Danh sách điểm di tích (1295)
Đền thờ vua An Dương Vương
Đền thờ vua An Dương Vương còn gọi là đền Thượng được xây dựng trên một quả đồi mà truyền thuyết nói là xưa có cung thất của vua. Di tích đền Thượng có diện tích rộng khoảng 19.138,6m2, được xây dựng theo hướng Nam, các công trình kiến trúc chính của ngôi đền nằm trên trục Dũng đạo (Thần đạo). Hồ nước phía trước khu đền khá lớn, có hình cung tròn với bờ cong tự nhiên được kè bằng đá, có lối đi và trồng cây xung quanh giữa hồ có giếng Ngọc. Trước đây, hồ nước thông với hào của hai vòng thành ngoài và ra tận bến sông phía Đông - Nam thành Ngoại. Theo truyền thuyết thì đây chính là hồ nước mà Mỵ Châu - Trọng Thủy thường từ đây đi thuyền du ngoạn khi chưa xảy ra cuộc chiến tranh xâm lược của Triệu Đà. Sau chiến tranh, Trọng Thủy nhảy xuống đây tự vẫn vì ân hận đã gây ra cái chết của người vợ yêu quý. Trong dân gian còn truyền tụng câu chuyện dòng máu của nàng Mỵ Châu khi bị Vua cha chém đầu, rơi xuống biển, loài trai ăn phải thì hóa thành ngọc trai, nếu đem về rửa ở giếng này thì ngọc càng thêm sáng và do đó giếng nước giữa hồ trước đền Thượng còn có tên là Giếng Ngọc. Đền Thượng có hai nghi môn là Nghi môn ngoại và Nghi môn nội. Nghi môn ngoại được xây dựng bằng gạch không trát, hình thức như một cổng thành có hai tầng, tầng dưới là 3 cửa đi, được xây kiểu cuốn vòm, tầng trên thu gọn dưới dạng vọng lâu 2 tầng 8 mái. Lối lên cửa giữa có đôi rồng đá lớn ở hai bên thành bậc cửa được tạo tác năm 1732. Qua Nghi môn ngoại là sân rồng hạ lát gạch Bát Tràng, giữa sân có một con đường lát đá chạy thẳng đến cửa chính Nghi môn nội. Do có quan niệm cho rằng: đền được xây trên “đầu rồng”, vì thế người ta đã tạo nên ở hai bên Sân rồng hạ 2 giếng nhỏ được gọi là “mắt rồng” tương xứng nhau, bên cạnh có 2 gò đất cao là “hàm rồng”. Nghi môn nội được đặt cao hơn mặt sân, lối lên có 7 bậc thềm đá xanh. Hai bên bậc thềm là đôi rồng tạo bằng vữa hợp chất. Qua Nghi môn nội là sân rồng thượng lát bằng gạch Bát Tràng. Chính giữa sân là con đường lát đá dẫn lên nhà Tiền tế còn được gọi là Đại bái hay Tiền bái. Tiền tế là một kiến trúc bề thế, mái lợp ngói mũi hài, có các góc đao cong vút và đắp tượng nghê chầu. Hai dãy nhà hành lang dài hai bên nối Tiền tế và Trung đường, giữa hai dãy hành lang là một tòa Phương đình. Hậu cung là một tòa nhà kiểu “chuôi vồ”, đấu mái liền với Trung đường. Trong Hậu cung có bức tượng vua An Dương Vương được đúc bằng đồng, nặng 200kg, có niên đại 1897. Nhà bia nằm trong tổng thể kiến trúc ngôi đền, được xây dựng trên một khu đất cao phía Tây của sân thượng, hướng mặt quay vào đền. Đây là một công trình kiến trúc nhỏ có dạng Phương đình, hai tầng tám mái - một kiến trúc gỗ mái lợp ngói mũi hài khá hài hòa xinh xắn. Căn cứ những mảng kiến trúc, hiện vật hiện còn, cho biết đền Thượng có thể được xây dựng khoảng thế kỷ 17-18. Theo BQL Di tích thành cổ loa
Hà Nội
393 lượt xem
Xếp hạng : Di tích cấp quốc gia đặc biệt
Cửa Bắc
Chứng nhân lịch sử giữa lòng Hoàng thành Hà Nội Nằm trên phố Phan Đình Phùng, Cửa Bắc (Chính Bắc Môn) là cổng thành duy nhất còn nguyên vẹn của Thành Hà Nội thời Nguyễn. Được xây dựng năm 1805 trên nền Cửa Bắc thời Lê, công trình không chỉ là dấu tích quý giá của kiến trúc quân sự xưa mà còn là biểu tượng cho tinh thần kiên cường của quân và dân Hà Nội trong những năm tháng chống giặc ngoại xâm. Cửa Bắc được xây dựng theo kiến trúc vọng lâu với phần cổng thành đồ sộ phía dưới và lầu canh tám mái phía trên. Từ vọng lâu, binh lính xưa có thể quan sát toàn bộ khu vực trong và ngoài thành để bảo vệ kinh thành. Trải qua hơn hai thế kỷ, công trình vẫn giữ được nhiều nét kiến trúc nguyên bản với tường thành bằng gạch và đá kiên cố, cổng gỗ lớn cùng dòng chữ Hán "Chính Bắc Môn" còn nguyên trên cổng. Điểm đặc biệt khiến Cửa Bắc trở thành di tích lịch sử có giá trị là hai vết đạn thần công vẫn còn hằn rõ trên mặt ngoài cổng thành. Đây là dấu tích của cuộc tấn công do quân Pháp tiến hành vào thành Hà Nội năm 1882, nhắc nhớ về những trận chiến oanh liệt trong lịch sử dân tộc. Bên trong vọng lâu hiện là nơi thờ hai vị Tổng đốc Hà Nội Nguyễn Tri Phương và Hoàng Diệu – những vị anh hùng đã chiến đấu và tuẫn tiết để bảo vệ thành Hà Nội trước sự xâm lược của thực dân Pháp. Không gian trang nghiêm cùng những hiện vật trưng bày giúp du khách hiểu thêm về tinh thần yêu nước, ý chí bất khuất của cha ông trong công cuộc bảo vệ Thăng Long – Hà Nội. Đến với Cửa Bắc, du khách không chỉ được chiêm ngưỡng một công trình kiến trúc cổ độc đáo mà còn có cơ hội khám phá quần thể Hoàng thành Thăng Long, tìm hiểu lịch sử kinh đô nghìn năm văn hiến và lưu lại những bức ảnh ấn tượng giữa hàng cây xanh cổ thụ trên phố Phan Đình Phùng – một trong những con đường đẹp nhất Hà Nội. Ngày nay, Cửa Bắc là điểm dừng chân không thể bỏ qua trong hành trình khám phá Thủ đô. Giữa nhịp sống hiện đại, công trình vẫn lặng lẽ gìn giữ những dấu ấn lịch sử, trở thành biểu tượng của lòng yêu nước, sự kiên cường và niềm tự hào về một Hà Nội nghìn năm văn hiến. Theo BQL Di tích Hoàng Thành Thăng Long
Hà Nội
504 lượt xem
Xếp hạng : Di tích cấp quốc gia đặc biệt
Ô Quan Chưởng
Cửa ô cuối cùng lưu giữ hồn xưa của Hà Nội Giữa nhịp sống sôi động của phố cổ Hà Nội, Ô Quan Chưởng vẫn lặng lẽ đứng đó như một chứng nhân của hơn hai thế kỷ lịch sử. Là cửa ô duy nhất còn sót lại của kinh thành Thăng Long, công trình không chỉ mang giá trị kiến trúc độc đáo mà còn là biểu tượng gợi nhớ về một Hà Nội ngàn năm văn hiến. Được xây dựng từ năm 1749 và trùng tu vào năm 1817 dưới triều Nguyễn, Ô Quan Chưởng còn có tên gọi Đông Hà Môn, nằm ở cửa ngõ phía Đông của kinh thành xưa. Công trình được xây dựng theo kiến trúc cổng vọng lâu với một cửa chính lớn, hai cửa phụ hai bên và vọng lâu bốn mái cong phía trên. Trên cổng vẫn còn nguyên ba chữ Hán "Đông Hà Môn", dấu ấn lịch sử đã tồn tại cùng năm tháng. Trải qua nhiều biến cố của lịch sử, Ô Quan Chưởng vẫn giữ được nét cổ kính với những bức tường gạch phủ rêu phong, mái ngói nhuốm màu thời gian và không gian bình yên giữa lòng phố thị. Đứng dưới cổng thành, du khách có cảm giác như được quay ngược thời gian, trở về với hình ảnh Thăng Long xưa – nơi những đoàn người, xe ngựa từng tấp nập ra vào qua cửa ô mỗi ngày. Không chỉ là một di tích lịch sử, Ô Quan Chưởng còn là điểm dừng chân yêu thích của du khách khi khám phá khu phố cổ Hà Nội. Từ đây, bạn có thể dễ dàng kết hợp tham quan chợ Đồng Xuân, phố Hàng Chiếu, phố đi bộ Hồ Gươm hay thưởng thức những món ăn đặc trưng của ẩm thực Hà thành. Đặc biệt, vào buổi sáng sớm hoặc chiều muộn, ánh nắng xuyên qua cổng thành tạo nên khung cảnh cổ kính, là thời điểm lý tưởng để lưu lại những bức ảnh đậm chất Hà Nội. Ngày nay, Ô Quan Chưởng không chỉ là di tích lịch sử quốc gia, mà còn là biểu tượng của sự trường tồn, lưu giữ ký ức về một Thăng Long xưa giữa lòng Thủ đô hiện đại. Nếu có dịp ghé thăm Hà Nội, đừng quên dừng chân tại Ô Quan Chưởng để cảm nhận vẻ đẹp mộc mạc, bình yên và lắng nghe những câu chuyện lịch sử còn vang vọng theo từng viên gạch cổ. Theo tạp chí người Hà Nội
Hà Nội
526 lượt xem
Xếp hạng : Di tích cấp quốc gia
Mộ thương nhân Nhật Bản Tani Yajirobei
Mộ thương nhân Nhật Bản Tani Yajirobei nằm tại Hội An Đông, TP Đà Nẵng, là minh chứng cho mối quan hệ giao thương giữa Việt Nam và Nhật Bản trong thời kỳ Hội An là thương cảng quốc tế sầm uất vào cuối thế kỷ XVI, đầu thế kỷ XVII. Ông Tani Yajirobei, quê ở Hirado (gần Nagasaki), đến Hội An buôn bán, định cư và qua đời tại đây. Bia mộ được lập năm 1647, ghi rõ quê quán Nhật Bản, là tư liệu quý về sự hiện diện của cộng đồng người Nhật tại Hội An. Ngôi mộ được xây dựng theo lối mộ cổ Hội An với nấm mộ bằng hợp chất truyền thống từ vôi, vỏ sò, vỏ hến, mật mía và nhựa cây bời lời tạo độ bền cao qua hàng trăm năm. Đây là một trong những di tích có giá trị về lịch sử, văn hóa và kiến trúc, góp phần minh chứng cho sự giao lưu kinh tế, văn hóa Việt Nam – Nhật Bản trong lịch sử. Mộ được xây trên một gò đất cao, quay hướng Đông Bắc theo quan niệm phong thủy truyền thống. Công trình gồm thành bao bằng sa thạch, nấm mộ hình yên ngựa và bia mộ bằng đá sa thạch. Năm 1991, Mộ thương nhân Nhật Bản Tani Yajirobei được xếp hạng Di tích lịch sử cấp Quốc gia. Ngày nay, di tích là điểm tham quan hấp dẫn, đặc biệt đối với du khách Nhật Bản và những người yêu thích tìm hiểu lịch sử thương cảng Hội An. Nguồn: Đô thị cổ Hội An
Đà Nẵng
255 lượt xem
Xếp hạng : Di tích cấp quốc gia
Di tích lịch sử Pháo đài Láng
Nằm trên phố Pháo Đài Láng, phường Láng Thượng, thành phố Hà Nội, Di tích lịch sử Pháo đài Láng là nơi ghi dấu những phát pháo đầu tiên mở màn cuộc Toàn quốc kháng chiến chống thực dân Pháp vào tối ngày 19/12/1946. Đây cũng là nơi lập nên chiến công đầu tiên của Binh chủng Pháo binh Quân đội nhân dân Việt Nam, trở thành một "địa chỉ đỏ" có ý nghĩa đặc biệt trong lịch sử đấu tranh bảo vệ nền độc lập của dân tộc. Pháo đài được thực dân Pháp xây dựng vào năm 1941 trên cánh đồng làng Láng Trung với mục đích phòng thủ Hà Nội. Ban đầu, công trình được trang bị bốn khẩu pháo cao xạ cỡ 75 mm cùng hệ thống đài chỉ huy kiên cố. Sau cuộc đảo chính Pháp của phát xít Nhật năm 1945 và thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám, lực lượng quân giới Việt Nam đã thu thập, sửa chữa và khôi phục các khẩu pháo để phục vụ nhiệm vụ bảo vệ chính quyền cách mạng. Ngày 29/6/1946, đơn vị pháo binh đầu tiên của Quân đội Việt Nam được thành lập. Pháo đài Láng trở thành một trong những trận địa pháo quan trọng bảo vệ Thủ đô, nơi các chiến sĩ pháo binh ngày đêm khẩn trương chuẩn bị cho nhiệm vụ chiến đấu trong bối cảnh tình hình Hà Nội ngày càng căng thẳng. Tối 19/12/1946, sau khi tín hiệu mở đầu cuộc Toàn quốc kháng chiến được phát đi, từ Pháo đài Láng, những loạt pháo đầu tiên đã đồng loạt nã vào các vị trí quân Pháp trong thành Hà Nội. Tiếng pháo vang lên không chỉ mở màn cho cuộc kháng chiến trường kỳ chống thực dân Pháp mà còn đánh dấu sự ra đời và trưởng thành của Binh chủng Pháo binh Việt Nam. Trong suốt 60 ngày đêm chiến đấu bảo vệ Hà Nội, các chiến sĩ tại Pháo đài Láng đã cùng quân và dân Thủ đô kiên cường chiến đấu, góp phần kìm chân địch, tạo điều kiện để Trung ương Đảng, Chính phủ và các cơ quan đầu não rút lên căn cứ an toàn, chuẩn bị cho cuộc kháng chiến lâu dài. Sau chiến tranh, dấu tích của pháo đài không còn nguyên vẹn do quá trình đô thị hóa. Tuy nhiên, khẩu pháo 75 mm cùng một phần trận địa đã được bảo tồn và tôn tạo trong khuôn viên di tích. Nơi đây còn có phòng trưng bày giới thiệu hình ảnh, tư liệu và hiện vật về lịch sử hình thành của Pháo đài Láng, những ngày đầu Toàn quốc kháng chiến và truyền thống của Binh chủng Pháo binh Quân đội nhân dân Việt Nam. Năm 1986, Pháo đài Láng được thành phố Hà Nội xếp hạng Di tích lịch sử, và đến năm 1992 được Nhà nước công nhận là Di tích lịch sử cấp Quốc gia. Công trình tiếp tục được trùng tu, tôn tạo trong các năm 1994–1995 và 2006, góp phần gìn giữ những giá trị lịch sử quý báu cho các thế hệ mai sau. Ngày nay, Di tích lịch sử Pháo đài Láng là điểm đến ý nghĩa đối với những người yêu lịch sử, đặc biệt là thế hệ trẻ. Không chỉ lưu giữ ký ức về những ngày đầu Toàn quốc kháng chiến, nơi đây còn là biểu tượng của ý chí kiên cường, tinh thần quyết chiến quyết thắng và truyền thống anh hùng của Binh chủng Pháo binh Quân đội nhân dân Việt Nam. Nguồn: Hà Nội Danh thắng và Di tích (tổng hợp)
Hà Nội
697 lượt xem
Xếp hạng : Di tích cấp quốc gia
Nhà lưu niệm Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Vạn Phúc
Nằm tại phường Vạn Phúc, thành phố Hà Nội, Nhà lưu niệm Chủ tịch Hồ Chí Minh là nơi Người sống và làm việc từ ngày 3/12 đến ngày 19/12/1946, trước khi ra Lời kêu gọi Toàn quốc kháng chiến. Đây là một trong những di tích lịch sử đặc biệt, ghi dấu thời khắc mở đầu cuộc kháng chiến trường kỳ chống thực dân Pháp của dân tộc Việt Nam. Ngôi nhà vốn thuộc sở hữu của gia đình cụ Nguyễn Văn Dương, một gia đình có truyền thống yêu nước tại làng lụa Vạn Phúc. Với vị trí thuận lợi, vừa gần Hà Nội, vừa đảm bảo bí mật và an toàn, nơi đây được Trung ương Đảng lựa chọn làm địa điểm ở và làm việc của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong những ngày tình hình đất nước hết sức căng thẳng. Trong thời gian ở Vạn Phúc, ban ngày Chủ tịch Hồ Chí Minh vẫn vào Hà Nội để làm việc với Chính phủ, tiếp các đoàn khách quốc tế và chỉ đạo công việc, còn buổi tối trở về ngôi nhà này để nghiên cứu tình hình, họp với Thường vụ Trung ương Đảng và chuẩn bị những quyết sách quan trọng cho vận mệnh đất nước. Giữa tháng 12/1946, trước những hành động leo thang xâm lược của thực dân Pháp, Trung ương Đảng đã nhiều lần họp tại Vạn Phúc để quyết định chủ trương phát động toàn quốc kháng chiến. Chính tại căn phòng trên tầng hai của ngôi nhà, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã soạn thảo và hoàn thiện Lời kêu gọi Toàn quốc kháng chiến, văn kiện lịch sử mở đầu cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp với lời hiệu triệu bất hủ: "Chúng ta thà hy sinh tất cả, chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ." Tối ngày 19/12/1946, Lời kêu gọi Toàn quốc kháng chiến được phát đi trên Đài Tiếng nói Việt Nam, mở đầu cuộc kháng chiến trường kỳ kéo dài chín năm và đi đến thắng lợi bằng Chiến thắng Điện Biên Phủ năm 1954. Sự kiện này đánh dấu bước ngoặt quan trọng trong lịch sử dân tộc, thể hiện ý chí kiên cường và khát vọng độc lập, tự do của nhân dân Việt Nam. Gia đình cụ Nguyễn Văn Dương đã tuyệt đối giữ bí mật, tạo mọi điều kiện để Chủ tịch Hồ Chí Minh làm việc an toàn trong suốt thời gian lưu lại. Trước khi rời Vạn Phúc, Người đã cảm ơn gia đình và động viên nhân dân tích cực ủng hộ cuộc kháng chiến, thể hiện niềm tin mãnh liệt vào thắng lợi của dân tộc. Ngày nay, Nhà lưu niệm Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Vạn Phúc vẫn được bảo tồn gần như nguyên vẹn. Tầng hai của ngôi nhà lưu giữ căn phòng làm việc cùng nhiều hiện vật gốc gắn với những ngày Chủ tịch Hồ Chí Minh sống và làm việc tại đây; tầng một là không gian trưng bày tư liệu, hình ảnh về sự kiện Toàn quốc kháng chiến và truyền thống cách mạng của địa phương. Trong hành trình khám phá Hà Nội, Nhà lưu niệm Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Vạn Phúc là nơi giúp mỗi người thêm hiểu và trân trọng những hy sinh, quyết tâm của dân tộc trong hành trình giành và giữ vững nền độc lập. Nguồn: Hà Nội Danh thắng và Di tích (tổng hợp).
Hà Nội
212 lượt xem
Xếp hạng : Di tích cấp quốc gia
Di tích lịch sử Bắc Bộ Phủ
Di tích lịch sử Bắc Bộ Phủ Tọa lạc tại số 2 phố Lê Thạch, phường Hoàn Kiếm, thành phố Hà Nội, Bắc Bộ Phủ là một trong những di tích lịch sử đặc biệt gắn liền với những ngày đầu thành lập nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Đây là nơi Chủ tịch Hồ Chí Minh và Chính phủ lâm thời làm việc sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945, đồng thời chứng kiến nhiều sự kiện quan trọng trong quá trình xây dựng và bảo vệ chính quyền cách mạng non trẻ. Công trình được người Pháp xây dựng vào năm 1918 theo phong cách kiến trúc Pháp cổ, ban đầu là Phủ Thống sứ Bắc Kỳ – cơ quan hành chính cao nhất của chính quyền thực dân tại Bắc Kỳ. Sau cuộc đảo chính Pháp của phát xít Nhật vào tháng 3/1945, công trình được đổi tên thành Phủ Khâm sai Bắc Kỳ. Ngày 19/8/1945, trong khí thế sục sôi của Cách mạng Tháng Tám, hàng vạn quần chúng từ cuộc mít tinh tại Quảng trường Nhà hát Lớn đã tiến về chiếm Phủ Khâm sai. Sự kiện giành chính quyền tại đây trở thành một trong những dấu mốc tiêu biểu của cuộc Tổng khởi nghĩa ở Hà Nội, góp phần đưa Cách mạng Tháng Tám đến thắng lợi và mở đường cho sự ra đời của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Sau thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám, công trình được đổi tên thành Bắc Bộ Phủ. Từ cuối tháng 8 năm 1945 đến trước ngày Toàn quốc kháng chiến, Chủ tịch Hồ Chí Minh cùng Chính phủ lâm thời đã làm việc tại đây, đưa ra nhiều quyết sách quan trọng về xây dựng bộ máy nhà nước, đối nội, đối ngoại và chuẩn bị cho công cuộc bảo vệ nền độc lập vừa giành được. Đặc biệt, ngày 20/12/1946, Bắc Bộ Phủ trở thành một trong những điểm chiến đấu ác liệt nhất trong những ngày đầu của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp. Các chiến sĩ Vệ quốc đoàn đã anh dũng chiến đấu bảo vệ cơ quan đầu não của Chính phủ, góp phần mở đầu cuộc kháng chiến trường kỳ của dân tộc. Sau khi Thủ đô được giải phóng năm 1954, công trình được tu sửa và trở thành Nhà khách Chính phủ, tiếp tục phục vụ các hoạt động đối nội, đối ngoại của Nhà nước. Năm 2005, Bắc Bộ Phủ được gắn biển Di tích lịch sử cách mạng, ghi nhận những giá trị đặc biệt về lịch sử và kiến trúc. Không chỉ mang giá trị lịch sử, Bắc Bộ Phủ còn là công trình kiến trúc Pháp tiêu biểu với thiết kế trang nhã, hài hòa cùng không gian hồ Hoàn Kiếm và Quảng trường Cách mạng Tháng Tám. Trải qua hơn một thế kỷ, công trình vẫn lưu giữ nhiều dấu ấn của thời kỳ đầu lập quốc và là chứng nhân của những biến cố quan trọng trong lịch sử dân tộc. Ngày nay, Bắc Bộ Phủ là một trong những "địa chỉ đỏ" tiêu biểu của Thủ đô Hà Nội. Việc bảo tồn, tôn tạo và phát huy giá trị của di tích không chỉ góp phần gìn giữ ký ức lịch sử mà còn giúp giáo dục truyền thống yêu nước, tinh thần cách mạng cho các thế hệ hôm nay và mai sau. Đối với du khách yêu lịch sử, Bắc Bộ Phủ là điểm đến ý nghĩa để tìm hiểu về những ngày đầu hình thành Nhà nước Việt Nam hiện đại và hành trình bảo vệ nền độc lập của dân tộc. Nguồn: Báo Tuổi Trẻ
Hà Nội
634 lượt xem
Xếp hạng : Di tích cấp quốc gia đặc biệt
Nhà số 48 Hàng Ngang
Di tích lịch sử 48 Hàng Ngang – Nơi Chủ tịch Hồ Chí Minh viết Tuyên ngôn Độc lập Tọa lạc tại số 48 phố Hàng Ngang, phường Hoàn Kiếm, thành phố Hà Nội, ngôi nhà lịch sử 48 Hàng Ngang là nơi Chủ tịch Hồ Chí Minh đã viết bản Tuyên ngôn Độc lập, văn kiện lịch sử khai sinh nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa vào ngày 2/9/1945. Đây là một trong những di tích tiêu biểu gắn liền với cuộc đời và sự nghiệp của Người, đồng thời là "địa chỉ đỏ" có ý nghĩa đặc biệt trong lịch sử cách mạng Việt Nam. Ngôi nhà thuộc sở hữu của vợ chồng doanh nhân yêu nước Trịnh Văn Bô và Hoàng Thị Minh Hồ, những người có nhiều đóng góp cho sự nghiệp cách mạng. Nằm giữa khu phố cổ Hà Nội, thông ra hai mặt phố Hàng Ngang và Hàng Cân, ngôi nhà có vị trí thuận lợi, kiến trúc kiên cố và đảm bảo bí mật, an toàn. Chính vì vậy, từ ngày 25/8 đến 2/9/1945, nơi đây được chọn làm địa điểm ở và làm việc của Chủ tịch Hồ Chí Minh cùng Ban Thường vụ Trung ương Đảng. Tại tầng hai của ngôi nhà, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chủ trì nhiều cuộc họp quan trọng, quyết định các chủ trương về đối nội, đối ngoại, thành lập Chính phủ lâm thời và chuẩn bị cho Lễ Độc lập. Đặc biệt, chính tại căn phòng này, Người đã hoàn thành bản Tuyên ngôn Độc lập – văn kiện lịch sử tuyên bố trước toàn thế giới về sự ra đời của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Ngày 2/9/1945, tại Quảng trường Ba Đình lịch sử, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã trịnh trọng đọc bản Tuyên ngôn Độc lập trước hơn nửa triệu đồng bào, chính thức khai sinh nhà nước công nông đầu tiên ở Đông Nam Á, chấm dứt hàng nghìn năm chế độ phong kiến và gần một thế kỷ đô hộ của thực dân, mở ra kỷ nguyên mới của dân tộc – kỷ nguyên độc lập, tự do và xây dựng đất nước. Hiện nay, tầng một của ngôi nhà là không gian trưng bày nhiều tài liệu, hình ảnh và hiện vật quý liên quan đến Chủ tịch Hồ Chí Minh, Cách mạng Tháng Tám và sự ra đời của bản Tuyên ngôn Độc lập; tầng hai vẫn được gìn giữ gần như nguyên trạng với các hiện vật gốc, giúp du khách hình dung rõ hơn về những ngày lịch sử mùa thu năm 1945. Ngày nay, Di tích lịch sử 48 Hàng Ngang là điểm đến thu hút đông đảo du khách trong nước và quốc tế. Không chỉ mang giá trị lịch sử to lớn, nơi đây còn góp phần giáo dục truyền thống yêu nước, lòng tự hào dân tộc và tinh thần cách mạng cho các thế hệ hôm nay và mai sau. Trong hành trình khám phá Hà Nội, ngôi nhà số 48 Hàng Ngang là điểm dừng chân ý nghĩa để mỗi người hiểu hơn về thời khắc khai sinh nước Việt Nam độc lập và những dấu ấn bất diệt trong lịch sử dân tộc. Nguồn: Ban Quản lý Di tích danh thắng Hà Nội (tổng hợp).
Hà Nội
613 lượt xem
Xếp hạng : Di tích cấp quốc gia đặc biệt
Miếu Tổ nghề Yến Cù Lao Chàm
Nằm tại thôn Bãi Hương, xã Tân Hiệp, Cù Lao Chàm (thành phố Đà Nẵng), Miếu Tổ nghề Yến (Yến Nghệ Tổ Miếu) là di tích tín ngưỡng đặc sắc, gắn liền với lịch sử hình thành và phát triển nghề khai thác yến sào Thanh Châu – một nghề truyền thống có lịch sử từ thế kỷ XVI. Không chỉ là nơi thờ các bậc tiền nhân khai sáng nghề yến, di tích còn phản ánh sự gắn bó bền chặt giữa cư dân vùng biển đảo với tài nguyên thiên nhiên và chủ quyền biển đảo Việt Nam. Miếu được xây dựng quy mô vào năm 1848 (năm Tự Đức thứ nhất) do ông Hồ Văn Hòa cùng các chức dịch làng Thanh Châu đứng ra xây dựng để thờ Tổ nghề khai thác yến và các vị thần bảo hộ nghề. Theo nhiều tư liệu lịch sử, từ thời Gia Long, ông Hồ Văn Hòa được giao quản lý việc khai thác yến sào tại Cù Lao Chàm và được các thế hệ sau tôn vinh là Tổ nghề yến. Di tích được xây dựng trên một gò cát cách bờ biển Bãi Hương khoảng 150 m, mặt tiền hướng ra biển. Kiến trúc mang đậm phong cách truyền thống với cổng tam quan, bình phong kiểu cuốn thư, hai nếp nhà liên hoàn lợp ngói âm dương cùng hệ thống cột kèo bằng gỗ được chạm khắc tinh xảo. Không gian thờ tự lưu giữ nhiều hiện vật quý như hoành phi, khám thờ sơn son thếp vàng, bài vị các bậc tiền hiền và bia đá thời Tự Đức, phản ánh giá trị lịch sử, nghệ thuật và tín ngưỡng của cộng đồng cư dân biển. Đến với Miếu Tổ nghề Yến, du khách không chỉ được tìm hiểu về lịch sử nghề khai thác yến sào – một nghề truyền thống nổi tiếng của Cù Lao Chàm, mà còn có cơ hội khám phá đời sống văn hóa của ngư dân Bãi Hương, lắng nghe những câu chuyện, truyền thuyết về nghề yến và cảm nhận sự gắn kết giữa con người với biển đảo qua nhiều thế hệ. Hằng năm, vào ngày 10 tháng 3 âm lịch, lễ Giỗ Tổ nghề Yến được tổ chức trang trọng tại di tích nhằm tưởng nhớ công lao các bậc tiền nhân, cầu mong mùa khai thác thuận lợi, bình an và bội thu. Ngày nay, lễ hội còn kết hợp với nhiều hoạt động văn hóa, du lịch, góp phần quảng bá nghề khai thác yến sào Thanh Châu – Di sản văn hóa phi vật thể quốc gia, đồng thời nâng cao ý thức bảo tồn tài nguyên thiên nhiên và phát huy giá trị của Khu Dự trữ sinh quyển thế giới Cù Lao Chàm – Hội An. Theo báo mới
Đà Nẵng
386 lượt xem
Xếp hạng : Di tích cấp quốc gia
Giếng cổ Xóm Cấm
Giếng cổ Xóm Cấm – Dấu ấn văn hóa Chăm giữa lòng Cù Lao Chàm Nằm tại thôn Cấm, Hội An, Đà Năng, Giếng cổ Xóm Cấm là một trong những công trình kiến trúc cổ tiêu biểu của Cù Lao Chàm, gắn liền với lịch sử hình thành và phát triển của cư dân trên đảo suốt nhiều thế kỷ. Đây không chỉ là nguồn nước ngọt quý giá mà còn là minh chứng sinh động cho sự giao thoa văn hóa giữa người Chăm và người Việt trên tuyến thương cảng quốc tế Hội An. Các kết quả khảo cổ học cho thấy Cù Lao Chàm đã có cư dân sinh sống từ hơn 3.000 năm trước. Đến các thế kỷ VII – X, nơi đây trở thành địa bàn cư trú của người Chăm, đồng thời là điểm dừng chân quan trọng trên tuyến hàng hải quốc tế, nơi diễn ra hoạt động giao thương sôi động với các thương nhân từ Trung Quốc, Trung Đông và nhiều quốc gia khác. Sau thế kỷ XVII, cộng đồng người Việt đến sinh sống, tiếp tục kế thừa, gìn giữ và sử dụng các công trình do người Chăm xây dựng, trong đó có hệ thống giếng cổ. Giếng Xóm Cấm mang đậm phong cách kiến trúc Chăm với miệng giếng đường kính khoảng 1,18 m, sâu 4,5 m, lòng giếng xây bằng gạch theo dạng "cổ áo" (vành khăn), kết dính bằng vữa vôi truyền thống. Đặc biệt, dưới đáy giếng còn lưu giữ hệ thống bốn thanh gỗ lim ghép thành hình vuông, góp phần gia cố nền móng và bảo đảm độ bền vững của công trình qua hàng trăm năm. Theo nhiều tư liệu cổ, trong thời kỳ hưng thịnh của thương cảng Hội An, các thương thuyền quốc tế thường ghé Cù Lao Chàm để bổ sung lương thực và lấy nước ngọt từ các giếng cổ trên đảo trước khi tiếp tục hành trình. Đến ngày nay, Giếng Xóm Cấm vẫn luôn đầy nước, trong xanh và mát lành quanh năm, tiếp tục phục vụ đời sống sinh hoạt của người dân địa phương, trở thành biểu tượng của sự trường tồn và sức sống bền bỉ giữa biển khơi. Không chỉ mang giá trị lịch sử và kiến trúc, Giếng cổ Xóm Cấm còn phản ánh quá trình kế thừa và hòa quyện văn hóa giữa các cộng đồng cư dân trên đảo, góp phần làm nên bản sắc độc đáo của Khu dự trữ sinh quyển thế giới Cù Lao Chàm – Hội An. Với những giá trị đặc biệt về lịch sử, khảo cổ và văn hóa, Giếng cổ Xóm Cấm được Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch xếp hạng Di tích lịch sử cấp quốc gia năm 2006. Ngày nay, đây là điểm tham quan hấp dẫn, nơi du khách có thể tìm hiểu về lịch sử lâu đời của Cù Lao Chàm, khám phá dấu ấn văn minh Chăm Pa và cảm nhận nét đẹp bình yên của hòn đảo giữa biển Đông. Theo Đô thị cổ Hội An
Đà Nẵng
827 lượt xem
Xếp hạng : Di tích cấp quốc gia
Di tích lịch sử cách mạng Cái Ngang
Di tích lịch sử cách mạng Cái Ngang nằm tại ấp 4, Phú Lộc, Tam Bình, tỉnh Vĩnh Long, cách trung tâm thành phố Vĩnh Long khoảng 25 km. Được xây dựng trên chính nền căn cứ cách mạng của Tỉnh ủy Vĩnh Long trong giai đoạn 1966 – 1975, nơi đây là một "địa chỉ đỏ" giàu giá trị lịch sử, tái hiện chân thực cuộc sống, chiến đấu của quân và dân Vĩnh Long trong những năm kháng chiến chống Mỹ cứu nước. Trong thời kỳ chiến tranh, Cái Ngang là nơi đặt cơ quan đầu não của Tỉnh ủy Vĩnh Long, từ đây lãnh đạo phong trào cách mạng trong tỉnh, góp phần làm nên thắng lợi của Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968 và Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử mùa Xuân năm 1975, giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước. Khu di tích ngày nay tái hiện sinh động hệ thống căn cứ giữa rừng với các hạng mục như hội trường, nhà thường trực, nhà thông tin, nhà ăn, nhà bảo vệ cùng nhiều công sự, hầm bí mật, hầm chông, hầm phòng thủ và những chiếc cầu chông đặc trưng của vùng sông nước Nam Bộ. Mỗi công trình đều phản ánh sự sáng tạo, mưu trí của cán bộ, chiến sĩ trong việc xây dựng căn cứ bí mật, thích ứng với điều kiện chiến đấu gian khổ nhưng vẫn đảm bảo chỉ huy và bảo vệ lực lượng. Đến với Cái Ngang, du khách còn được tìm hiểu nhiều hiện vật, mô hình sinh hoạt và lao động của cán bộ cách mạng, từ những bộ bàn ghế đa năng, bếp Hoàng Cầm giản dị đến những câu chuyện về cuộc sống thiếu thốn nhưng đầy ý chí, nghị lực của thế hệ đi trước. Qua đó, càng thêm trân trọng sự hy sinh, lòng dũng cảm và tinh thần đoàn kết của quân và dân Vĩnh Long trong sự nghiệp đấu tranh giành độc lập dân tộc. Trong khuôn viên di tích còn có Tượng đài Mẹ Việt Nam Anh hùng Nguyễn Thị Ngọt – người mẹ tiêu biểu của tỉnh Vĩnh Long có chồng và sáu người con anh dũng hy sinh trong hai cuộc kháng chiến. Công trình là biểu tượng của lòng biết ơn, sự tri ân đối với những người mẹ đã cống hiến, hy sinh to lớn cho Tổ quốc. Không chỉ mang giá trị lịch sử, Di tích lịch sử cách mạng Cái Ngang còn gây ấn tượng bởi không gian sinh thái xanh mát với hệ thực vật đặc trưng của vùng Đồng bằng sông Cửu Long. Những hàng trâm bầu, gõ nước, đủng đỉnh, dây leo cùng các ao, rạch tự nhiên tạo nên khung cảnh yên bình, giúp du khách vừa tìm hiểu lịch sử vừa hòa mình vào thiên nhiên miệt vườn. Với những giá trị đặc biệt về lịch sử, văn hóa và giáo dục truyền thống, năm 2016, Di tích lịch sử cách mạng Cái Ngang được Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch xếp hạng Di tích lịch sử cấp quốc gia. Ngày nay, nơi đây là điểm đến ý nghĩa dành cho du khách, học sinh, sinh viên và các thế hệ trẻ đến tham quan, tìm hiểu lịch sử, bồi đắp lòng yêu nước và niềm tự hào dân tộc. Theo tour Vĩnh Long
Vĩnh Long
346 lượt xem
Xếp hạng : Di tích cấp quốc gia
Di tích hang Hỏa Tiễn
Hang Hỏa Tiễn là di tích lịch sử quốc gia nằm tại phường Hoàng Mai, tỉnh Nghệ An, ghi dấu sự hy sinh anh dũng của 33 thanh niên xung phong Tổ 4, đơn vị C271, Đội 27 trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước. Đây là một "địa chỉ đỏ" thiêng liêng, nhắc nhớ về tinh thần quả cảm và sự cống hiến của những người trẻ đã ngã xuống vì độc lập, tự do của Tổ quốc. Ngày 28/4/1966, khi đang làm nhiệm vụ khai thác đá, san lấp và bảo vệ tuyến đường sắt Bắc – Nam tại khu vực ga Hoàng Mai, các chiến sĩ bất ngờ gặp trận không kích ác liệt của máy bay Mỹ. Trong lúc trú ẩn tại một hang đá, hai quả tên lửa (rocket) bắn trúng cửa hang, khiến khối lượng lớn đất đá sụp xuống, chôn vùi các chiến sĩ bên trong. Sau nhiều giờ cứu hộ, 33 thanh niên xung phong đã anh dũng hy sinh, phần lớn khi tuổi đời mới mười sáu, mười bảy, đôi mươi. Từ sự kiện bi tráng ấy, hang đá được nhân dân gọi bằng cái tên đầy xúc động Hang Hỏa Tiễn. Trong những năm tháng chiến tranh, khu vực Hoàng Mai là cửa ngõ giao thông chiến lược của miền Bắc với hệ thống đường bộ, đường sắt và đường thủy quan trọng phục vụ chi viện cho chiến trường miền Nam. Các địa danh như ga Hoàng Mai, cầu Hoàng Mai, cầu Rí hay mỏ đá Hoàng Mai thường xuyên trở thành mục tiêu đánh phá ác liệt của không quân Mỹ. Dù phải đối mặt với bom đạn, thiếu thốn và hiểm nguy, những thanh niên xung phong vẫn kiên cường bám trụ với tinh thần "Sống bám cầu, bám đường; chết kiên cường dũng cảm", quyết tâm giữ vững huyết mạch giao thông. Sự hy sinh của 33 thanh niên xung phong đã trở thành biểu tượng sáng ngời của chủ nghĩa anh hùng cách mạng và tinh thần cống hiến của tuổi trẻ Việt Nam. Năm 2003, các anh, chị được Nhà nước truy tặng danh hiệu Liệt sĩ và cấp Bằng Tổ quốc ghi công. Đến năm 2011, Cụm di tích Hang Hỏa Tiễn và Nghĩa trang Liệt sĩ Đường sắt được xếp hạng Di tích lịch sử quốc gia, trở thành nơi tri ân các anh hùng liệt sĩ và giáo dục truyền thống yêu nước cho các thế hệ hôm nay. Ngày nay, Hang Hỏa Tiễn là điểm đến mang ý nghĩa lịch sử và nhân văn sâu sắc. Đến đây, du khách không chỉ được tìm hiểu về một giai đoạn hào hùng của dân tộc mà còn cảm nhận rõ hơn giá trị của hòa bình, độc lập và sự hy sinh to lớn của những thế hệ đi trước vì tương lai của đất nước. Theo báo nhân dân điện tử
Nghệ An
894 lượt xem
Xếp hạng : Di tích cấp quốc gia
Di tích Chiến thắng Đèo Nhông – Dương Liễu
Di tích Chiến thắng Đèo Nhông – Dương Liễu là địa chỉ đỏ tiêu biểu của tỉnh Gia Lai, ghi dấu một trong những chiến công vang dội của quân và dân Khu 5 trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước. Trận đánh diễn ra vào đêm 6 rạng sáng 7/2/1965 (mùng 5 tháng Giêng năm Ất Tỵ) trên địa bàn nay thuộc xã Bình Dương, tỉnh Gia Lai, trở thành mốc son chói lọi trong lịch sử đấu tranh cách mạng của quân và dân miền Trung. Thời điểm đó, quân đội Mỹ và chính quyền Sài Gòn xây dựng hệ thống phòng thủ kiên cố tại Dương Liễu và Đèo Nhông, với nhiều đồn bốt, xe bọc thép M-113, pháo binh và máy bay yểm trợ nhằm kiểm soát tuyến giao thông chiến lược, ngăn chặn phong trào cách mạng. Trước tình hình đó, dưới sự chỉ đạo của Khu ủy Khu 5, Bộ Tư lệnh Quân khu 5 và Tỉnh ủy, Trung đoàn 2, Sư đoàn 3 Sao Vàng đã phối hợp chặt chẽ với lực lượng vũ trang địa phương và nhân dân tổ chức tiến công bất ngờ vào đồn Dương Liễu, sau đó phục kích trên tuyến Đèo Nhông, đánh tan lực lượng địch đến ứng cứu. Chiến thắng đã giành được kết quả to lớn khi loại khỏi vòng chiến đấu hơn 700 tên địch, bắn rơi và phá hủy 4 máy bay, tiêu diệt 10 xe bọc thép M-113, thu giữ 2 xe M-113 cùng nhiều vũ khí, trang bị quân sự. Đây là một trong những trận đánh tiêu biểu thể hiện nghệ thuật tác chiến hiệp đồng, khả năng phục kích và tiêu diệt lực lượng cơ giới hiện đại của quân giải phóng. Chiến thắng Đèo Nhông – Dương Liễu đã giáng đòn nặng nề vào chiến lược "Chiến tranh đặc biệt" của Mỹ trên chiến trường Khu 5, góp phần tạo khí thế mới cho phong trào đấu tranh cách mạng ở miền Trung. Đồng thời, chiến thắng khẳng định sự trưởng thành vượt bậc của bộ đội chủ lực và sức mạnh đoàn kết giữa quân với dân trong cuộc kháng chiến giành độc lập dân tộc. Ngày nay, di tích Chiến thắng Đèo Nhông – Dương Liễu không chỉ là nơi tưởng niệm các anh hùng liệt sĩ đã hy sinh vì Tổ quốc mà còn là điểm đến giáo dục truyền thống cách mạng, góp phần bồi đắp lòng yêu nước, niềm tự hào dân tộc và ý chí bảo vệ quê hương cho các thế hệ hôm nay và mai sau. Theo báo Gia Lai điện tử
Gia Lai
276 lượt xem
Xếp hạng : Di tích cấp quốc gia
Di tích tưởng niệm Ông Ích Đường
Di tích tưởng niệm Ông Ích Đường gắn với cuộc đời và sự hy sinh của Ông Ích Đường (1890–1908), người con của làng Phong Lệ, nay thuộc phường Hòa Thọ Tây, thành phố Đà Nẵng. Ông là cháu nội của Ông Ích Khiêm và sinh ra trong một gia đình có truyền thống yêu nước, sớm nổi tiếng là người nghĩa hiệp, giỏi văn võ và luôn đứng về phía người dân nghèo. Năm 1908, hưởng ứng phong trào chống sưu thuế Trung Kỳ, Ông Ích Đường đã lãnh đạo nhân dân Hòa Vang tham gia đấu tranh chống áp bức. Sau khi cuộc khởi nghĩa thất bại, ông bị thực dân Pháp bắt và xử chém tại chợ Túy Loan khi mới 18 tuổi. Trước khi hy sinh, khí phách hiên ngang và tinh thần bất khuất của ông đã trở thành biểu tượng của lòng yêu nước và ý chí đấu tranh vì độc lập dân tộc. Sự hy sinh của Ông Ích Đường đã gây xúc động sâu sắc trong nhân dân địa phương. Người dân đã lập miếu thờ ngay tại nơi ông tuẫn nạn để tưởng nhớ công lao và khí tiết của người chí sĩ yêu nước. Trải qua thời gian, khu vực di tích tiếp tục được gìn giữ, tôn tạo với nhà bia tưởng niệm bên cạnh cây đa lịch sử – chứng nhân gắn liền với sự kiện năm 1908. Ngày nay, Di tích tưởng niệm Ông Ích Đường là địa chỉ đỏ giáo dục truyền thống yêu nước và tinh thần đấu tranh cách mạng cho các thế hệ, đồng thời là điểm đến giúp du khách tìm hiểu về phong trào chống sưu thuế Trung Kỳ và lịch sử đấu tranh của nhân dân Đà Nẵng đầu thế kỷ XX. Theo: Báo Đà Nẵng
Đà Nẵng
741 lượt xem
Xếp hạng : Di tích cấp quốc gia
Khu căn cứ cách mạng Huyện ủy Hòa Vang
Khu căn cứ cách mạng Huyện ủy Hòa Vang nằm tại khu vực tam giác núi Phú Túc – Ô Rây – Tống Cói, thuộc phường Hòa Vang. Với địa hình rừng núi hiểm trở, nơi đây từng là căn cứ địa quan trọng của lực lượng cách mạng trong hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ. Từ những năm 1947–1949, khu vực Đồng Xanh – Đồng Nghệ được lựa chọn làm nơi đặt cơ quan lãnh đạo của Huyện ủy Hòa Vang. Đến năm 1955, Tỉnh ủy Quảng Đà xây dựng căn cứ cách mạng cánh Tây Hòa Vang (mật danh B1), biến nơi đây thành trung tâm chỉ đạo phong trào cách mạng của khu vực phía tây và tây bắc. Trong thời gian này, Hòn đá Đà Nẵng và Hòn đá Non Nước trở thành những biểu tượng thiêng liêng của tinh thần yêu nước và ý chí đấu tranh kiên cường. Từ năm 1960, khu vực tam giác Phú Túc – Ô Rây – Tống Cói tiếp tục được chọn làm căn cứ địa kháng chiến của Huyện ủy Hòa Vang. Đây là nơi làm việc, chỉ đạo và hoạt động của nhiều cán bộ lãnh đạo huyện, đồng thời là địa điểm tổ chức các hội nghị, đại hội Đảng bộ, huấn luyện quân sự và chính trị cho lực lượng cách mạng trong những năm kháng chiến chống Mỹ. Địa hình rừng núi hiểm trở đã góp phần che chở, bảo vệ các cơ quan đầu não trước nhiều cuộc càn quét của đối phương. Trong suốt hai cuộc kháng chiến, Khu căn cứ cách mạng Huyện ủy Hòa Vang giữ vai trò là trung tâm lãnh đạo, chỉ huy và hậu cứ quan trọng của phong trào cách mạng địa phương, gắn liền với nhiều sự kiện lịch sử và hoạt động của các cán bộ lãnh đạo cấp tỉnh, khu và huyện. Để gìn giữ những giá trị lịch sử đó, khu di tích đã được đầu tư xây dựng nhà trưng bày, bia tưởng niệm cùng các hạng mục phục vụ tham quan. Ngày nay, nơi đây trở thành địa chỉ đỏ giáo dục truyền thống yêu nước, tưởng nhớ các thế hệ cách mạng đi trước và là điểm đến giúp du khách tìm hiểu về lịch sử đấu tranh anh dũng của quân và dân Hòa Vang trong sự nghiệp giải phóng dân tộc. Theo: Báo Đà Nẵng
Đà Nẵng
287 lượt xem
Xếp hạng : Di tích cấp quốc gia
Hải Vân Quan
Hải Vân Quan là công trình quân sự phòng thủ được xây dựng vào năm 1826, dưới triều vua Minh Mạng. Di tích nằm trên đỉnh Đèo Hải Vân ở độ cao khoảng 496 m so với mực nước biển, tại ranh giới giữa thành phố Huế và thành phố Đà Nẵng. Đây là vị trí chiến lược trên tuyến giao thông Bắc – Nam, đồng thời là cửa ngõ bảo vệ kinh đô Huế từ phía nam. Từ thời các chúa Nguyễn, đèo Hải Vân đã được xem là vùng đất hiểm yếu, giữ vai trò quan trọng về quân sự và phòng thủ. Khi nhà Nguyễn chọn Huế làm kinh đô, nơi đây càng được coi là "yết hầu" của đất nước. Chính vì vậy, vua Minh Mạng đã cho xây dựng Hải Vân Quan nhằm kiểm soát con đường thiên lý và tăng cường bảo vệ kinh thành. Công trình gồm hai cổng thành lớn xây bằng gạch đá theo kiến trúc vòm cuốn. Cổng quay về phía Đà Nẵng khắc ba chữ "Hải Vân Quan", còn cổng hướng về Huế khắc sáu chữ "Thiên hạ đệ nhất hùng quan" – lời ca ngợi vẻ đẹp hùng vĩ và vị thế hiểm yếu của đèo Hải Vân. Bao quanh cửa quan là hệ thống tường thành kiên cố cùng các hạng mục quân sự như đồn trú, kho vũ khí và vị trí quan sát. Trải qua nhiều biến động lịch sử, đặc biệt trong thời kỳ Pháp thuộc và chiến tranh, Hải Vân Quan bị cải tạo thành cứ điểm quân sự, nhiều hạng mục kiến trúc gốc bị phá hủy hoặc xuống cấp. Đến năm 2017, di tích được xếp hạng Di tích quốc gia, và từ năm 2021, Huế và Đà Nẵng đã phối hợp triển khai dự án trùng tu, phục hồi các hạng mục quan trọng, góp phần khôi phục diện mạo vốn có của công trình. Ngày nay, Hải Vân Quan không chỉ là di tích lịch sử có giá trị đặc biệt mà còn là điểm dừng chân nổi tiếng trên cung đường đèo Hải Vân. Từ đây, du khách có thể phóng tầm mắt ngắm toàn cảnh núi non, biển cả và một trong những cung đường ven biển đẹp nhất Việt Nam. Với giá trị lịch sử, kiến trúc và cảnh quan độc đáo, Hải Vân Quan là điểm đến không thể bỏ qua trong hành trình khám phá miền Trung. Theo: Thông tấn xã Việt Nam
Đà Nẵng
834 lượt xem
Xếp hạng : Di tích cấp quốc gia
Mộ ông Banjiro - thương nhân Nhật Bản
Mộ ông Banjiro - thương nhân Nhật Bản - Khối Trường Lệ - Xã Cẩm Hà Ông Banjiro là một thương gia Nhật Bản mất tại Hội An. Mộ ở gần đường từ phố cổ đi xuống biển An Bàng và còn giữ được những dấu vết nguyên thuỷ xây dựng từ thế kỷ XVII. Bia mộ có niên đại 1665. Phía sau mộ có một tấm bia bằng xi măng khắc chìm chữ Nhật, nội dung như sau: “Năm Chiêu Hoà thứ 3 (1928) theo đề xuất của giáo sư văn học Kuroita Katsumi, tập thể người Nhật cư trú tại Đông Dương (nay là Việt Nam, Campuchia, Lào) đề nghị ông Nakayama phụ trách giám sát việc tu sửa ngôi mộ này”. Gần đây Hội An tiếp tục tu bổ giữ gìn chu đáo ngôi mộ này. Di tích được xếp hạng di tích quốc gia năm 1991. Mộ ông Banjiro xây bằng hợp chất vôi, cát, nước vỏ cây, mật mía... Nấm mộ hình yên ngựa, quay hướng Đông Bắc, kích thước 190cm x 85cm. Trước mặt mộ có một tấm bia làm bằng đá muối, hai bên có 2 hàng chữ. Trước đây ngôi mộ này không có người trông nom, tu sửa. Sau khi Bộ Văn hóa ra quyết định công nhận Khu phố cổ Hội An, khu mộ này thường xuyên được Ban Quản lý Di tích Hội An quan tâm bảo quản và tu sửa. Hiện tại ngôi mộ được gia đình ông Nguyễn Nước thường xuyên trông nom, thắp hương. Di tích góp phần làm sáng tỏ quá trình hình thành Khu phố cổ Hội An, nhất là thời kỳ thương nhân Nhật Bản đến Hội An trao đổi buôn bán. Nguồn: Đô thị cổ Hội An
Đà Nẵng
264 lượt xem
Xếp hạng : Di tích cấp quốc gia
Khu di tích Đặc Khu ủy Quảng Đà
Khu di tích Đặc Khu ủy Quảng Đà Hòn Tàu là dãy núi giáp ranh giữa Duy Xuyên, Nông Sơn và Quế Sơn. Với vị trí chiến lược, nơi đây đã được Đặc Khu ủy Quảng Đà chọn làm căn cứ cách mạng trong 8 năm cuối cuộc chiến chống Mỹ (1967-1975). Với quyết tâm “Tất cả cho tổng công kích, tất cả cho tổng khởi nghĩa Xuân Mậu Thân 1968”, Đặc Khu ủy Quảng Đà chủ trương chỉ đạo tập trung huy động mọi lực lượng chuẩn bị nổi dậy. Căn cứ Hòn Tàu là nơi quan và dân ta chịu nhiều hy sinh, mất mát. Nhiều đồng chí là lãnh đạo Đặc Khu ủy và hàng trăm cán bộ, chiến sĩ đã anh dũng hy sinh. Đặc biệt, có 10 cán bộ, nhân viên của Ban Tuyên huấn hy sinh do bị bom B52 của Mỹ đánh sập nơi ở và làm việc vào sáng 22/5/1972. Mặc dù chịu nhiều hy sinh, mất mát, cán bộ, chiến sĩ Đặc Khu ủy Quảng Đà vẫn vững vàng tiếp tục thực hiện việc chỉ đạo các cuộc tiến công chiến lược, quyết định nhiều chủ trương quan trọng, hợp đồng chặt chẽ với các cánh quân chủ lực giải phóng các huyện phía Tây của tỉnh Quảng Nam, tạo thế gọng kìm, góp phần hoàn thành chiến dịch giải phóng Đà Nẵng năm 1975. Năm 2012, di tích Hòn Tàu được Bộ VHTT&DL xếp hạng Di tích Lịch sử cấp quốc gia. Sau khi có quyết định xếp hạng di tích, Sở VHTT&DL tỉnh Quảng Nam đã lập hồ sơ trình Bộ VHTT&DL phê duyệt và triển khai lập dự án phục dựng di tích. Qua hơn 2 năm triển khai thực hiện, đến nay Khu di tích Đặc Khu ủy Quảng Đà cơ bản đã hoàn thành đúng dịp kỷ niệm 50 năm thành lập Đặc Khu ủy (tháng 10/1967 - tháng 10/2017). Nguồn: Báo Chính Phủ
Đà Nẵng
385 lượt xem
Xếp hạng : Di tích cấp quốc gia








































































