời khắc mở đầu cuộc kháng chiến trường kỳ chống thực dân Pháp của dân tộc Việt Nam. Ngôi nhà vốn thuộc sở hữu của gia đình cụ Nguyễn Văn Dương, một gia đình có truyền thống yêu nước tại làng lụa Vạn Phúc. Với vị trí thuận lợi, vừa gần Hà Nội, vừa đảm bảo bí mật và an toàn, nơi đây được Trung ương Đảng lựa chọn làm địa điểm ở và làm việc của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong những ngày tình hình đất nước hết sức căng thẳng. Trong thời gian ở Vạn Phúc, ban ngày Chủ tịch Hồ Chí Minh vẫn vào Hà Nội để làm việc với Chính phủ, tiếp các đoàn khách quốc tế và chỉ đạo công việc, còn buổi tối trở về ngôi nhà này để nghiên cứu tình hình, họp với Thường vụ Trung ương Đảng và chuẩn bị những quyết sách quan trọng cho vận mệnh đất nước. Giữa tháng 12/1946, trước những hành động leo thang xâm lược của thực dân Pháp, Trung ương Đảng đã nhiều lần họp tại Vạn Phúc để quyết định chủ trương phát động toàn quốc kháng chiến. Chính tại căn phòng trên tầng hai của ngôi nhà, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã soạn thảo và hoàn thiện Lời kêu gọi Toàn quốc kháng chiến, văn kiện lịch sử mở đầu cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp với lời hiệu triệu bất hủ: "Chúng ta thà hy sinh tất cả, chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ." Tối ngày 19/12/1946, Lời kêu gọi Toàn quốc kháng chiến được phát đi trên Đài Tiếng nói Việt Nam, mở đầu cuộc kháng chiến trường kỳ kéo dài chín năm và đi đến thắng lợi bằng Chiến thắng Điện Biên Phủ năm 1954. Sự kiện này đánh dấu bước ngoặt quan trọng trong lịch sử dân tộc, thể hiện ý chí kiên cường và khát vọng độc lập, tự do của nhân dân Việt Nam. Gia đình cụ Nguyễn Văn Dương đã tuyệt đối giữ bí mật, tạo mọi điều kiện để Chủ tịch Hồ Chí Minh làm việc an toàn trong suốt thời gian lưu lại. Trước khi rời Vạn Phúc, Người đã cảm ơn gia đình và động viên nhân dân tích cực ủng hộ cuộc kháng chiến, thể hiện niềm tin mãnh liệt vào thắng lợi của dân tộc. Ngày nay, Nhà lưu niệm Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Vạn Phúc vẫn được bảo tồn gần như nguyên vẹn. Tầng hai của ngôi nhà lưu giữ căn phòng làm việc cùng nhiều hiện vật gốc gắn với những ngày Chủ tịch Hồ Chí Minh sống và làm việc tại đây; tầng một là không gian trưng bày tư liệu, hình ảnh về sự kiện Toàn quốc kháng chiến và truyền thống cách mạng của địa phương. Trong hành trình khám phá Hà Nội, Nhà lưu niệm Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Vạn Phúc là nơi giúp mỗi người thêm hiểu và trân trọng những hy sinh, quyết tâm của dân tộc trong hành trình giành và giữ vững nền độc lập. Nguồn: Hà Nội Danh thắng và Di tích (tổng hợp).

Hà Nội

212 lượt xem

Xếp hạng : Di tích cấp quốc gia

Mở

Di tích lịch sử Bắc Bộ Phủ

Di tích lịch sử Bắc Bộ Phủ

Di tích lịch sử Bắc Bộ Phủ Tọa lạc tại số 2 phố Lê Thạch, phường Hoàn Kiếm, thành phố Hà Nội, Bắc Bộ Phủ là một trong những di tích lịch sử đặc biệt gắn liền với những ngày đầu thành lập nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Đây là nơi Chủ tịch Hồ Chí Minh và Chính phủ lâm thời làm việc sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945, đồng thời chứng kiến nhiều sự kiện quan trọng trong quá trình xây dựng và bảo vệ chính quyền cách mạng non trẻ. Công trình được người Pháp xây dựng vào năm 1918 theo phong cách kiến trúc Pháp cổ, ban đầu là Phủ Thống sứ Bắc Kỳ – cơ quan hành chính cao nhất của chính quyền thực dân tại Bắc Kỳ. Sau cuộc đảo chính Pháp của phát xít Nhật vào tháng 3/1945, công trình được đổi tên thành Phủ Khâm sai Bắc Kỳ. Ngày 19/8/1945, trong khí thế sục sôi của Cách mạng Tháng Tám, hàng vạn quần chúng từ cuộc mít tinh tại Quảng trường Nhà hát Lớn đã tiến về chiếm Phủ Khâm sai. Sự kiện giành chính quyền tại đây trở thành một trong những dấu mốc tiêu biểu của cuộc Tổng khởi nghĩa ở Hà Nội, góp phần đưa Cách mạng Tháng Tám đến thắng lợi và mở đường cho sự ra đời của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Sau thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám, công trình được đổi tên thành Bắc Bộ Phủ. Từ cuối tháng 8 năm 1945 đến trước ngày Toàn quốc kháng chiến, Chủ tịch Hồ Chí Minh cùng Chính phủ lâm thời đã làm việc tại đây, đưa ra nhiều quyết sách quan trọng về xây dựng bộ máy nhà nước, đối nội, đối ngoại và chuẩn bị cho công cuộc bảo vệ nền độc lập vừa giành được. Đặc biệt, ngày 20/12/1946, Bắc Bộ Phủ trở thành một trong những điểm chiến đấu ác liệt nhất trong những ngày đầu của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp. Các chiến sĩ Vệ quốc đoàn đã anh dũng chiến đấu bảo vệ cơ quan đầu não của Chính phủ, góp phần mở đầu cuộc kháng chiến trường kỳ của dân tộc. Sau khi Thủ đô được giải phóng năm 1954, công trình được tu sửa và trở thành Nhà khách Chính phủ, tiếp tục phục vụ các hoạt động đối nội, đối ngoại của Nhà nước. Năm 2005, Bắc Bộ Phủ được gắn biển Di tích lịch sử cách mạng, ghi nhận những giá trị đặc biệt về lịch sử và kiến trúc. Không chỉ mang giá trị lịch sử, Bắc Bộ Phủ còn là công trình kiến trúc Pháp tiêu biểu với thiết kế trang nhã, hài hòa cùng không gian hồ Hoàn Kiếm và Quảng trường Cách mạng Tháng Tám. Trải qua hơn một thế kỷ, công trình vẫn lưu giữ nhiều dấu ấn của thời kỳ đầu lập quốc và là chứng nhân của những biến cố quan trọng trong lịch sử dân tộc. Ngày nay, Bắc Bộ Phủ là một trong những "địa chỉ đỏ" tiêu biểu của Thủ đô Hà Nội. Việc bảo tồn, tôn tạo và phát huy giá trị của di tích không chỉ góp phần gìn giữ ký ức lịch sử mà còn giúp giáo dục truyền thống yêu nước, tinh thần cách mạng cho các thế hệ hôm nay và mai sau. Đối với du khách yêu lịch sử, Bắc Bộ Phủ là điểm đến ý nghĩa để tìm hiểu về những ngày đầu hình thành Nhà nước Việt Nam hiện đại và hành trình bảo vệ nền độc lập của dân tộc. Nguồn: Báo Tuổi Trẻ

Hà Nội

634 lượt xem

Xếp hạng : Di tích cấp quốc gia đặc biệt

Mở

Nhà số 48 Hàng Ngang

Nhà số 48 Hàng Ngang

Di tích lịch sử 48 Hàng Ngang – Nơi Chủ tịch Hồ Chí Minh viết Tuyên ngôn Độc lập Tọa lạc tại số 48 phố Hàng Ngang, phường Hoàn Kiếm, thành phố Hà Nội, ngôi nhà lịch sử 48 Hàng Ngang là nơi Chủ tịch Hồ Chí Minh đã viết bản Tuyên ngôn Độc lập, văn kiện lịch sử khai sinh nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa vào ngày 2/9/1945. Đây là một trong những di tích tiêu biểu gắn liền với cuộc đời và sự nghiệp của Người, đồng thời là "địa chỉ đỏ" có ý nghĩa đặc biệt trong lịch sử cách mạng Việt Nam. Ngôi nhà thuộc sở hữu của vợ chồng doanh nhân yêu nước Trịnh Văn Bô và Hoàng Thị Minh Hồ, những người có nhiều đóng góp cho sự nghiệp cách mạng. Nằm giữa khu phố cổ Hà Nội, thông ra hai mặt phố Hàng Ngang và Hàng Cân, ngôi nhà có vị trí thuận lợi, kiến trúc kiên cố và đảm bảo bí mật, an toàn. Chính vì vậy, từ ngày 25/8 đến 2/9/1945, nơi đây được chọn làm địa điểm ở và làm việc của Chủ tịch Hồ Chí Minh cùng Ban Thường vụ Trung ương Đảng. Tại tầng hai của ngôi nhà, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chủ trì nhiều cuộc họp quan trọng, quyết định các chủ trương về đối nội, đối ngoại, thành lập Chính phủ lâm thời và chuẩn bị cho Lễ Độc lập. Đặc biệt, chính tại căn phòng này, Người đã hoàn thành bản Tuyên ngôn Độc lập – văn kiện lịch sử tuyên bố trước toàn thế giới về sự ra đời của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Ngày 2/9/1945, tại Quảng trường Ba Đình lịch sử, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã trịnh trọng đọc bản Tuyên ngôn Độc lập trước hơn nửa triệu đồng bào, chính thức khai sinh nhà nước công nông đầu tiên ở Đông Nam Á, chấm dứt hàng nghìn năm chế độ phong kiến và gần một thế kỷ đô hộ của thực dân, mở ra kỷ nguyên mới của dân tộc – kỷ nguyên độc lập, tự do và xây dựng đất nước. Hiện nay, tầng một của ngôi nhà là không gian trưng bày nhiều tài liệu, hình ảnh và hiện vật quý liên quan đến Chủ tịch Hồ Chí Minh, Cách mạng Tháng Tám và sự ra đời của bản Tuyên ngôn Độc lập; tầng hai vẫn được gìn giữ gần như nguyên trạng với các hiện vật gốc, giúp du khách hình dung rõ hơn về những ngày lịch sử mùa thu năm 1945. Ngày nay, Di tích lịch sử 48 Hàng Ngang là điểm đến thu hút đông đảo du khách trong nước và quốc tế. Không chỉ mang giá trị lịch sử to lớn, nơi đây còn góp phần giáo dục truyền thống yêu nước, lòng tự hào dân tộc và tinh thần cách mạng cho các thế hệ hôm nay và mai sau. Trong hành trình khám phá Hà Nội, ngôi nhà số 48 Hàng Ngang là điểm dừng chân ý nghĩa để mỗi người hiểu hơn về thời khắc khai sinh nước Việt Nam độc lập và những dấu ấn bất diệt trong lịch sử dân tộc. Nguồn: Ban Quản lý Di tích danh thắng Hà Nội (tổng hợp).

Hà Nội

613 lượt xem

Xếp hạng : Di tích cấp quốc gia đặc biệt

Mở

Miếu Tổ nghề Yến Cù Lao Chàm

Miếu Tổ nghề Yến Cù Lao Chàm

Nằm tại thôn Bãi Hương, xã Tân Hiệp, Cù Lao Chàm (thành phố Đà Nẵng), Miếu Tổ nghề Yến (Yến Nghệ Tổ Miếu) là di tích tín ngưỡng đặc sắc, gắn liền với lịch sử hình thành và phát triển nghề khai thác yến sào Thanh Châu – một nghề truyền thống có lịch sử từ thế kỷ XVI. Không chỉ là nơi thờ các bậc tiền nhân khai sáng nghề yến, di tích còn phản ánh sự gắn bó bền chặt giữa cư dân vùng biển đảo với tài nguyên thiên nhiên và chủ quyền biển đảo Việt Nam. Miếu được xây dựng quy mô vào năm 1848 (năm Tự Đức thứ nhất) do ông Hồ Văn Hòa cùng các chức dịch làng Thanh Châu đứng ra xây dựng để thờ Tổ nghề khai thác yến và các vị thần bảo hộ nghề. Theo nhiều tư liệu lịch sử, từ thời Gia Long, ông Hồ Văn Hòa được giao quản lý việc khai thác yến sào tại Cù Lao Chàm và được các thế hệ sau tôn vinh là Tổ nghề yến. Di tích được xây dựng trên một gò cát cách bờ biển Bãi Hương khoảng 150 m, mặt tiền hướng ra biển. Kiến trúc mang đậm phong cách truyền thống với cổng tam quan, bình phong kiểu cuốn thư, hai nếp nhà liên hoàn lợp ngói âm dương cùng hệ thống cột kèo bằng gỗ được chạm khắc tinh xảo. Không gian thờ tự lưu giữ nhiều hiện vật quý như hoành phi, khám thờ sơn son thếp vàng, bài vị các bậc tiền hiền và bia đá thời Tự Đức, phản ánh giá trị lịch sử, nghệ thuật và tín ngưỡng của cộng đồng cư dân biển. Đến với Miếu Tổ nghề Yến, du khách không chỉ được tìm hiểu về lịch sử nghề khai thác yến sào – một nghề truyền thống nổi tiếng của Cù Lao Chàm, mà còn có cơ hội khám phá đời sống văn hóa của ngư dân Bãi Hương, lắng nghe những câu chuyện, truyền thuyết về nghề yến và cảm nhận sự gắn kết giữa con người với biển đảo qua nhiều thế hệ. Hằng năm, vào ngày 10 tháng 3 âm lịch, lễ Giỗ Tổ nghề Yến được tổ chức trang trọng tại di tích nhằm tưởng nhớ công lao các bậc tiền nhân, cầu mong mùa khai thác thuận lợi, bình an và bội thu. Ngày nay, lễ hội còn kết hợp với nhiều hoạt động văn hóa, du lịch, góp phần quảng bá nghề khai thác yến sào Thanh Châu – Di sản văn hóa phi vật thể quốc gia, đồng thời nâng cao ý thức bảo tồn tài nguyên thiên nhiên và phát huy giá trị của Khu Dự trữ sinh quyển thế giới Cù Lao Chàm – Hội An. Theo báo mới

Đà Nẵng

386 lượt xem

Xếp hạng : Di tích cấp quốc gia

Mở

Giếng cổ Xóm Cấm

Giếng cổ Xóm Cấm

Giếng cổ Xóm Cấm – Dấu ấn văn hóa Chăm giữa lòng Cù Lao Chàm Nằm tại thôn Cấm, Hội An, Đà Năng, Giếng cổ Xóm Cấm là một trong những công trình kiến trúc cổ tiêu biểu của Cù Lao Chàm, gắn liền với lịch sử hình thành và phát triển của cư dân trên đảo suốt nhiều thế kỷ. Đây không chỉ là nguồn nước ngọt quý giá mà còn là minh chứng sinh động cho sự giao thoa văn hóa giữa người Chăm và người Việt trên tuyến thương cảng quốc tế Hội An. Các kết quả khảo cổ học cho thấy Cù Lao Chàm đã có cư dân sinh sống từ hơn 3.000 năm trước. Đến các thế kỷ VII – X, nơi đây trở thành địa bàn cư trú của người Chăm, đồng thời là điểm dừng chân quan trọng trên tuyến hàng hải quốc tế, nơi diễn ra hoạt động giao thương sôi động với các thương nhân từ Trung Quốc, Trung Đông và nhiều quốc gia khác. Sau thế kỷ XVII, cộng đồng người Việt đến sinh sống, tiếp tục kế thừa, gìn giữ và sử dụng các công trình do người Chăm xây dựng, trong đó có hệ thống giếng cổ. Giếng Xóm Cấm mang đậm phong cách kiến trúc Chăm với miệng giếng đường kính khoảng 1,18 m, sâu 4,5 m, lòng giếng xây bằng gạch theo dạng "cổ áo" (vành khăn), kết dính bằng vữa vôi truyền thống. Đặc biệt, dưới đáy giếng còn lưu giữ hệ thống bốn thanh gỗ lim ghép thành hình vuông, góp phần gia cố nền móng và bảo đảm độ bền vững của công trình qua hàng trăm năm. Theo nhiều tư liệu cổ, trong thời kỳ hưng thịnh của thương cảng Hội An, các thương thuyền quốc tế thường ghé Cù Lao Chàm để bổ sung lương thực và lấy nước ngọt từ các giếng cổ trên đảo trước khi tiếp tục hành trình. Đến ngày nay, Giếng Xóm Cấm vẫn luôn đầy nước, trong xanh và mát lành quanh năm, tiếp tục phục vụ đời sống sinh hoạt của người dân địa phương, trở thành biểu tượng của sự trường tồn và sức sống bền bỉ giữa biển khơi. Không chỉ mang giá trị lịch sử và kiến trúc, Giếng cổ Xóm Cấm còn phản ánh quá trình kế thừa và hòa quyện văn hóa giữa các cộng đồng cư dân trên đảo, góp phần làm nên bản sắc độc đáo của Khu dự trữ sinh quyển thế giới Cù Lao Chàm – Hội An. Với những giá trị đặc biệt về lịch sử, khảo cổ và văn hóa, Giếng cổ Xóm Cấm được Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch xếp hạng Di tích lịch sử cấp quốc gia năm 2006. Ngày nay, đây là điểm tham quan hấp dẫn, nơi du khách có thể tìm hiểu về lịch sử lâu đời của Cù Lao Chàm, khám phá dấu ấn văn minh Chăm Pa và cảm nhận nét đẹp bình yên của hòn đảo giữa biển Đông. Theo Đô thị cổ Hội An

Đà Nẵng

827 lượt xem

Xếp hạng : Di tích cấp quốc gia

Mở

Di tích lịch sử cách mạng Cái Ngang

Di tích lịch sử cách mạng Cái Ngang

Di tích lịch sử cách mạng Cái Ngang nằm tại ấp 4, Phú Lộc, Tam Bình, tỉnh Vĩnh Long, cách trung tâm thành phố Vĩnh Long khoảng 25 km. Được xây dựng trên chính nền căn cứ cách mạng của Tỉnh ủy Vĩnh Long trong giai đoạn 1966 – 1975, nơi đây là một "địa chỉ đỏ" giàu giá trị lịch sử, tái hiện chân thực cuộc sống, chiến đấu của quân và dân Vĩnh Long trong những năm kháng chiến chống Mỹ cứu nước. Trong thời kỳ chiến tranh, Cái Ngang là nơi đặt cơ quan đầu não của Tỉnh ủy Vĩnh Long, từ đây lãnh đạo phong trào cách mạng trong tỉnh, góp phần làm nên thắng lợi của Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968 và Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử mùa Xuân năm 1975, giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước. Khu di tích ngày nay tái hiện sinh động hệ thống căn cứ giữa rừng với các hạng mục như hội trường, nhà thường trực, nhà thông tin, nhà ăn, nhà bảo vệ cùng nhiều công sự, hầm bí mật, hầm chông, hầm phòng thủ và những chiếc cầu chông đặc trưng của vùng sông nước Nam Bộ. Mỗi công trình đều phản ánh sự sáng tạo, mưu trí của cán bộ, chiến sĩ trong việc xây dựng căn cứ bí mật, thích ứng với điều kiện chiến đấu gian khổ nhưng vẫn đảm bảo chỉ huy và bảo vệ lực lượng. Đến với Cái Ngang, du khách còn được tìm hiểu nhiều hiện vật, mô hình sinh hoạt và lao động của cán bộ cách mạng, từ những bộ bàn ghế đa năng, bếp Hoàng Cầm giản dị đến những câu chuyện về cuộc sống thiếu thốn nhưng đầy ý chí, nghị lực của thế hệ đi trước. Qua đó, càng thêm trân trọng sự hy sinh, lòng dũng cảm và tinh thần đoàn kết của quân và dân Vĩnh Long trong sự nghiệp đấu tranh giành độc lập dân tộc. Trong khuôn viên di tích còn có Tượng đài Mẹ Việt Nam Anh hùng Nguyễn Thị Ngọt – người mẹ tiêu biểu của tỉnh Vĩnh Long có chồng và sáu người con anh dũng hy sinh trong hai cuộc kháng chiến. Công trình là biểu tượng của lòng biết ơn, sự tri ân đối với những người mẹ đã cống hiến, hy sinh to lớn cho Tổ quốc. Không chỉ mang giá trị lịch sử, Di tích lịch sử cách mạng Cái Ngang còn gây ấn tượng bởi không gian sinh thái xanh mát với hệ thực vật đặc trưng của vùng Đồng bằng sông Cửu Long. Những hàng trâm bầu, gõ nước, đủng đỉnh, dây leo cùng các ao, rạch tự nhiên tạo nên khung cảnh yên bình, giúp du khách vừa tìm hiểu lịch sử vừa hòa mình vào thiên nhiên miệt vườn. Với những giá trị đặc biệt về lịch sử, văn hóa và giáo dục truyền thống, năm 2016, Di tích lịch sử cách mạng Cái Ngang được Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch xếp hạng Di tích lịch sử cấp quốc gia. Ngày nay, nơi đây là điểm đến ý nghĩa dành cho du khách, học sinh, sinh viên và các thế hệ trẻ đến tham quan, tìm hiểu lịch sử, bồi đắp lòng yêu nước và niềm tự hào dân tộc. Theo tour Vĩnh Long

Vĩnh Long

346 lượt xem

Xếp hạng : Di tích cấp quốc gia

Mở

Di tích hang Hỏa Tiễn

Di tích hang Hỏa Tiễn

Hang Hỏa Tiễn là di tích lịch sử quốc gia nằm tại phường Hoàng Mai, tỉnh Nghệ An, ghi dấu sự hy sinh anh dũng của 33 thanh niên xung phong Tổ 4, đơn vị C271, Đội 27 trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước. Đây là một "địa chỉ đỏ" thiêng liêng, nhắc nhớ về tinh thần quả cảm và sự cống hiến của những người trẻ đã ngã xuống vì độc lập, tự do của Tổ quốc. Ngày 28/4/1966, khi đang làm nhiệm vụ khai thác đá, san lấp và bảo vệ tuyến đường sắt Bắc – Nam tại khu vực ga Hoàng Mai, các chiến sĩ bất ngờ gặp trận không kích ác liệt của máy bay Mỹ. Trong lúc trú ẩn tại một hang đá, hai quả tên lửa (rocket) bắn trúng cửa hang, khiến khối lượng lớn đất đá sụp xuống, chôn vùi các chiến sĩ bên trong. Sau nhiều giờ cứu hộ, 33 thanh niên xung phong đã anh dũng hy sinh, phần lớn khi tuổi đời mới mười sáu, mười bảy, đôi mươi. Từ sự kiện bi tráng ấy, hang đá được nhân dân gọi bằng cái tên đầy xúc động Hang Hỏa Tiễn. Trong những năm tháng chiến tranh, khu vực Hoàng Mai là cửa ngõ giao thông chiến lược của miền Bắc với hệ thống đường bộ, đường sắt và đường thủy quan trọng phục vụ chi viện cho chiến trường miền Nam. Các địa danh như ga Hoàng Mai, cầu Hoàng Mai, cầu Rí hay mỏ đá Hoàng Mai thường xuyên trở thành mục tiêu đánh phá ác liệt của không quân Mỹ. Dù phải đối mặt với bom đạn, thiếu thốn và hiểm nguy, những thanh niên xung phong vẫn kiên cường bám trụ với tinh thần "Sống bám cầu, bám đường; chết kiên cường dũng cảm", quyết tâm giữ vững huyết mạch giao thông. Sự hy sinh của 33 thanh niên xung phong đã trở thành biểu tượng sáng ngời của chủ nghĩa anh hùng cách mạng và tinh thần cống hiến của tuổi trẻ Việt Nam. Năm 2003, các anh, chị được Nhà nước truy tặng danh hiệu Liệt sĩ và cấp Bằng Tổ quốc ghi công. Đến năm 2011, Cụm di tích Hang Hỏa Tiễn và Nghĩa trang Liệt sĩ Đường sắt được xếp hạng Di tích lịch sử quốc gia, trở thành nơi tri ân các anh hùng liệt sĩ và giáo dục truyền thống yêu nước cho các thế hệ hôm nay. Ngày nay, Hang Hỏa Tiễn là điểm đến mang ý nghĩa lịch sử và nhân văn sâu sắc. Đến đây, du khách không chỉ được tìm hiểu về một giai đoạn hào hùng của dân tộc mà còn cảm nhận rõ hơn giá trị của hòa bình, độc lập và sự hy sinh to lớn của những thế hệ đi trước vì tương lai của đất nước. Theo báo nhân dân điện tử

Nghệ An

894 lượt xem

Xếp hạng : Di tích cấp quốc gia

Mở

Di tích Chiến thắng Đèo Nhông – Dương Liễu

Di tích Chiến thắng Đèo Nhông – Dương Liễu

Di tích Chiến thắng Đèo Nhông – Dương Liễu là địa chỉ đỏ tiêu biểu của tỉnh Gia Lai, ghi dấu một trong những chiến công vang dội của quân và dân Khu 5 trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước. Trận đánh diễn ra vào đêm 6 rạng sáng 7/2/1965 (mùng 5 tháng Giêng năm Ất Tỵ) trên địa bàn nay thuộc xã Bình Dương, tỉnh Gia Lai, trở thành mốc son chói lọi trong lịch sử đấu tranh cách mạng của quân và dân miền Trung. Thời điểm đó, quân đội Mỹ và chính quyền Sài Gòn xây dựng hệ thống phòng thủ kiên cố tại Dương Liễu và Đèo Nhông, với nhiều đồn bốt, xe bọc thép M-113, pháo binh và máy bay yểm trợ nhằm kiểm soát tuyến giao thông chiến lược, ngăn chặn phong trào cách mạng. Trước tình hình đó, dưới sự chỉ đạo của Khu ủy Khu 5, Bộ Tư lệnh Quân khu 5 và Tỉnh ủy, Trung đoàn 2, Sư đoàn 3 Sao Vàng đã phối hợp chặt chẽ với lực lượng vũ trang địa phương và nhân dân tổ chức tiến công bất ngờ vào đồn Dương Liễu, sau đó phục kích trên tuyến Đèo Nhông, đánh tan lực lượng địch đến ứng cứu. Chiến thắng đã giành được kết quả to lớn khi loại khỏi vòng chiến đấu hơn 700 tên địch, bắn rơi và phá hủy 4 máy bay, tiêu diệt 10 xe bọc thép M-113, thu giữ 2 xe M-113 cùng nhiều vũ khí, trang bị quân sự. Đây là một trong những trận đánh tiêu biểu thể hiện nghệ thuật tác chiến hiệp đồng, khả năng phục kích và tiêu diệt lực lượng cơ giới hiện đại của quân giải phóng. Chiến thắng Đèo Nhông – Dương Liễu đã giáng đòn nặng nề vào chiến lược "Chiến tranh đặc biệt" của Mỹ trên chiến trường Khu 5, góp phần tạo khí thế mới cho phong trào đấu tranh cách mạng ở miền Trung. Đồng thời, chiến thắng khẳng định sự trưởng thành vượt bậc của bộ đội chủ lực và sức mạnh đoàn kết giữa quân với dân trong cuộc kháng chiến giành độc lập dân tộc. Ngày nay, di tích Chiến thắng Đèo Nhông – Dương Liễu không chỉ là nơi tưởng niệm các anh hùng liệt sĩ đã hy sinh vì Tổ quốc mà còn là điểm đến giáo dục truyền thống cách mạng, góp phần bồi đắp lòng yêu nước, niềm tự hào dân tộc và ý chí bảo vệ quê hương cho các thế hệ hôm nay và mai sau. Theo báo Gia Lai điện tử

Gia Lai

276 lượt xem

Xếp hạng : Di tích cấp quốc gia

Mở

Di tích tưởng niệm Ông Ích Đường

Di tích tưởng niệm Ông Ích Đường

Di tích tưởng niệm Ông Ích Đường gắn với cuộc đời và sự hy sinh của Ông Ích Đường (1890–1908), người con của làng Phong Lệ, nay thuộc phường Hòa Thọ Tây, thành phố Đà Nẵng. Ông là cháu nội của Ông Ích Khiêm và sinh ra trong một gia đình có truyền thống yêu nước, sớm nổi tiếng là người nghĩa hiệp, giỏi văn võ và luôn đứng về phía người dân nghèo. Năm 1908, hưởng ứng phong trào chống sưu thuế Trung Kỳ, Ông Ích Đường đã lãnh đạo nhân dân Hòa Vang tham gia đấu tranh chống áp bức. Sau khi cuộc khởi nghĩa thất bại, ông bị thực dân Pháp bắt và xử chém tại chợ Túy Loan khi mới 18 tuổi. Trước khi hy sinh, khí phách hiên ngang và tinh thần bất khuất của ông đã trở thành biểu tượng của lòng yêu nước và ý chí đấu tranh vì độc lập dân tộc. Sự hy sinh của Ông Ích Đường đã gây xúc động sâu sắc trong nhân dân địa phương. Người dân đã lập miếu thờ ngay tại nơi ông tuẫn nạn để tưởng nhớ công lao và khí tiết của người chí sĩ yêu nước. Trải qua thời gian, khu vực di tích tiếp tục được gìn giữ, tôn tạo với nhà bia tưởng niệm bên cạnh cây đa lịch sử – chứng nhân gắn liền với sự kiện năm 1908. Ngày nay, Di tích tưởng niệm Ông Ích Đường là địa chỉ đỏ giáo dục truyền thống yêu nước và tinh thần đấu tranh cách mạng cho các thế hệ, đồng thời là điểm đến giúp du khách tìm hiểu về phong trào chống sưu thuế Trung Kỳ và lịch sử đấu tranh của nhân dân Đà Nẵng đầu thế kỷ XX. Theo: Báo Đà Nẵng

Đà Nẵng

741 lượt xem

Xếp hạng : Di tích cấp quốc gia

Mở

Khu căn cứ cách mạng Huyện ủy Hòa Vang

Khu căn cứ cách mạng Huyện ủy Hòa Vang

Khu căn cứ cách mạng Huyện ủy Hòa Vang nằm tại khu vực tam giác núi Phú Túc – Ô Rây – Tống Cói, thuộc phường Hòa Vang. Với địa hình rừng núi hiểm trở, nơi đây từng là căn cứ địa quan trọng của lực lượng cách mạng trong hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ. Từ những năm 1947–1949, khu vực Đồng Xanh – Đồng Nghệ được lựa chọn làm nơi đặt cơ quan lãnh đạo của Huyện ủy Hòa Vang. Đến năm 1955, Tỉnh ủy Quảng Đà xây dựng căn cứ cách mạng cánh Tây Hòa Vang (mật danh B1), biến nơi đây thành trung tâm chỉ đạo phong trào cách mạng của khu vực phía tây và tây bắc. Trong thời gian này, Hòn đá Đà Nẵng và Hòn đá Non Nước trở thành những biểu tượng thiêng liêng của tinh thần yêu nước và ý chí đấu tranh kiên cường. Từ năm 1960, khu vực tam giác Phú Túc – Ô Rây – Tống Cói tiếp tục được chọn làm căn cứ địa kháng chiến của Huyện ủy Hòa Vang. Đây là nơi làm việc, chỉ đạo và hoạt động của nhiều cán bộ lãnh đạo huyện, đồng thời là địa điểm tổ chức các hội nghị, đại hội Đảng bộ, huấn luyện quân sự và chính trị cho lực lượng cách mạng trong những năm kháng chiến chống Mỹ. Địa hình rừng núi hiểm trở đã góp phần che chở, bảo vệ các cơ quan đầu não trước nhiều cuộc càn quét của đối phương. Trong suốt hai cuộc kháng chiến, Khu căn cứ cách mạng Huyện ủy Hòa Vang giữ vai trò là trung tâm lãnh đạo, chỉ huy và hậu cứ quan trọng của phong trào cách mạng địa phương, gắn liền với nhiều sự kiện lịch sử và hoạt động của các cán bộ lãnh đạo cấp tỉnh, khu và huyện. Để gìn giữ những giá trị lịch sử đó, khu di tích đã được đầu tư xây dựng nhà trưng bày, bia tưởng niệm cùng các hạng mục phục vụ tham quan. Ngày nay, nơi đây trở thành địa chỉ đỏ giáo dục truyền thống yêu nước, tưởng nhớ các thế hệ cách mạng đi trước và là điểm đến giúp du khách tìm hiểu về lịch sử đấu tranh anh dũng của quân và dân Hòa Vang trong sự nghiệp giải phóng dân tộc. Theo: Báo Đà Nẵng

Đà Nẵng

287 lượt xem

Xếp hạng : Di tích cấp quốc gia

Mở

Hải Vân Quan

Hải Vân Quan

Hải Vân Quan là công trình quân sự phòng thủ được xây dựng vào năm 1826, dưới triều vua Minh Mạng. Di tích nằm trên đỉnh Đèo Hải Vân ở độ cao khoảng 496 m so với mực nước biển, tại ranh giới giữa thành phố Huế và thành phố Đà Nẵng. Đây là vị trí chiến lược trên tuyến giao thông Bắc – Nam, đồng thời là cửa ngõ bảo vệ kinh đô Huế từ phía nam. Từ thời các chúa Nguyễn, đèo Hải Vân đã được xem là vùng đất hiểm yếu, giữ vai trò quan trọng về quân sự và phòng thủ. Khi nhà Nguyễn chọn Huế làm kinh đô, nơi đây càng được coi là "yết hầu" của đất nước. Chính vì vậy, vua Minh Mạng đã cho xây dựng Hải Vân Quan nhằm kiểm soát con đường thiên lý và tăng cường bảo vệ kinh thành. Công trình gồm hai cổng thành lớn xây bằng gạch đá theo kiến trúc vòm cuốn. Cổng quay về phía Đà Nẵng khắc ba chữ "Hải Vân Quan", còn cổng hướng về Huế khắc sáu chữ "Thiên hạ đệ nhất hùng quan" – lời ca ngợi vẻ đẹp hùng vĩ và vị thế hiểm yếu của đèo Hải Vân. Bao quanh cửa quan là hệ thống tường thành kiên cố cùng các hạng mục quân sự như đồn trú, kho vũ khí và vị trí quan sát. Trải qua nhiều biến động lịch sử, đặc biệt trong thời kỳ Pháp thuộc và chiến tranh, Hải Vân Quan bị cải tạo thành cứ điểm quân sự, nhiều hạng mục kiến trúc gốc bị phá hủy hoặc xuống cấp. Đến năm 2017, di tích được xếp hạng Di tích quốc gia, và từ năm 2021, Huế và Đà Nẵng đã phối hợp triển khai dự án trùng tu, phục hồi các hạng mục quan trọng, góp phần khôi phục diện mạo vốn có của công trình. Ngày nay, Hải Vân Quan không chỉ là di tích lịch sử có giá trị đặc biệt mà còn là điểm dừng chân nổi tiếng trên cung đường đèo Hải Vân. Từ đây, du khách có thể phóng tầm mắt ngắm toàn cảnh núi non, biển cả và một trong những cung đường ven biển đẹp nhất Việt Nam. Với giá trị lịch sử, kiến trúc và cảnh quan độc đáo, Hải Vân Quan là điểm đến không thể bỏ qua trong hành trình khám phá miền Trung. Theo: Thông tấn xã Việt Nam

Đà Nẵng

834 lượt xem

Xếp hạng : Di tích cấp quốc gia

Mở

Mộ ông Banjiro - thương nhân Nhật Bản

Mộ ông Banjiro - thương nhân Nhật Bản

Mộ ông Banjiro - thương nhân Nhật Bản - Khối Trường Lệ - Xã Cẩm Hà Ông Banjiro là một thương gia Nhật Bản mất tại Hội An. Mộ ở gần đường từ phố cổ đi xuống biển An Bàng và còn giữ được những dấu vết nguyên thuỷ xây dựng từ thế kỷ XVII. Bia mộ có niên đại 1665. Phía sau mộ có một tấm bia bằng xi măng khắc chìm chữ Nhật, nội dung như sau: “Năm Chiêu Hoà thứ 3 (1928) theo đề xuất của giáo sư văn học Kuroita Katsumi, tập thể người Nhật cư trú tại Đông Dương (nay là Việt Nam, Campuchia, Lào) đề nghị ông Nakayama phụ trách giám sát việc tu sửa ngôi mộ này”. Gần đây Hội An tiếp tục tu bổ giữ gìn chu đáo ngôi mộ này. Di tích được xếp hạng di tích quốc gia năm 1991. Mộ ông Banjiro xây bằng hợp chất vôi, cát, nước vỏ cây, mật mía... Nấm mộ hình yên ngựa, quay hướng Đông Bắc, kích thước 190cm x 85cm. Trước mặt mộ có một tấm bia làm bằng đá muối, hai bên có 2 hàng chữ. Trước đây ngôi mộ này không có người trông nom, tu sửa. Sau khi Bộ Văn hóa ra quyết định công nhận Khu phố cổ Hội An, khu mộ này thường xuyên được Ban Quản lý Di tích Hội An quan tâm bảo quản và tu sửa. Hiện tại ngôi mộ được gia đình ông Nguyễn Nước thường xuyên trông nom, thắp hương. Di tích góp phần làm sáng tỏ quá trình hình thành Khu phố cổ Hội An, nhất là thời kỳ thương nhân Nhật Bản đến Hội An trao đổi buôn bán. Nguồn: Đô thị cổ Hội An

Đà Nẵng

264 lượt xem

Xếp hạng : Di tích cấp quốc gia

Mở

Khu di tích Đặc Khu ủy Quảng Đà

Khu di tích Đặc Khu ủy Quảng Đà

Khu di tích Đặc Khu ủy Quảng Đà Hòn Tàu là dãy núi giáp ranh giữa Duy Xuyên, Nông Sơn và Quế Sơn. Với vị trí chiến lược, nơi đây đã được Đặc Khu ủy Quảng Đà chọn làm căn cứ cách mạng trong 8 năm cuối cuộc chiến chống Mỹ (1967-1975). Với quyết tâm “Tất cả cho tổng công kích, tất cả cho tổng khởi nghĩa Xuân Mậu Thân 1968”, Đặc Khu ủy Quảng Đà chủ trương chỉ đạo tập trung huy động mọi lực lượng chuẩn bị nổi dậy. Căn cứ Hòn Tàu là nơi quan và dân ta chịu nhiều hy sinh, mất mát. Nhiều đồng chí là lãnh đạo Đặc Khu ủy và hàng trăm cán bộ, chiến sĩ đã anh dũng hy sinh. Đặc biệt, có 10 cán bộ, nhân viên của Ban Tuyên huấn hy sinh do bị bom B52 của Mỹ đánh sập nơi ở và làm việc vào sáng 22/5/1972. Mặc dù chịu nhiều hy sinh, mất mát, cán bộ, chiến sĩ Đặc Khu ủy Quảng Đà vẫn vững vàng tiếp tục thực hiện việc chỉ đạo các cuộc tiến công chiến lược, quyết định nhiều chủ trương quan trọng, hợp đồng chặt chẽ với các cánh quân chủ lực giải phóng các huyện phía Tây của tỉnh Quảng Nam, tạo thế gọng kìm, góp phần hoàn thành chiến dịch giải phóng Đà Nẵng năm 1975. Năm 2012, di tích Hòn Tàu được Bộ VHTT&DL xếp hạng Di tích Lịch sử cấp quốc gia. Sau khi có quyết định xếp hạng di tích, Sở VHTT&DL tỉnh Quảng Nam đã lập hồ sơ trình Bộ VHTT&DL phê duyệt và triển khai lập dự án phục dựng di tích. Qua hơn 2 năm triển khai thực hiện, đến nay Khu di tích Đặc Khu ủy Quảng Đà cơ bản đã hoàn thành đúng dịp kỷ niệm 50 năm thành lập Đặc Khu ủy (tháng 10/1967 - tháng 10/2017). Nguồn: Báo Chính Phủ

Đà Nẵng

385 lượt xem

Xếp hạng : Di tích cấp quốc gia

Mở

Di tích nổi bật

Xem tất cả
Khu di tích Láng Le Bàu Cò

Khu di tích Láng Le Bàu Cò

Khu di tích Láng Le Bàu Cò tọa lạc tại xã Tân Nhựt, huyện Bình Chánh, Tp HCM. Láng Le Bàu Cò gắn liền với cuộc kháng chiến chống Pháp xâm lược vào năm 1948 với những trận đánh lớn đi vào lịch sử. Di tích Láng Le Bàu Cò được công nhận là di tích lịch sử cấp thành phố vào năm 2003. Sở dĩ được gọi tên là khu di tích Láng Le Bàu Cò vì Tên gọi của khu di tích Láng Le Bàu Cò là do người dân địa phương đặt ra. Xóm làng được thành lập cạnh những con kênh rạch chằng chịt và dòng sông. Láng Le Bàu Cò có vị trí nằm ở bên trong cánh đồng có diện tích rộng lớn và có rất nhiều tôm, cua, cá. Cùng với nhiều loài chim như vịt trời, cò, con le le, cúm núm, cồng cộc, đa đa, diệc, đỏ nách tới kiếm ăn tại đây. Vì vậy, người dân Tân Nhựt gọi với cái tên thân thuộc và mộc mạc đó là Láng Le Bàu Cò. Di tích Láng Le Bàu Cò được xem là cửa ngõ để di chuyển tới trung tâm căn cứ Vườn Thơm và tấn công cơ quan đầu não của quân địch tại Sài Gòn. Trước đây khu di tích Láng Le Bàu Cò vốn là cánh đồng lau sậy mọc um tùm. Vào ngày 15/4/1948 thực dân Pháp đưa 3 nghìn quân lính cùng nhiều vũ khí hiện đại đồng loạt tấn công khu vực Láng Le Bàu Cò nhằm tiêu diệt căn cứ Vườn Thơm. Khi đó lực lượng vũ trang cách mạng ở Láng Le - Bàu vì lực lượng nhỏ và vũ khí thô sơ tuy nhiên được sự giúp đỡ của người dân địa phương cùng với lợi thế về địa hình. Chỉ sau hơn nửa ngày đấu tranh đã chuyển sang tấn công khiến quân Pháp bị thương vong với số lượng lớn. Chiến thắng Láng Le Bàu Cò đã tiêu diệt 300 tên địch và bắt sống 30 lính đánh thuê cùng phá hủy nhiều máy móc, xe nhà binh, súng các loại của quân giặc. Tuy nhiên, về phía ta có nhiều cán bộ chiến sĩ đã anh dũng hy sinh với tuổi đời còn rất trẻ. Ngày 14/10/1966 tại Láng Le tiểu đoàn biệt động quân Việt Nam Cộng Hòa bị dân quân du khách tiêu diệt. Khu di tích Láng Le Bàu Cò có ý nghĩa lịch sử to lớn đối với người dân Sài Gòn nói riêng và cả nước nói chung. Trước lòng căm thù thực dân Pháp, quân dân Láng Le Bàu Cò đã có cuộc chiến vang lừng lịch sử và có ý nghĩa to lớn mở đầu cho phía ta và phía địch. Đối với phía ta trận đánh mở đầu cho sự anh dũng trong tư thế kháng chiến vững mạnh. Còn với quân địch đã phải lùi vào thế bỏ chiến lược và bị tiêu diệt. Thực dân Pháp không còn định hình được chiến lược đánh bại Việt Minh. Hơn thế, tại căn cứ Vườn Thơm, Láng Le Bàu Cò còn diễn ra trận chiến quyết tâm bảo vệ căn cứ của ta và đập tan mọi kế hoạch phá hoại của quân giặc. Khu di tích Láng Le Bàu Cò sau phong trào Đồng Khởi vào năm 1960 còn là hậu cần, bàn đạp của lực lượng vũ trang để giải phóng Long An - Sài Gòn - Gia Định. Để tưởng nhớ sự hy sinh của đồng bào và các chiến sĩ của ta, vào năm 1988 huyện Bình Chánh đã xây dựng công trình lịch sử tại vùng đất Láng Le Bàu Cò với diện tích rộng 1000m2. Nguồn: Báo thông tin điện tử TP Hồ Chí Minh

TP Hồ Chí Minh

17575 lượt xem

Xếp hạng : Di tích cấp thành phố

Mở

Di Tích Lịch Sử Nhà Lao Tân Hiệp

Di Tích Lịch Sử Nhà Lao Tân Hiệp

Nhà lao Tân Hiệp còn có tên là "Trung tâm cải huấn Tân Hiệp" tọa lạc ở khu phố 6, phường Tân Tiến, TP Biên Hòa. Di tích Nhà lao Tân Hiệp đã được Bộ Văn Hoá Thể Thao xếp hạng là di tích cấp quốc gia ngày 15-1-1994. Nhà lao Tân Hiệp là một trong sáu nhà tù lớn nhất miền Nam Việt Nam và là nhà tù lớn nhất vùng Đông Nam bộ, được xây dựng ở vị trí quân sự quan trọng, án ngữ phía đông bắc thị xã Biên Hòa. Phía trước là quốc lộ 1; phía sau là đường xe lửa Bắc - Nam. Đây là vị trí biệt lập, thuận tiện trong giao thông, dễ dàng cho việc bảo vệ, canh gác, nhận tù từ nơi khác đến và chuyển tù đi Côn Đảo, Phú Quốc... Nhà lao Tân Hiệp có diện tích 46.520m2 với 8 trại giam, trong đó có 5 trại giam những người tù cộng sản, người yêu nước. Xung quanh nhà tù được bao bọc bởi 4 lớp kẽm gai bùng nhùng với 9 lô cốt, 3 tháp canh cùng đội lính bảo vệ và hệ thống báo động tối tân. Mang tên "Trung tâm cải huấn" nhưng thực chất bên trong là kho súng, phòng xét hỏi, tra tấn với những dụng cụ hiện đại bậc nhất. Mỗi trại giam chỉ có diện tích gần 200m2 nhưng giam giữ từ 300-400 người, có lúc lên đến cả ngàn người. Đặc biệt ở đây có các phòng "cải hối", "chuồng cọp" rất nhỏ hẹp và điều kiện sinh hoạt cực kỳ khắc nghiệt, tù nhân sống chẳng khác gì trong lò thiêu xác. Chế độ ăn uống cực kỳ mất vệ sinh, bọn cai ngục mua gạo mục, cá thối dùng để bón ruộng, chiên bằng dầu luyn cho tù nhân ăn dẫn đến nhiều người bị ngộ độc. Với quyết tâm thoát khỏi nhà tù đế quốc, trở về với Đảng, với nhân dân để tiếp tục chiến đấu, giải phóng dân tộc, ngày 2-12-1956, được sự nhất trí của Liên Tỉnh ủy miền Đông, những chiến sĩ cộng sản bị "câu lưu" trong nhà lao Tân Hiệp dưới sự chỉ đạo trực tiếp của đồng chí Nguyễn Trọng Tâm (Bảy Tâm) - phụ trách Đảng ủy nhà tù và một số đồng chí khác đã bất thần làm một cuộc phá xiềng tập thể giải thoát gần 500 đồng chí, đồng bào yêu nước. Sự kiện này đã làm xôn xao cả Lầu Năm Góc. Mỹ - Diệm vội vã huy động cả quân chủ lực lẫn bảo an, dân vệ đang trấn thủ 3 tỉnh Biên Hòa, Bà Rịa, Thủ Dầu Một và hai biệt đoàn biệt động quân đến bủa lưới bao vây, truy bắt đoàn tù nhưng đều thất bại. Các đồng chí, đồng bào của ta thoát khỏi nhà lao Tân Hiệp đã được sự giúp đỡ, che chở của các cơ sở địa phương, trở về căn cứ an toàn. Trong số tù nhân vượt ngục có các đồng chí: Bảy Tâm, Hai Thông, Lý Văn Sâm... đã trở thành những hạt nhân nòng cốt cho phong trào Đồng Khởi sau này. Năm 2001, để tái hiện phần nào tội ác của Mỹ - Diệm đối với các đồng chí, đồng bào ta bị giam cầm tại nhà lao Tân Hiệp và diễn tả lại toàn bộ cuộc nổi dậy phá khám Tân Hiệp ngày 2-12-1956, Bảo tàng Đồng Nai đã tiến hành sưu tầm hình ảnh, tài liệu, hiện vật trưng bày tại di tích và làm một sa bàn để phục vụ nhu cầu nghiên cứu, tham quan của mọi tầng lớp nhân dân. Hàng ngày, di tích luôn mở cửa đón khách tham quan. Nguồn: Báo Đồng Nai Điện Tử

Đồng Nai

16055 lượt xem

Xếp hạng : Di tích cấp quốc gia

Mở

Đền thờ Nguyễn Hữu Cảnh

Đền thờ Nguyễn Hữu Cảnh

Đền thờ Nguyễn Hữu Cảnh còn gọi là đình Bình Kính tọa lạc bên tả ngạn sông Đồng Nai, xưa kia thuộc ấp Bình Kính, thôn Bình Hoành, tổng Trấn Biên, nay là ấp Nhị Hòa, xã Hiệp Hòa, TP Biên Hòa, đã được Bộ Văn Hoá – Thông Tin – Thể Thao & Du Lịch xếp hạng là di tích lịch sử cấp quốc gia ngày 25-3-1991. Đền thờ Nguyễn Hữu Cảnh được xây dựng vào khoảng cuối thế kỷ 18, ban đầu ngôi đền có qui mô nhỏ, vách làm bằng ván, mái ngói âm dương, cách ngôi đền hiện tại khoảng 400m về hướng Nam. Các tư liệu cho biết: ngôi đền được xây dựng lại lần đầu tiên vào năm Tự Đức thứ tư (1851); đến năm 1923, đền được tái thiết lại ở địa điểm hiện nay. Nguyễn Hữu Cảnh sinh vào năm 1650 tại Gia Miêu, huyện Tống Sơn, tỉnh Thanh Hóa trong một gia đình có nhiều bậc danh tướng đương triều. Ông là người văn võ song toàn, lập được nhiều chiến công lớn và được chúa Nguyễn tin yêu, trọng vọng. Mùa Xuân năm Mậu Dần (1698), ông vâng lệnh chúa Nguyễn vào kinh lược xứ Đàng Trong khi ấy còn rất hoang vu. Đến đất Đồng Nai, ông đặt Đại bản doanh ở Cù lao Phố (nay là xã Hiệp Hòa); lấy đất Đồng Nai làm huyện Phước Long, dựng dinh Trấn Biên, lấy xứ Sài Gòn làm huyện Tân Bình, dựng dinh Phiên Trấn, đất đai mở mang ngàn dặm. Ông chiêu mộ lưu dân đến lập nghiệp, tổ chức bộ máy hành chính từng bước có qui củ, khuyến khích khai hoang, thúc đẩy Cù lao Phố phát triển thành một trong những cảng thị sầm uất, năng động nhất đàng Trong suốt thế kỷ 18 và chính thức sáp nhập vùng đất mới phương Nam vào bản đồ Đại Việt. Sau khi kinh lược phương Nam trở về, năm sau ông lại phụng mệnh chúa Nguyễn Phúc Chu thống lĩnh đại binh dẹp vua Chân Lạp giữ vững miền biên ải phương Nam. Tháng 4 năm Canh Thìn (1700), sau khi hoàn thành sứ mệnh, trên đường trở về đến Rạch Gầm (Tiền Giang) thì ông thọ bệnh qua đời nhằm ngày 16 tháng 5 âm lịch, thọ 51 tuổi. Trên đường di quan ông về quê an táng, quan tài của ông được đình lại khu đất khi xưa ông đặt Đại bản doanh ở Cù lao Phố để cho nhân dân địa phương có dịp bái biệt ông lần cuối. Nơi đình quan đã được nhân dân địa phương xây một ngôi mộ vọng để ghi nhớ sự kiện này. Khi hay tin Nguyễn Hữu Cảnh mất, Chúa Nguyễn vô cùng thương tiếc đã phong tặng ông là Thượng đẳng công thần đặc Trấn phủ Chưởng cơ với tước: Lễ Thành Hầu và đưa bài vị của ông vào thờ tại Thái miếu. Nguồn: Báo Đồng Nai Điện Tử

Đồng Nai

14354 lượt xem

Xếp hạng : Di tích cấp quốc gia

Mở

Di tích chiến thắng La Ngà

Di tích chiến thắng La Ngà

Di tích chiến thắng La Ngà (tại km số 104-112 trên quốc lộ 20 đi Đà Lạt, thuộc xã Phú Ngọc, huyện Định Quán) được Bộ Văn hóa xếp hạng di tích lịch sử cấp quốc gia ngày 12-12-1986. Để cổ vũ cho chiến thắng Việt Bắc thu - đông 1947 và cũng để giáng cho kẻ thù một đòn chí mạng, Ban chỉ huy chi đội 10 đã quyết định phải tổ chức một trận đánh lớn, để quân giặc thấy rằng dân tộc Việt Nam, con người Việt Nam không dễ dàng chịu khuất phục trước bất kì một kẻ thù nào; Bằng tinh thần quả cảm và sự khôn khéo sau gần nửa năm chuẩn bị, nghiên cứu địa hình, chọn địa điểm: vào lúc 15 giờ 12 phút ngày 1/3/1948 trận chiến phục kích La Ngà bắt đầu và kết thúc vào lúc 15 giờ 57 phút cùng ngày, chỉ trong vòng 45 phút. Chiến thắng La Ngà đã làm nức lòng nhân dân Định Quán nói riêng, quân dân Đồng Nai nói chung. Đây là chiến thắng thể hiện sự mưu trí, dũng cảm của quân và dân ta làm cho địch một phen kinh hồn, bạt phía. Từ chiến thắng này lực lượng ta ngày càng thêm lớn mạnh, góp phần đánh bại kế hoạch đánh nhanh, thắng nhanh của địch, buộc chúng phải rơi vào thế bị động. Quần thể danh thắng đá Chồng, Thác Mai, sông La Ngà và Tượng đài chiến thắng La Ngà là một quần thể du lịch kì thú của Định Quán. Vẻ đẹp kỳ thú của Hòn Ba Chồng, Núi Đá Voi, Hòn Dĩa, cùng với ngôi chùa thiên nhiên dưới chân núi đá là những cụm tiêu biểu tạo thành cảnh đẹp hài hòa cho khu danh thắng Đá Chồng. Quần thể Đá Chồng Định Quán còn là nơi lưu lại những dấu tích của cuộc sống người tiền sử. Tại đây dưới các mái đá, ven các khe suối và cả các sườn dốc ven thung lũng đã phát hiện nhiều công cụ sản xuất, sinh hoạt của người xưa bằng đá, đồng, đất nung. Trong suốt cuộc kháng chiến dài 30 năm. Định Quán là một phần quan trọng của Chiến khu Đ. Đá Chồng đã chứng kiến sự hình thành, phát triển, trú quân, triển khai chiến đấu của lực lượng cách mạng. Ngày nay, một phần đất của khu danh thắng Đá Chồng Định Quán đã được sử dụng, xây dựng thành khu Trung tâm văn hóa thể thao huyện Định Quán. Tương lai không xa khu danh thắng Đá Chồng Định Quán sẽ được đầu tư tôn tạo góp phần làm cho cảnh quan thiên nhiên ngày càng tươi đẹp, là địa điểm du lịch sinh thái hấp dẫn. Nguồn: Uỷ Ban Nhân Dân Huyện Định Quán

Đồng Nai

14201 lượt xem

Xếp hạng : Di tích cấp quốc gia

Mở

Tháp cổ Chót Mạt

Tháp cổ Chót Mạt

Di tích Lịch sử-Văn hóa Tháp Chót Mạt, tọa lạc ấp Xóm Tháp, xã Tân Phong, huyện Tân Biên, tỉnh Tây Ninh, được Bộ Văn hóa Thông tin (nay là Bộ Văn hóa Thể thao và Du lịch) công nhận là di tích lịch sử - văn hóa ngày 23 tháng 7 năm 1993. Đồng thời là một trong ba công trình tháp cổ cuối cùng còn lại ở miền Nam nước ta. Trải qua nhiều lần trùng tu vào các năm 1938, 2003 và gần đây nhất là vào năm 2013. Mặc dù trải qua các đợt trùng tu tôn tạo, nhưng khu di tích tháp cổ Chót Mạt đã mang cho mình một diện mạo mới nhưng vẫn giữ nguyên được tinh thần kiến trúc cổ. Toàn bộ tòa Tháp được xây dựng bằng gạch và đá phiến với phần đỉnh tháp nhọn dần lên, từ mặt đất lên nơi cao nhất của đỉnh tháp được ước tính là 10m. Ngoài ra, ngọn tháp cổ này nằm trên gò đất cao giữa cánh đồng nên nhìn từ xa nó tựa như ngọn bút đang vươn lên cao dần. Năm 2003 Uỷ ban nhân dân tỉnh Tây Ninh quyết định phê duyệt dự án đầu tư trùng tu tôn tạo bảo tồn di tích tháp Chót Mạt và được tiến hành triển khai trùng tu tôn tạo phục hồi, trưng bày mở hố khai quật năm 2003 đưa vào sử dụng. Ngày 27/11/2019 UBND tỉnh ban hành Quyết định Quy định về phân cấp quản lý, bảo vệ và phát huy giá trị di tích lịch sử văn hóa và danh lam thắng cảnh trên địa bàn tỉnh Tây Ninh. Quyết định giao UBND huyện Tân Biên trực tiếp quản lý 4 di tích, trong đó có di tích cấp Quốc gia di tích Lịch sử- văn Hóa Tháp Chót Mạt. Đặc biệt Di tích Lịch sử-Văn hóa Tháp Chót Mạt trên địa bàn xã Tân Phong, huyện Tân Biên được chọn nằm trong chũi liên kết phát triển du lịch của Tỉnh Tây Ninh. Đây là một địa điểm tham quan rất đáng để khám phá, góp phần phát triển du lịch trên địa bàn xã Tân Phong nói riêng và huyện Tân Biên nói chung. Nguồn: Cổng thông tin điện tử tỉnh Tây Ninh

Tây Ninh

13963 lượt xem

Xếp hạng : Di tích cấp quốc gia

Mở

Dinh Quận Hóc Môn

Dinh Quận Hóc Môn

Dinh Quận Hóc Môn tọa lạc tại số 1, đường Lý Nam Đế, thị trấn Hóc Môn, (cạnh trụ sở UBND huyện) là nơi để lại nhiều sự kiện đấu tranh nổi bật suốt chặng đường dài lịch sử từ 1885 đến ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng của Nhân dân 18 Thôn vườn trầu. Sau khi hạ được Đại đồn Chí Hòa, thực dân Pháp xây dựng tại nơi đây một ngôi nhà gỗ cao 3 tầng dùng làm Đồn binh. Khi tên Trần Tử Ca về nhậm chức Đốc Phủ, dùng Đồn làm Dinh huyện Bình Long. Vốn là một tay say quỷ quyệt của thực dân Pháp, Trần Tử Ca bị nhóm do các ông Phan Văn Hớn (Quản Hớn) và Nguyễn Văn Quá (Chánh Lãnh Binh) cầm đầu gần 1.000 nghĩa quân tiến về đốt Dinh Quận, bắt và cắt đầu bêu giữa chợ. Đó là ngày 8/2/1885 Tết Ất Dậu. Sau đó, Dinh Quận Hóc Môn được xây dựng lại với nền móng đá xanh, tường gạch, có hệ thống phòng thủ từ lầu cao đến tận vòng rào. Lối kiến trúc y như Đồn binh nên người địa phương gọi là Đồn Hóc Môn. Trấn nhậm thay Trần Tử Ca là Đốc phủ Ngôn, đến Quận Trà rồi Quận Thọ. Đây là khoảng thời gian dài người dân vùng Hóc Môn hứng chịu bao cảnh tham tàn, bỉ ổi của thực dân Pháp và bọn tay sai đầu sỏ kể trên. Với truyền thống kiên cường bất khuất của Nhân dân Hóc Môn. Ngày 4/6/1930, khoảng 6 giờ sáng trước Dinh Quận, hàng trăm bà con Hóc Môn kéo biểu tình đòi “bãi bỏ thuế thân, giảm các thuế môn bài và thuế chợ, cấp đất cho dân cày nghèo”. Quận Trà cho mời những người cầm đầu vào Dinh thương lượng, nhưng chúng xảo quyệt bắt giữ họ trong đó có ông Lê Văn Uôi (Bí thư xã Tân Thới Nhì), là người cầm đầu cuộc biểu tình. Mọi người không nao núng, quyết liệt đòi hỏi Quận Trà phải thả những người bị cầm giữ. Đoàn biểu tình càng lúc càng đông, khí thế đấu tranh có phần lan rộng, khiến Quận Trà nhượng bộ. Một mặt chúng thả những người bị giữ, mặc khác chúng gọi điện cho quan thầy ở Sài Gòn cứu viện. 2 giờ sau, cuộc đấu tranh bị 2 tên Blachôlê và Nobbot chỉ huy bắn xối xả vào đoàn biểu tình, gây thương vong nhiều người. Nhưng sự kiện lịch sử gây ấn tượng nhất tại Dinh Quận Hóc Môn là cuộc khởi nghĩa Nam kỳ ngày 23/11/1940. Đồn Hóc Môn rất kiên cố, xây bằng đá xanh như là một pháo đài, cao khoảng 15 thước, có ụ súng và hệ thống phòng thủ lỗ châu mai do một trung đội lính khố xanh trấn giữ. Ngày 22/11/1940, Pháp tăng cường thêm 1 trung đội để đối phó với tình hình. Chiều 22/11/1940, cánh quân của ông Đỗ Văn Cội đột nhập vào thị trấn, giả dạng thường dân, phục kích sau lưng Đồn chờ lệnh cướp Đồn. Một cánh quân khác có nhiệm vụ phá cầu, đốn cây ngăn lộ, đánh chiếm các công sở, nhà việc... Cánh quân từ Phước Vĩnh An, Tân Thông, Tân An Hội, Tân Phú Trung do ông Phạm Văn Sáng và Đặng Công Bỉnh chỉ huy, xuất phát từ ấp Bến Đò, đánh chiếm nhà việc, diệt 1 tên, thu 4 súng, làm chủ tình hình tại đây (Tân Phú trung). Liền đó cánh quân này được lệnh kéo về Hóc Môn. Cánh quân Long Tuy Thượng do ông Bùi Văn Hoạt chỉ huy. Cánh quân thuộc Tổng Long Tuy Trung do ông Đỗ Văn Dậy và Lê Bình Đẳng chỉ huy. Khoảng 24 giờ đêm ngày 22/11/1940, vẫn chưa nghe thấy tiếng pháo lệnh ở Sài Gòn. Sau khi hội ý, các vị chỉ huy những cánh quân thống nhất tấn công Đồn giặc. Lập tức các cánh quân tiến thẳng về Đồn Hóc Môn, nơi trú ngụ của tên Quận trưởng Bùi Ngọc Thọ. 2 nghĩa quân tên Nghé và Kinh xung phong vào cổng trước, hy sinh. Nghĩa quân bốn phía xông vào Đồn như nước vỡ bờ. Trước sức mạnh của nghĩa quân và quần chúng, bọn lính trong Đồn không còn tinh thần kháng cự, bỏ chạy tán loạn. Nghĩa quân chiếm lĩnh hoàn toàn bên trong Đồn nhưng trên lầu, địch vẫn ngoan cố dùng súng bắn tẻ, cùng lúc gọi điện về Sài Gòn, Thủ Dầu Một cấp cứu. Vì nóng lòng bắt cho được tên Quận Thọ nên đồng chí Đỗ Văn Dậy bám ống máng nước để leo lên tầng trên Đồn. Đến lưng chừng bị trúng đạn, đồng chí bị rơi xuống và hy sinh sau đó. Cuộc chiến đấu đang thế giằng co thì viện binh địch đến. Không thể cầm cự, nghĩa quân rút khỏi thị trấn, phân tán về các làng, lực lượng vũ trang rút về ấp Bến Đò (Tân Phú Trung) rồi di chuyển sang ấp Mỹ Hạnh (Đức Hòa). Cuộc tiến công Đồn Hóc Môn (sau gọi là Dinh Quận Hóc Môn) tuy thất bại nhưng đã để lại ấn tượng sâu sắc trong lòng mọi người dân sự khâm phục lòng dũng cảm của các chiến sĩ cách mạng trong cuộc chiến đấu chống thực dân cướp nước. Trong chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, 7 giờ sáng ngày 30/4/1975, thị trấn Hóc Môn hoàn toàn được giải phóng, lá cờ Tổ quốc phất phới bay trên Dinh Quận, nơi tên Quận trưởng Nguyễn Như Sang và bọn tay sai đã chạy trốn từ tối đêm trước. Ngày nay Dinh Quận Hóc Môn được chọn làm Bảo tàng huyện, nơi đây tập trung nhiều tư liệu trưng bày, minh họa các giai đoạn lịch sử thăng trầm cũng như khí thế đấu tranh cách mạng của quân và dân trong huyện Hóc Môn qua 2 cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ. Một Tượng đài đặt trước di tích Dinh Quận Hóc Môn thể hiện gương hy sinh bất khuất của quân và dân 18 Thôn Vườn trầu, được công nhận là di tích lịch sử văn hóa cấp Quốc gia. Nguồn: Ủy ban nhân dân huyện Hóc Môn

TP Hồ Chí Minh

13459 lượt xem

Xếp hạng : Di tích cấp quốc gia

Mở

Tòa đại sứ quán Mỹ

Tòa đại sứ quán Mỹ

Di tích tòa Đại sứ Mỹ còn được gọi "Nhà trắng phương Đông" là nơi xuất phát các âm mưu thâm độc về quân sự lẫn chính trị nhằm thôn tính lâu dài đất nước Việt Nam, địa điểm di tích là tòa nhà 5 tầng xây dựng theo kiến trúc hiện đại, tọa lạc tại góc đường Mạc Đĩnh Chi - Lê Duẩn, Phường Bến Nghé, Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh, trên một mảnh đất rộng gần 5.000m2. Trước đó, tòa đại sứ Mỹ nằm tại số 39 đường Hàm Nghi. Khoảng 10 giờ sáng ngày 30/3/1963, tòa đại sứ Mỹ trên đường Hàm Nghi đã bị đội Biệt động F21 đánh chất nổ làm sập 3 tầng lầu: 1, 2, 3 do đó Mỹ đã quyết định xây lại. Tòa nhà được khởi công xây dựng vào năm 1965, hầu hết vật liệu cũng như máy móc xây dựng đều được chở từ Mỹ sang, dưới sự điều khiển của kỹ sư người Mỹ. Theo thiết kế, tòa nhà bao bọc bởi 7.800 viên đá Taredo có khả năng chống đỡ mìn, đạn pháo. Cửa chính trang bị bằng thép dầy, những cửa khác chắn bởi lớp kín dầy đặc biệt chống đạn. Tất cả cửa sử dụng hệ thống tự động kể cả cửa sắt chắn lối lên các tầng lầu. Bên trong tòa nhà gồm 140 phòng với 200 nhân viên phục vụ ngày đêm ngoài ra bên cạnh tòa nhà còn được xây thêm một dãy nhà phụ gọi là khu "Norodom" dành riêng cho nhân viên C.I.A. Khi khánh thành, tòa nhà chỉ có 3 tầng. Cuối năm 1966 xây thêm 2 tầng và 1 sân thượng dùng làm nơi hạ cánh cho máy bay lên thẳng. Bao quanh tòa nhà là bức tường cao 3m, hai đầu tường sát đường Lê Duẩn xây 2 lô - cốt cao, canh gác ngày đêm. Tòa Đại sứ hoàn thành tháng 9/1967 với một hệ thống phòng thủ như là một pháo đài có 60 lính gác, một hầm tránh bom, một hệ thống màn hình ra-đa nhằm kiểm soát mặt tiền. Ngay sau khi tòa nhà hoàn tất, ngày 24/9/1967, hàng ngàn sinh viên, học sinh kéo đến trước cổng Đại sứ quán Mỹ đấu tranh đòi "Mỹ chấm dứt ném bom miền Bắc", "Mỹ cút về nước" và ra thông báo tố cáo Mỹ "chà đạp và vi phạm nghiêm trọng quyền tự quyết của nhân dân miền Nam". Nhưng sự kiện nổi bật xảy ra tại Tòa Đại sứ Mỹ là trận đánh của Biệt động thành trong Tổng Tiến công và nổi dậy xuân Mậu Thân 1968. Mục tiêu đánh Đại sứ quán Mỹ được bổ sung ngày 24/ 1/1968 do Ngô Thành Vân phụ trách chung. Đội Biệt động 11 nhận lãnh nhiệm vụ quan trọng này gồm đội trưởng Út Nhỏ (đội trưởng trinh sát quân khu) và các chiến sĩ: Bảy Truyền, Tước, Thanh, Chức, Trần Thế Ninh, Chính, Tài, Văn, Đực, Cao Hoài Vinh, Mang, Sáu và 2 lái xe: Trần Sĩ Hùng và Ngô Văn Thuận. Một sự kiện khác cũng không kém phần tủi nhục cho Toà Đại sứ Mỹ là cảnh hỗn loạn tháo chạy xảy ra trong 2 ngày 29 và 30/04/1975 của Mỹ và đồng bọn. Trước sức tấn công thần tốc của quân và dân Việt Nam trong chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, trên 1.000 người Mỹ và hơn 5.000 người Việt thân Mỹ đã chen lấn, xô đẩy, đạp nhau để tranh giành một chỗ trên sân thượng của toà nhà hòng được trực thăng cứu thoát. Di tích này đã được cấp bằng công nhận của Bộ Văn hoá ngày 25/6/1976. Hiện nay, toà nhà Đại Sứ Mỹ đã bị phá bỏ, xây mới thành lãnh sự quán tại Thành phố Hồ Chí Minh, nhưng cạnh đó một bia tưởng niệm ghi nhớ mãi chiến công của các chiến sĩ biệt động đã hy sinh trong trận đánh. Nguồn: Thành Đoàn Thành phố Hồ Chí Minh

TP Hồ Chí Minh

13336 lượt xem

Xếp hạng : Di tích cấp quốc gia

Mở

Lăng Mai Xuân Thưởng

Lăng Mai Xuân Thưởng

Mai Xuân Thưởng là người lãnh đạo phong trào Cần Vương chống Pháp cuối thế kỷ XIX ở Bình Định. Mai Xuân Thưởng sinh năm Canh Thân 1860, mất năm Đinh Hợi 1887 người thôn Phú Lạc, tổng Phú phong, huyện Tuy Viễn, tỉnh Bình Định (nay là thôn Phú Lạc, xã Bình Thành, huyện Tây Sơn, tỉnh Bình Định). Cha là Mai Xuân Tín làm Bố chánh ở Cao Bằng, mẹ là Huỳnh Thị Nguyệt con của một nhà quyền quý trong làng. Mai Xuân Thưởng vốn là người thông minh, ham học. Năm 18 tuổi (1878) ông đỗ Tú tài tại Trường thi Bình Định. năm 25 tuổi (1885) thi đỗ cử nhân. Hưởng ứng chiếu Cần vương của vua Hàm Nghi, Mai Xuân Thưởng về quê Phú Lạc, chiêu mộ nghĩa binh, lập căn cứ ở hòn Sưng dựng cờ cần vương chống Pháp, sau đó Mai Xuân Thưởng đã đem lực lượng của mình gia nhập vào nghĩa quân do Đào Doãn Địch lãnh đạo và được Đào Doãn Địch phong giữ chức Tán lương quân vụ (phụ trách về lương thực của nghĩa quân). Kể từ đó cho đến năm 1887, phong trào cần vương ở Bình Định phát triển mạnh mẽ và lan ra đến Quảng Ngãi, Phú Yên...thu hút hàng chục ngàn người thuộc mọi tầng lớp tham gia. Ngày 20/9/1885 Đào Doãn Địch mất, giao toàn bộ lực lượng cho Mai Xuân Thưởng. Ông chọn vùng núi Lộc Đổng (nay thuộc xã Bình Tường, huyện Tây Sơn) làm đại bản doanh và tổ chức lễ tế cờ , truyền hịch kêu gọi sỹ phu, văn thân, nhân dân tham gia phong trào cần Vương chống Pháp. Trong buổi lễ ấy, nghĩa quân nhiều vùng trong tỉnh Bình Định đã nhất trí suy tôn ông làm Nguyên soái lãnh đạo cuộc khởi nghĩa và nêu cao khẩu hiệu: “Tiền sát tả, hậu đả Tây”. Đầu năm 1887, quân Pháp dưới sự chỉ huy của Trung tá Cherrean và quân triều đình do Trần Bá Lộc chỉ huy cùng với Công sứ Trira đã mở cuộc tấn công lớn lên căn cứ đại bản doanh của phong trào Cần Vương Bình Định, trận giao chiến giữa lực lượng nghĩa quân với giặc Pháp diễn ra vô cùng ác liệt, cuộc chiến đấu không cân sức, cuối cùng lực lượng khởi nghĩa bị đẩy lùi. Tháng 3 năm 1887, sau trận ác chiến ở Bàu Sấu (thị xã An Nhơn, tỉnh Bình Định), Mai Xuân Thưởng bị thương nặng, nghĩa quân rút về Mật khu Linh Ðổng. Ngày 21 tháng 4 năm 1887, Trần Bá Lộc bao vây đánh chiếm căn cứ mật khu Linh Đổng và bắt được một số nghĩa quân, trong đó có thân mẫu Mai Nguyên Soái. Đêm 30 tháng 4 năm 1887, Mai Xuân Thưởng đã cử một đội quân cảm tử đột nhập doanh trại Trần Bá Lộc, giải vây cho những người bị bắt, ông cùng đoàn thuộc hạ gồm 50 người vượt núi vào Phú Yên, tiếp tục kháng chiến, nhưng khi đến đèo Phú Quý (ranh giới giữa Bình Định và Phú Yên) thị bị phục binh Trần Bá Lộc bắt và đưa ra xử trảm tại Gò Chàm (Phía đông Thành Bình Định). Di tích Lăng mộ nhà yêu nước Mai Xuân Thưởng tọa lạc trên ngọn đồi cao của dãy núi Ngang (thuộc thôn Hòa Sơn, xã Bình Tường, huyện Tây Sơn, tỉnh Bình Định) cách thành phố Quy Nhơn khoảng 50km về hướng Tây Bắc; Lăng mộ được xây dựng trên khu đất rộng 1988m2, khánh thành ngày 22 tháng 1 năm 1961.Về tổng thể, Lăng được thiết kế theo kiểu lăng mộ cổ, xung quanh có thành thấp bao bọc. Cổng Lăng (tam quan) là 4 trụ vuông, phía trên thắt lại theo kiểu bầu lọ mang dáng dấp kiến trúc cổng đình, miếu cuối thế kỷ XIX. Giữa nhà Lăng là mộ phần Mai Xuân Thưởng hình khối chữ nhật theo hướng Đông - Tây; Phía đầu mộ dựng tấm Bia đá khắc bài ký ghi tiểu sử và sự nghiệp của Mai Xuân Thưởng: Di tích được Bộ Văn hóa Thông tin quyết định xếp hạng cấp Quốc Gia ngày 20 tháng 4 năm 1995. Nguồn: UBND Huyện Tây Sơn tỉnh Bình Định

Gia Lai

13051 lượt xem

Xếp hạng : Di tích cấp quốc gia

Mở

Thành Nhà Mạc Ở Cao Bằng (Thành Nà Lữ, Thành Bản Phủ, Thành Phục Hòa)

Thành Nhà Mạc Ở Cao Bằng (Thành Nà Lữ, Thành Bản Phủ, Thành Phục Hòa)

Thời kỳ nhà Mạc đóng đô ở Cao Bằng, để phòng bị quân nhà Lê tiến đánh, nhà Mạc đã tu bổ, sửa chữa thành Na Lữ (nay thuộc xã Hoàng Tung, Hòa An) và thành Bản Phủ (nay thuộc xã Hưng Đạo), thành Phục Hòa, ngoài ra còn xây dựng nhiều thành lũy khác ở Cao Bằng, làm cho Cao Bằng trở thành một trung tâm chính trị và quân sự ở vùng biên viễn Đông Bắc thời bấy giờ. Thành Na Lữ và thành Phục Hoà là hai thành được xây dựng từ trước. Theo ghi chép của Bế Hựu Cung trong Cao Bằng thực lục, thành Na Lữ và thành Phục Hòa mở đầu từ đời Đường Ý Tông năm Giáp Thân, niên hiệu Hàm Thông thứ 5 (874). Căn cứ vào sự hiện diện của nhiều ngôi mộ cổ có đá khắc ghi bia mộ tên, địa chỉ, quê quán những người phu dịch xây thành chết ở đây từ thời Hàm Thông có thể khẳng định hai thành này xây từ đời Đường. Thành Na Lữ được xây qua nhiều triều đại khác nhau. Khi nhà Mạc lên Cao Bằng đã cho xây lại bằng gạch. Thành Na Lữ có hình gần chữ nhật, có tổng diện tích khoảng 37,5 ha, chiều dài khoảng 800 m, chiều rộng khoảng 600 m, thành có 4 cửa. Thành Bản Phủ tại kinh đô Nam Bình, nước Nam Cương của Thục Phán khi xưa ở Cao Bình (Cao Bằng), nhà Mạc đã tu bổ thành Vương phủ tại vòng trong của kinh đô cũ Nam Bình và được gọi là thành Bản Phủ hay Vương phủ. Tại kinh đô Nam Bình xưa của nước Nam Cương và của nhà Mạc, thành Bản Phủ vẫn còn dấu tích khá rõ nét. Kinh đô Nam Bình gồm có hai vòng thành, để bảo vệ kinh thành, vòng ngoài có chu vi khoảng 5 km, gồm cả một vùng gò đồi thấp, quanh chân đồi được bạt dựng đứng như một bức tường thành, thuận lợi cho việc xây dựng phòng tuyến bảo vệ. Bờ thành phía Tây chạy song song với bờ sông Bằng đến đầu làng Bó Mạ, nối bờ thành Đông Nam chảy qua trước mặt Bản Phủ theo chân đồi ra gặp quốc lộ 4, phía Đông Bắc chạy theo chân đồi sát phía ngoài quốc lộ 4, lên đến Đầu gò là phía Tây Bắc tiếp tục chạy theo chân đồi, ra đến bờ sông gặp bờ thành phía Tây tạo thành một vòng thành khép kín. Khi nhà Mạc lên đóng đô đã tu sửa lại và xây dựng thêm một số công trình, trong đó thành Bản Phủ (thành nội - nơi của vua làm việc) được xây lên cao hơn trên các tường thành cũ từ thời kỳ Thục Phán, thành nằm trên một khu đất bằng phẳng. Cùng với việc xây dựng lại kinh thành, nhà Mạc còn xây dựng một hệ thống đồn bốt, thành lũy khá dày xung quanh kinh đô và một số điểm biên giới quan trọng, tạo thành một hệ thống bảo vệ kinh thành và bảo vệ biên giới. Thành Phục Hòa (huyện Phục Hoà) được xây theo kiểu hình vuông, mỗi chiều khoảng 400 m, gồm hai vòng thành, khoảng cách giữa hai vòng là 80 m. Hiện nay, tường thành phía Nam đã bị phá huỷ hoàn toàn. Thành Phục Hòa có 2 cổng chính: Cổng phía Bắc được mở thông ra quốc lộ đi Cửa khẩu Tà Lùng ngày nay, nhân dân thường gọi là Pác Cổng, cổng này được xây theo kiểu hình chữ nhật, rộng 8 m, cao 5 m, gồm hai cánh cổng làm bằng gỗ nghiến dày rất chắc chắn; cổng thứ hai ở phía Nam, mở thông ra bờ sông. Cả hai cổng đều bị san phẳng từ lâu, hiện nay không còn vết tích. Gần thành, tại phía Tây Bắc ngoại thành dọc bờ sông còn có nhiều vết tích lò nung gạch, nhân dân cho biết trong quá trình lao động, khai phá đã tìm thấy ở khu vực này nhiều lò gạch còn nguyên vẹn. Qua nghiên cứu, khảo sát cho thấy, tại Cao Bằng, nhà Mạc đã tu bổ, tôn tạo và xây dựng thêm nhiều thành, đồn luỹ, trong đó tu bổ, tôn tạo xây lại thành Bản Phủ, thành Na Lữ, thành Phục Hoà. Các đồn luỹ này đã tạo thành một hệ thống liên hoàn bảo vệ kinh thành khá vững chắc. Đến nay, những thành cổ nhà Mạc xây dựng thời kỳ đóng đô ở Cao Bằng, một số thành xây dựng bằng đất chỉ còn vết tích, nhưng các thành được xây bằng đá vẫn còn rất rõ. Nguồn: Báo Cao Bằng điện tử

Cao Bằng

12995 lượt xem

Xếp hạng : Di tích cấp quốc gia

Mở

KHU TƯỞNG NIỆM LIỆT SĨ NGÃ BA GIỒNG, DI TÍCH LỊCH SỬ QUỐC GIA

KHU TƯỞNG NIỆM LIỆT SĨ NGÃ BA GIỒNG, DI TÍCH LỊCH SỬ QUỐC GIA

Di tích Ngã Ba Giồng là di tích lịch sử cách mạng thuộc Ấp 5, xã Xuân Thới Thượng, huyện Hóc Môn. Được bao quanh bởi ba con đường: Phan Văn Hớn, Nguyễn Văn Bứa và tỉnh lộ 19. Khu di tích Ngã Ba Giồng là khu tưởng niệm về những sự kiện lịch sử trong hai cuộc khácg chiến chống ngoại xâm. Được công nhận là di tích lịch sử cấp quốc gia vào năm 2002. Ngã ba Giòng (còn có tên gọi đầy đủ là Ngã ba Giòng Bằng Lăng) nằm trên địa phận thôn Xuân Thới Tây thuộc 18 thôn vườn trầu xưa được hình thành từ những năm 1698 đến năm 1731. Từ lâu đời, Ngã ba Giồng là 1 địa danh có tên gọi dân gian đã đi vào lịch sử của quê hương 18 thôn vườn trầu Hóc Môn – Bà Điểm. Tục truyền rằng xưa kia nơi đây là 1 vùng đất giồng tương đối cao ráo và là nơi mọc nhiều cây bằng lăng nên địa danh này có tên gọi từ đó. Sau khi cuộc khởi nghĩa Nam kỳ (23/11/1940) bị thất bại, thực dân Pháp đã tăng cường đàn áp, khủng bố khốc liệt phong trào cách mạng vùng Hóc Môn – Bà Điểm. Chúng đã lập ra ở Hóc Môn 3 trường bắn để giết hại các đồng chí lãnh đạo Đảng, các đồng chí đồng bào yêu nước của quê hương Hóc Môn và các vùng lân cận. Ngã ba Giồng là trường bắn thứ ba ghi lại tội ác tày trời của giặc pháp và bọn tay sai đối với nhân dân Hóc Môn. Rút kinh nghiệm từ 2 trường bắn trước (1 tại rạp hát cũ trung tâm Quận lỵ Hóc Môn, 1 cạnh giếng nước sau Bệnh viện Hóc Môn ngày nay), chúng xử bắn công khai, bắt nhân dân đến xem nhằm mục đích uy hiếp tinh thần cách mạng của nhân dân Hóc Môn. Nhưng cách xử bắn đó đã phản tác dụng, nhân dân Hóc Môn đã tận mắt chứng kiến sự tàn ác của thực dân Pháp, sự hy sinh cao cả của các chiến sĩ cộng sản nên ngọn lửa yêu nước của họ càng bùng lên mãnh liệt. Trường bắn thứ 3 này, chúng không dám xây dựng gần trung tâm Quận lỵ nữa mà đưa ra khu vực Ngã ba Giồng là vùng hoang vắng, thưa dân để tránh sự phản kháng của nhân dân. Tại đây, chúng xây dựng thành 1 trường bắn có mô đất kiên cố dài 12m, cao 2,2m, phía trước có trồng 6 cột bắn, mỗi cột cao 1.7m, hướng bắn quay về phía đồng ruộng (bưng Tràm Lạc). Vào năm 1941, tại đây chúng lén lúc xử bắn rất nhiều lần, không cho nhân dân xem, hàng trăm chiến sĩ cộng sản và đồng bào yêu nước bị chúng giết hại. Với ý nghĩa lịch sử vô cùng thiêng liêng của Ngã ba Giồng, nơi ghi dấu tội ác dã man của giặc Pháp, nơi thể hiện ý chí chiến đấu bất khuất kiên cường và sự hy sinh cao cả của đồng chí và đồng bào ta sau cuộc khởi nghĩa Nam kỳ (23/11/1940); sau ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng (30/4/1975), huyện Hóc Môn đã nhanh chóng khôi phục và tôn tạo khu di tích lịch sử cách mạng Ngã ba Giồng nhằm giáo dục truyền thống cho các thế hệ thanh thiếu niên. Nơi đây đã trở thành điểm tham quan, nơi tổ chức lễ hội truyền thống trong những ngày lễ lớn hàng năm của huyện Hóc Môn và thành phố đặc biệt là lễ kỷ niệm ngày Nam kỳ Khởi nghĩa (23/11). Hiện nay được sự nhất trí của thành phố, huyện đang tiến hành tôn tạo xây dựng Ngã ba Giồng thành “Khu tưởng niệm liệt sĩ Ngã ba Giồng”. Nguồn: Cổng thông tin điện tử Hóc Môn

TP Hồ Chí Minh

12800 lượt xem

Xếp hạng : Di tích cấp quốc gia

Mở